Hòa Thượng Thích Huệ Quang

10/04/201311:17(Xem: 11298)
Hòa Thượng Thích Huệ Quang


hthuequang



CÁO PHÓ

-Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh, HộI đồng Trị sự GHPGVN;

-Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Khánh Hòa;

-Môn phong Tổ đình Nghĩa Phương

-Môn Đồ Pháp Quyến chùa Đông Phước vô cùng kính tiêc báo tin:

Hòa ThượngTHÍCH HUỆ QUANG

- Thành viên Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam;

- Chứng minh Ban Trị Sự Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa;

- Huynh trưởng Môn phong Tổ đình Nghĩa Phương;

- Viện chủ chùa Đông Phước, phường Phước Long, TP. Nha Trang

Vì tuổi cao sức yếu, Hòa thượng đã thâu thần viên tịch vào lúc 01 giờ 20 ngày 29.8.2009 (nhằm ngày 10 tháng 7 năm Kỷ Sửu) tại chùa Đông Phước, Phường Phước Long, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

- Trụ thế : 83 năm

- Hạ lạp : 57 năm

-Lễ nhập kim quan chính thức cử hành vào lúc: 08 giờ 00 ngày 11.7.Kỷ sửu tức ngày 30.08.2009 – Kim quan cố Đại lão Hòa thượng được tôn trí tại chùa Đông Phước

- Lễ viếng bắt đầu vào lúc: 09 giờ 00 ngày 30.08.2009 (11.7. Kỷ Sửu)

- Lễ tưởng niệm chính thức cử hành vào lúc: 14 giờ 30 ngày 16.7.Kỷ sửu tức ngày 04.09.2009

- Lễ nghinh kim quan nhập bảo tháp vào lúc: 15 giờ ngày 16.09 2009, tức ngày 04.09.2009 tại chùa Đông Phước

Nay Cáo Phó

TM.BAN THƯỜNG TRỰC HĐCM –HĐTS GHPGVN.

BAN TRỊ SỰ TỈNH HỘI PHẬT GIÁO KHÁNH HOÀ

MÔN PHONG TỔ ĐÌNH NGHĨA PHƯƠNG

và MÔN ĐỒ PHÁP QUYẾN

PHÓ CHỦ TỊCH THƯỜNG TRỰC

(Ấn ký)

Hoà Thượng THÍCH TỪ NHƠN

hthuequang

TIỂUSỬ

CỐ ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNGTHÍCH HUỆ QUANG

(1927 - 2009)

Thành viên Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Chứng minh Ban trị sự Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hoà

Huynh Trưởng Môn phong Tổ đình Nghĩa Phương

Viện chủ Chùa Đông Phước, Phước Long, TP. Nha Trang, Khánh Hoà

THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP

Đại lão Hòa Thượng THÍCH HUỆ QUANG, húy thượngKhônghạHành, tự Từ Tâm, hiệu Huệ Quang, thuộc dòng Lâm Tế chánh tông đời thứ 41. Thế danh Dương Quyền. Ngài sinh ngày 10 tháng 01 năm Đinh Mão (1927) tại thôn Phước Hải, huyện Vĩnh Xương, tỉnh Khánh Hòa.

Thân phụ là cụ Dương Dõng, người gốc ở Gia Định, phủ Long An, tổng Long Hưng hạ, xã Phước Lợi, là một nhà Nho uyên bác, sùng kính Tam Bảo. Sinh thời thân phụ của ngài thủ chức Kinh Thơ Lại Nê Tấn Thừa Sự, tỉnh Gia Định, Hàm Bát phẩm. Hoàn cảnh Nam phần lúc bấy giờ thuộc quyền cai trị của Pháp, nên cả gia đình di tản ra Khánh Hoà, ở vùng Lục Đồn, Nha Trang.

Thân mẫu là cụ bà Huỳnh Thị Na, người ở thôn Tân Tế, phủ Ninh Hoà, Khánh Hoà. Ngài là người con thứ ba trong gia đình có 4 người con. Năm 13 tuổi Ngài đậu Sơ học Yếu lược. Năm 1939, ngài tham học Cours Prémier tại trường Kim Yến Nha Trang. Sau khi thân phụ ngài qua đời, ngài luôn cận kề bên thân mẫu để chăm dưỡng mẹ già. Mỗi lần về quê thăm mẹ, ngài thường viếng chùa Thiên Bửu Thượng (phủ Ninh Hòa) và từ đó ngài xin học đạo với Thượng Toạ Trụ trì, huý Chơn Du, Tự Chánh Thức, hiệu Nhơn Thiện và được Hoà Thượng Nhơn Hoằng hướng dẫn học đạo.

