Điện Thư Phân Ưu

25/09/201515:24(Xem: 7745)
Điện Thư Phân Ưu
 lotus-21a
 

 Nam Mô A Di Đà Phật
Kính gửi ĐH Châu Ngọc,

Từ hôm qua đến nay, tôi đã được tin Bác Sĩ Minh Quang Nguyễn Lê Đức đã
qúa vãng và mỗi sáng trong thời Kinh Lăng Nghiêm tôi vẫn cầu nguyện
cho ĐH Minh Quang. Chúng tôi trong Phái Đoàn Hoằng Pháp Âu Mỹ xin chia
 xẻ những mất mát to lớn nầy với ĐH và Gia Đình. Xin nguyện cầu cho
Hương Linh của ĐH Minh Quang được cao đăng Phật Quốc.

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Như Lai.

Thích Như Điển


 

 

 

 

 

Dien Thu Phan Uu dg co Chau Ngoc 2
lotus_57



THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
 
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Thân gửi gia đình Cô Châu Ngọc,
Thông Triết hiện đang ở Đài-Loan mới hay tin huynh MINH QUANG  đã
theo Phật, một vị Bồ Tát vừa hoàn thành trọn vẹn Tứ Vô Lượng tâm.
Xin nguyện Đức từ phụ A DI ĐÀ phóng quang tiếp dẫn hương linh BS
Nguyễn Lê Đức pháp danh MINH QUANG sớm hoa khai  diện kiến Tây Phương Tam Thánh.
  Thông Triết  xin chân thành
phân ưu sâu sắc cùng Cô Châu Ngọc và quý quyến trước sự 
  mất mát to lớn nầy, từ nay mỗi khi chụp ảnh lưu niệm ở chánh điện Thông 
Triết không còn được nghe giọng nói "CƯỜI" của Anh nữa.
Xin nguyện cầu Hương Linh Phật tử Bồ Tát giới Minh Quang chóng được cao đăng Phật Quốc.
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.
                         Thành kính phân ưu
                      Thích Thông Triết





Minh Quang - Nguyen Le DucBac Si Nguyen Le Duc

Minh Quang Nguyen Le Duc-6Minh Quang Nguyen Le Duc-5Minh Quang Nguyen Le DucMinh Quang Nguyen Le Duc 2007-2Minh Quang Nguyen Le Duc 2007





Minh Quang Nguyen Le Duc-6

LỜI CUỐI CHO NGƯỜI

Nhỏ máu tim em viết tiễn chàng

Mùa xuân lịm chết, sử  sang trang

Bàng hoàng nhỏ lệ trời mưa gió

Thế giới ngỡ ngàng khóc hợp tan

Anh bảo cuộc đời như giấc mơ

Đến đi còn mất sẽ không ngờ

Xa nhau đừng gọi hồn thương nhớ

Hương thừa bến cũ sẽ quên thôi!

Hạnh phúc theo anh ở cuối trời

Chàng đi con vợ sống bơ vơ

Những ngày tháng cũ chìm nhung nhớ

Phải sống ra sao lúc vắng người?

“Nuối tiếc làm chi không thật có

Đừng sống vì ta, nghĩ đến người

Sen hồng gửi lại trần gian đó

Sẽ gặp nhau cùng tới bến không”

CHÂU NGỌC

VĨNH BIỆT anh lần cuối cùng , chúc anh  sớm  được CAO ĐĂNG PHẬT QUỐC,  lai đáo ta bà, tiếp tục cứu độ chúng sinh

 

 

Kính mời xem trang website do Bác Sĩ Minh Quang làm chủ biên:

 

http://www.chuahaiduc.org/Phap%20Thoai/trang_phap_thoai.htm



Khoa tu 2008_Chua Hai Duc (26)Khoa tu 2008_Chua Hai Duc (32)

Khoa tu 2008_Chua Hai Duc (451)

Kính mời xem 
Hình ảnh phái đoàn Hoằng Pháp của HT Thích Như Điển 

tại Chùa Hải Đức năm 2008

 




