Điện Thư Phân Ưu

25/09/201515:24(Xem: 7780)
Điện Thư Phân Ưu
 lotus-21a
 

 Nam Mô A Di Đà Phật
Kính gửi ĐH Châu Ngọc,

Từ hôm qua đến nay, tôi đã được tin Bác Sĩ Minh Quang Nguyễn Lê Đức đã
qúa vãng và mỗi sáng trong thời Kinh Lăng Nghiêm tôi vẫn cầu nguyện
cho ĐH Minh Quang. Chúng tôi trong Phái Đoàn Hoằng Pháp Âu Mỹ xin chia
 xẻ những mất mát to lớn nầy với ĐH và Gia Đình. Xin nguyện cầu cho
Hương Linh của ĐH Minh Quang được cao đăng Phật Quốc.

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Như Lai.

Thích Như Điển


 

 

 

 

 

Dien Thu Phan Uu dg co Chau Ngoc 2
lotus_57



THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
 
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Thân gửi gia đình Cô Châu Ngọc,
Thông Triết hiện đang ở Đài-Loan mới hay tin huynh MINH QUANG  đã
theo Phật, một vị Bồ Tát vừa hoàn thành trọn vẹn Tứ Vô Lượng tâm.
Xin nguyện Đức từ phụ A DI ĐÀ phóng quang tiếp dẫn hương linh BS
Nguyễn Lê Đức pháp danh MINH QUANG sớm hoa khai  diện kiến Tây Phương Tam Thánh.
  Thông Triết  xin chân thành
phân ưu sâu sắc cùng Cô Châu Ngọc và quý quyến trước sự 
  mất mát to lớn nầy, từ nay mỗi khi chụp ảnh lưu niệm ở chánh điện Thông 
Triết không còn được nghe giọng nói "CƯỜI" của Anh nữa.
Xin nguyện cầu Hương Linh Phật tử Bồ Tát giới Minh Quang chóng được cao đăng Phật Quốc.
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.
                         Thành kính phân ưu
                      Thích Thông Triết





Minh Quang - Nguyen Le DucBac Si Nguyen Le Duc

Minh Quang Nguyen Le Duc-6Minh Quang Nguyen Le Duc-5Minh Quang Nguyen Le DucMinh Quang Nguyen Le Duc 2007-2Minh Quang Nguyen Le Duc 2007





Minh Quang Nguyen Le Duc-6

LỜI CUỐI CHO NGƯỜI

Nhỏ máu tim em viết tiễn chàng

Mùa xuân lịm chết, sử  sang trang

Bàng hoàng nhỏ lệ trời mưa gió

Thế giới ngỡ ngàng khóc hợp tan

Anh bảo cuộc đời như giấc mơ

Đến đi còn mất sẽ không ngờ

Xa nhau đừng gọi hồn thương nhớ

Hương thừa bến cũ sẽ quên thôi!

Hạnh phúc theo anh ở cuối trời

Chàng đi con vợ sống bơ vơ

Những ngày tháng cũ chìm nhung nhớ

Phải sống ra sao lúc vắng người?

“Nuối tiếc làm chi không thật có

Đừng sống vì ta, nghĩ đến người

Sen hồng gửi lại trần gian đó

Sẽ gặp nhau cùng tới bến không”

CHÂU NGỌC

VĨNH BIỆT anh lần cuối cùng , chúc anh  sớm  được CAO ĐĂNG PHẬT QUỐC,  lai đáo ta bà, tiếp tục cứu độ chúng sinh

 

 

Kính mời xem trang website do Bác Sĩ Minh Quang làm chủ biên:

 

http://www.chuahaiduc.org/Phap%20Thoai/trang_phap_thoai.htm



Khoa tu 2008_Chua Hai Duc (26)Khoa tu 2008_Chua Hai Duc (32)

Khoa tu 2008_Chua Hai Duc (451)

Kính mời xem 
Hình ảnh phái đoàn Hoằng Pháp của HT Thích Như Điển 

tại Chùa Hải Đức năm 2008

 