Sau khi Tổ Nhơn Thiện về Nha Trang, đảm nhiệm trụ trì chùa Đông Phước. Năm 1942 (Nhâm Ngọ) năm Ngài 15 tuổi, xin xuất gia tại đây và được Bổn sư cho pháp danh Không Hành. Lúc này vừa học đạo, vừa học Hán văn với Giáo sư Nguyễn Đức Trọng (tức Nguyễn Hoành) được gần 4 năm thì Cách mạng khởi nghĩa, nhằm vào tháng 8 năm 1945 (Ất Dậu).

Lúc bấy giờ, do chiến tranh hổn loạn, chùa Đông Phước bị giặc đốt, cả xóm gần chùa cũng bị đốt phá. Ngài đưa mẫu thân về Ninh Hòa để lánh nạn. Đến năm 1948 (Mậu Tý) mẹ Ngài qua đời.

Năm 23 tuổi, với lòng quyết chí học đạo, nên Ngài trở về lại chùa Đông Phước thọ giáo với Bổn sư là Hoà Thượng Thích Minh Huệ và được phú pháp tự là Từ Tâm.

Đến năm Nhâm Thìn (1952) 25 tuổi, Ngài thọ Cụ túc giới tại Giới đàn chùa Thiên Bửu, Ninh Hoà, do Tăng cang Hoà Thượng Thích Trí Thắng, Viện chủ chùa Thiên Hưng, Phan Rang làm Đàn đầu truyền giới.

Từ đó ngài sớm hôm học đạo với Bổn sư là HT Thích Minh Huệ. Đến năm 1959 HT Thích Minh Huệ viên tịch. Năm 1960, được Bổn tự, Bổn đạo cung thỉnh ngài làm Trụ trì chùa Đông Phước. Cũng năm đó (1960) được Hoà Thượng Thích Bích Lâm, Viện chủ Tổ đình Nghĩa Phương phú pháp nhãn tạng, đặt hiệu là Huệ Quang, pháp tử đầu tiên môn phong Nghĩa Phương.

Từ năm 1962, ngoài trách nhiệm tại Bổn tự, ngài còn tham gia công tác giáo hội:

-Năm 1962 tu bổ lại chùa Đông Phước lần thứ nhất, vì bị chiến tranh năm 1945 đốt phá hư sập.

-Năm 1966: Phó Tăng trưởng Tỉnh hội Phật gíáo Cổ truyền Khánh Hoà.

-Từ năm 1968 đến năm 1975: Ngài được suy cử làm Tăng trưởng Tĩnh hội Phật giáo Cổ truyền Khánh Hoà.

-Từ năm 1970 đến năm 1973: kiêm chức Tổng Thư Ký Ban Đại diện Phật giáo Cổ truyền Trung Phần.

-Từ năm 1972 đến năm 1975 lập Trường Tiểu học Bát Nhã nằm ở sau chùa để dạy dỗ con em Phật tử nghèo.

-Sau khi GHPGVN được thành lập, ngài được đề cử các chức vụ:

Từ năm 1982: Uỷ viên Hoằng pháp, Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Phú Khánh, nhiệm kỳ I (1982-1985) và NK II (1986-1989). Tiếp đó, ngài đảm nhiệm chức vụ Trưởng ban Hoằng pháp Ban Trị sự tỉnh hội Phật giáo Khánh Hoà, nhiệm kỳ 1991-1994 và lưu nhiệm đến năm 1996.

Về phần tham dự các giới đàn:

Trong suốt thời gian hành đạo Cố Đại lão HT. Thích Huệ Quang đã đảm nhận nhiều trọng trách trong các giới đàn truyền giới trên cả nước như:

1.-Ngày 27.9 năm Nhâm Dần (1962): Đệ tứ Tôn chứng, tại Giới đàn chùa Long Quang, Phú Nhuận, Sài Gòn.

2.-Năm Ất Tỵ (1965): Đệ nhất Tôn chứng Giới đàn chùa Thiền Lâm, Quận 6, Lục Tỉnh, Sài Gòn.