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/08/2011(Xem: 8769)
Hòa thượng Thích Bích Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Hoằng đạo, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam; nguyên Chánh Đại Diện GHPGCT Trung phần, Tổ thứ 3 Tổ đình Nghĩa Phương, Tổ Khai sơn các chùa thuộc Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương, Tông trưởng Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương (1921 - 1972).
30/07/2011(Xem: 10023)
Thế danh: Nguyễn Đình Mân, Pháp danh: Thị Uẩn, Pháp tự: Hạnh Đạo, Pháp hiệu: Thuần Phong, Đời thứ 42 thuộc dòng Thiền Lâm Tế.
28/07/2011(Xem: 8420)
Hòa Thượng Thích Đạt Hảo, Hòa thượng Thích Đạt Hảo thế danh Lê Văn Bân, pháp danh Tánh Tướng, pháp hiệu Đạt Hảo, sanh năm Đinh Tỵ (1917), tại ấp Bình Hữu, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Gia Định (1). Sư là con út trong gia đình có 6 anh chị em, 2 người trai bốn người gái; đặc biệt cả nhà có 8 người đều lần lượt xuất gia tu hành: -Phụ thân Lê Văn Bộn (1876- 1943), pháp danh Tánh Từ, pháp hiệu Đạt Bi. -Mẫu thân Ngô Thị Cờ (1884-1941), pháp danh Tánh Niệm, pháp hiệu Đạt Phật. -Chị thứ 2 Lê Thị Tình (1901-1970), pháp danh Tánh Hóa, pháp hiệu Đạt Đạo. -Chị thứ 3 Lê Thị Ưa (1904- ?) pháp danh Tánh Viên, pháp hiệu Đạt Thông. -Chị thứ 4: Lê Thị Luận (1907- ?), pháp danh Tánh Minh, pháp hiệu Đạt Quang. Chị thứ 5 Lê Thị Nghị (1909- ?), pháp danh Tánh Hồng, pháp hiệu Đạt Tâm -Anh thứ 6 Lê Văn Kỉnh (1915-1962), pháp danh Tánh Kỉnh, Pháp hiệu Đạt Xương. -Em út là Hòa thượng Thích Đạt Hảo.
15/07/2011(Xem: 9232)
Thiền sư húy thượng NGUYÊN hạ BÀNG - ĐẠI NGUYỆN tự CHÍ NĂNG hiệu GIÁC HOÀNG , thế danh LÊ BẢN, sinh năm Canh Dần 1950, tại thôn An Ngãi, xã Nhơn An huyện An Nhơn tỉnh Bình Định. Ngài sinh trong một gia đình nhiều đời sùng kính Tam Bảo. Thân phụ: Cụ ông LÊ TRÀ, thân mẫu: Cụ Bà TRẦN THỊ TÁM. Ngài là anh cả trong gia đình gồm có năm người con.
24/06/2011(Xem: 9453)
Vua Lê Đại Hành mất vào năm 1005, các hoàng tử tranh giành ngôi vua tạo nên cảnh khổ đau tràn ngập cho Dân Tộc, bên trong bị nội loạn, bên ngoài bị ngoại xâm đe dọa. Trước những thảm trạng đen tối u ám và đầy dẫy những thống hận đó, Vạn Hạnh thiền sư xuất hiện như một thứ ánh sáng phi thường quét sạch vùng trời giông tố để đưa vận nước bước vào thời đại huy hoàng thịnh trị.
24/06/2011(Xem: 8955)
Trận chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Vương Quyền năm 939 là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử dựng nước của Việt Nam. Ngọn sóng Bạch Đằng Giang đã cuốn trôi đi nỗi đau nhục của người dân nô lệ, nhận chìm tham vọng của nòi Hán áp đặt lên đất nước ta trong suốt một ngàn năm. Từ đây Việt Nam không còn là một huyện lỵ của người Hán, từ đây một quốc gia đúng nghĩa đã xuất hiện dưới vòm trời Đông Á.
24/06/2011(Xem: 11218)
Ngài họ Nguyễn húy là Hữu Kê, dòng họ của Đại thần Nguyễn Trãi. Nguyên quán thuộc Tông sơn Gia miêu Ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa. Ngài thọ sanh năm Nhâm Tý (1912), tại làng Nguyệt Biều, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Vốn thọ sanh trong gia đình vọng tộc, quý phái, thích lý luận Nguyễn Hữu Độ.
24/06/2011(Xem: 7966)
Ngài Mật Thể, pháp danh Tâm Nhất, pháp tự Mật Thể, tên thật là Nguyễn Hữu Kê, sinh năm 1912 ở làng Nguyệt Biều, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Chánh quán huyện Tống Sơn, Gia Miêu ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa, thuộc dòng Thích Lý của Cụ Nguyễn Hữu Độ. Gia đình Ngài qui hướng đạo Phật, cụ thân sinh và người anh ruột đều xuất gia.
23/06/2011(Xem: 8696)
Đọc Thánh Đăng Ngữ Lục, do Sa môn Tánh Quảng, Thích Điều Điều đề tựa trùng khắc, tái bản năm 1750, ta thấy đời Trần có năm nhà vua ngoài việc chăn dân, họ còn học Phật, tu tập và đạt được yếu chỉ của thiền, như vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và Trần Minh Tông. Và sự chứng ngộ của các Thiền sư đời Trần thì không thấy đề cập ở sách ấy, hoặc có đề cập ở những tư liệu khác mà hiện nay ta chưa phát hiện được, hoặc phát hiện thì cũng phải tra cứu và luận chứng dài dòng rồi mới kết đoán ra được.
23/06/2011(Xem: 9359)
Đọc sử Phật giáo Việt Nam, hẳn chúng ta đều biết nước mình có một ông vua đi tu ngộ đạo, đó là vua Trần Nhân Tông. Ngài làm vua trong thời gian nước nhà đang bị quân Mông Cổ đem đại quân sang xâm lấn nước ta lần thứ ba.