3.-Ngày 26.02.năm Mậu Thân (1968) được suy tôn Giáo Thọ A Xà Lê sư, tại giới đàn chùa Phật Ấn, đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn.

4.-Ngày 15.3.Kỷ Dậu (1969), được suy tôn Yết Ma A Xà Lê sư, tại giới đàn chùa Nghĩa Phú, xã Hoà Thắng, huyện Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên.

5.- Ngày 10.4.Canh Tuất (1970) được Tôn cử Tuyên Luật sư tại giới đàn chùa Phước Duyên, Diên Khánh.

6.- Ngày 15.7.Canh Tuất (1980) được Chư Tôn giáo phẩm Giáo hội Phật giáo Cổ Truyền Việt Nam suy tôn Hoà Thượng tại giới đàn chùa Cổ tích Bửu Phong, Thị xã Biên Hoà.

7.- Thành viên Ban chức sự các Giới đàn như: Năm 1963: Ban Tổ chức Giới đàn chùa Sắc tứ Minh Tịnh, Quy Nhơn.

Năm 1993: Ban Chức sự Đại Giới đàn Trí Thủ I tổ chức tại chùa Long Sơn đã cung thỉnh Ngài đảm nhiệm chức vụ Chánh công văn.

Và các kỳ Đại giới đàn năm 1997, 2001, 2005 tổ chức tại Khánh Hòa, ngài được cung thỉnh làm chứng minh Đại giới đàn.

Từ năm 1990 – 1998, Ban Giám hiệu Trường Trung cấp Phật học tỉnh Khánh Hòa thỉnh ngài làm Giảng sư suốt 2 khóa I, II

Với Ngài Đạo pháp và dân tộc luôn đồng hành vì thế năm 1945, thời kỳ chống Pháp, bị Pháp bắt ở tù 8 tháng tại 5 e Baurau Nha Trang.

- Năm 1996, được tặng thưởng Huy chương vì sự nghiệp Đoàn kết dân tộc: của Trung ương Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam.

- Tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ IV (1997-2001) GHPGVN: Ngài được tấn phong Hoà Thượng.

- Tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ V (2002-2007) GHPGVN: Ngài được suy tôn làm thành viên HĐCM TW GHPGVN.

* Về công tác biên dịch:

1,- Ngài đã dịch nghĩa Nghi thức Thiền môn Chánh độ, các nghi lễ thông dụng trong ứng phó Đạo tràng.

2,- Ngài đã viết Tiểu sử Tổ Khai sơn chùa Đông Phước.

3.- Biên soạn Tiểu sử chùa cổ tích Đông Phước.

Ngoài ra, Ngài cũng thường đặt câu liễn, đối, viết Thư pháp cho nhiều Tự viện trong tỉnh cũng như ngoài tỉnh.

THỜI KỲ VIÊN TỊCH

Sau hơn 50 năm hành đạo Ngài đã đào tạo được một đội ngũ Chư Tôn đức, có đạo hạnh và năng lực, tham gia công tác Phật sự của Giáo hội và công tác từ thiện xã hội.

Tuy tuổi đã ngoài 80, Ngài vẫn thân hành chống gậy để làm công tác Phật sự cũng như dóc lòng xây dựng hoàn thiện ngôi phạm vũ Đông Phước. Suốt thời gian đảm nhiêm trụ trì chùa Đông Phước, ngài đã nhiều lần trùng tu tôn tạo ngôi Tam Bảo. Đặc biệt, năm 2007, dưới sự chứng minh của Thường trực BTS THPG Khánh Hòa, Ngài đã Đại trùng tu toàn cảnh ngôi Đông Phước cổ tự như ngày nay.

Thuận thế vô thường; thân tứ đại mõi mòn theo nhật nguyệt, sau một thời gian lâm trọng bệnh. Tuy được môn phong huynh đệ, môn đồ pháp quyến, cùng quý vị Y, Bác sĩ tận tình chăm sóc, chữa trị. Song, vì tuổi cao sức yếu Ngài đã thâu thần an nhiên viên tịch, vào lúc nữa đêm giờ Tý, 01 giờ 20 ngày 10 tháng 7 năm Kỷ Sửu (2009), tại ngôi chùa Đông Phươc - nơi mà 67 năm về trước Ngài đã xuất gia. Ngài trụ thế 83 năm, hạ lạp 57 năm.

Hỡi ơi:

Dép cỏ lối về còn lưu dấu

Hoa đàm tuy rụng vẫn ngát hương

Một mai thân xác quy Tây

Danh thơm vẫn ở thế gian muôn đời

Pháp thân lồng lộng sáng ngời

Chiếu soi pháp giới rạng ngời chân như

Phụng vì:

Tân viên tịch, Đông phước Đường thượng, Từ Lâm tế chánh tông, Tứ thập nhất thế, huý thượng KhônghạHành, tự Từ Tâm, hiệu Huệ Quang,Dương Công Đại lão Hoà Thượng giác linh chứng minh.

Môn đồ pháp quyến phụng soạn


Hình ảnh lễ tang

p_0009


(xem tiếp)


Xem Chùa Đông Phước

--- o0o ---

Người gởi: Trí Bửu

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 9365)
Mỗi khi tâm niệm đến hành trạng Thiền sư Vạn Hạnh, chúng ta không thể không đề cập đến con người và sự nghiệp Lý Công Uẩn. Giá trị lịch sử của một con người không chỉ ảnh hưởng đến tự thân mà dư âm giá trị lịch sử của con người đó còn ảnh hưởng trực tiếp đến muôn người khác từ thế hệ này qua thế hệ khác. Và quả thật, Vạn Hạnh Thiền sư là người có công rất lớn trong việc khai sáng ra triều đại nhà Lý thì Lý Công Uẩn là vị vua đầu tiên thực thi tinh thần Vạn Hạnh bằng tất cả sự thể nhập "Đạo Pháp - Dân tộc" trong một thực thể duy nhất.
09/04/2013(Xem: 17336)
Có lần trong tù, đói quá, Thầy Quảng Độ nằm mơ thấy được nhà bếp cho một cái bánh bao. Ăn xong thấy bụng căng thẳng, no nê, rất hạnh phúc. Sự thật là đêm ấy, trước khi đi ngủ, vì đói quá nên thấy uống nước cho đầy bụng dễ ngủ. Và Thầy đã đái dầm ra quần. Sáng hôm đó Thầy có làm một bài thơ.
09/04/2013(Xem: 9402)
Đức Đại Lão Hòa Thượng Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN là thế hệ thứ 8 của phái Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán, Pháp danh Trừng Nguyên, Hiệu Đôn Hậu. Xuất gia và thọ cụ túc với Hòa Thượng Bổn sư là Tổ Tâm Tịnh, khai sơn chùa Tây Thiên Huế, sau các Pháp huynh là quý Hòa Thượng Giác Nguyên, Giác Viên, Giác Tiên, Giác Nhiên...
09/04/2013(Xem: 11795)
Từ ngày 18-23/5/1996 HT.Thích Minh Châu, Phó CT kiêm Tổng thư ký GHPGVN, Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, Hiệu trưởng trường CCPHVN... đã lên đường đến Thái Lan để nhận bằng Tiến Sĩ Phật Học Danh Dự (Honarary Doctorate Degree in Buddhist studies) tại Đại Học Phật Giáo Mahachulalongkornrajvidyalaya, Thủ đô Bangkok, Thái lan.
09/04/2013(Xem: 13477)
Thiền sư THÍCH ĐỨC NHUẬN, pháp hiệu Trí Tạng, thế danh Đồng Văn Kha, sinh ngày 14 tháng Chạp năm Quí hợi (thứ bảy, ngày 19 tháng giêng, 1924). Chính quán : làng Lạc Chính, xã Duyên Bình, huyện Trực Ninh, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Thân phụ là Đồng Văn Trung và thân mẫu là bà chính thất Hà Thị Thìn hiệu Trinh Thục (cả hai vị đều đã mãn phần). Là con thứ tư trong một gia đình thanh bần - dòng quí tộc. Ngài có 2 anh, 1 chị và 3 người em dì bào (2 trai, 1 gái).
09/04/2013(Xem: 7867)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, thế danh là Lâm Văn Tuất sinh năm 1897 (Đinh Dậu) tại thôn Hội Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Thân sinh là cụ Lâm Hũu Ứng và bà Nguyễn Thị Nương.
09/04/2013(Xem: 10638)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 10026)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 11324)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9815)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.