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 8734)
Hòa thượng họ Võ, húy Trọng Tường, Pháp danh Tâm Phật, tư Tri Đức, hiệu Thiện Siêu, Hòa thượng sinh ngày 15 tháng 7 năm Tân Dậu (1921) trong môt gia đình thâm Nho tín Phật ở làng Thần Phù, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, thành phố Huế. Thân Phụ là C ông Võ Trọng Giáng, thân mẫu là Cụ bà Dương Thị Viết. Hòa thượng là con trưởng trong một gia đình có 6 anh em: 3 trai, 3 gái. Người em kế cũng xuất gia, đó là cố Thượng tọa Thích Thiện Giải, nguyên là Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Lâm Đồng; Trú trì chùa Phước Huệ - Bảo Lộc.
09/04/2013(Xem: 10704)
Thầy xuất thân trong một gia đình kính tín Tam bảo. Thầy là con út trong gia đình gồm 6 anh chị em. Cha là cụ Ông Lâm Sanh Thảo, một nhà trí thức yêu nước; Mẹ là cụ Bà Trần Thị Năm, một phật tử thuần túy và cũng là một người Mẹ mẫu mực đảm đang.
09/04/2013(Xem: 14206)
Thượng tọa Thích Chơn Thanh, thế danh Phan Văn Bé, sinh ngày 13 tháng 3 năm 1949 tại xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Kiến Phong, nay là tỉnh Đồng Tháp. Thân phụ là Cụ ông Phan Văn Vinh, thân mẫu là Bà Nguyễn Thị Mến. Thượng tọa có 06 anh em, 2 trai 4 gái, Ngài là anh cả trong gia đình.
09/04/2013(Xem: 25909)
Cuộc đời tu tập và hành đạo của Thầy Minh Phát là bức tranh minh họa hiện thực sinh động lời dạy của Ðức Phật: “Này chư Tỳ kheo! Hãy du hành vì an lạc, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư Thiên và loài người”.
09/04/2013(Xem: 15529)
Thuở nhỏ lòng ưa cửa Ðạo, mến chuộng nếp áo phước điền, ngưỡng trông tịnh xá Kỳ Viên, tha thiết lòng cầu xuất tục. 16 tuổi, xuất gia học đạo chùa Tây An, Châu Ðốc trước tiên, gần quý Thầy hiền, trau dồi Phật tuệ, bang sài vận thủy, tu sửa đạo tràng; 27 tuổi, cầu thọ tam đàn. Kể từ đó tinh chuyên tu niệm.
09/04/2013(Xem: 9908)
Đại lão hòa thượng Thích Trí Nhãn thế danh là Đoàn Thảo, pháp danh Như Truyện, tự Giải Lệ, hiệu Thích Trí Nhãn. Ngài sinh ngày 10 tháng giêng năm Kỷ Dậu tức vào năm 1909 dương lịch, tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, Xã Thanh Hà, nay thuộc thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, Thị Xã Hội An.
09/04/2013(Xem: 17917)
Xuất thân trong một gia đình gia giáo có thân phụ là Chánh Tổng nên Hòa Thượng đã sớm hấp thụ Nho học và Tây học từ thuở ấu niên. Vì thế, Hòa Thượng đã thông thạo cả Hán văn lẫn Pháp văn, kết hợp và dung hòa được cả hai truyền thống văn hóa Đông – Tây.
09/04/2013(Xem: 15755)
Hòa Thượng thượng Tâm hạ Thành. Thế danh là Nguyễn Ðức Huân sinh năm 1930 tại làng Trà Bắc, Phủ Xuân Trường, Tỉnh Nam Ðịnh, Miền Bắc Việt Nam. Năm 1942 khi vừa tròn 12 tuổi, Ngài ngộ lý vô thường và xuất gia học đạo với Sư Tổ Thượng Chính Hạ Ðĩnh tại chùa Yên Cư, Phủ Xuân Trường, Thuc Sơn Môn Trà Bắc. (Sơn môn Trà Bắc, Trà Trung và Trà Ðông thuc Tổng Trà Lũ, là hậu thân của Sơn môn Yên Tử). Ngài được Bổn Sư ban Pháp danh là Ngọc Tiểu Pháp hiệu Tâm Thành.
09/04/2013(Xem: 13367)
Mỗi lần đi Huế lòng tôi lại nao nao khôn tả. Huế là đạo, là thơ, là nghĩa tình ý vị, là tinh hoa văn hóa của ba miền đất Việt, nhưng cũng là mảnh đất khô cằn của đói nghèo khốn khổ “mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu cơm” đã hứng chịu nhiều thiên tai nhân họa. Huế được phong phú về mặt văn hóa, tâm linh là nhờ hình ảnh những vị đại lão hòa thượng nơi đây đã sống, hành đạo và xả báo thân. Dù đã viên tịch, dư hương các ngài vẫn như còn phảng phất nơi các ngôi tổ đình tĩnh lặng và những rừng thông bạt ngàn.
09/04/2013(Xem: 8809)
Giờ phút Thầy an nhiên xả báo thân, thì bên này hơn nữa đêm. Một Phật tử của Thầy ở miền Đông nước Mỹ, giọng đầm đìa nước mắt, khấp báo cho tôi tin Thầy đã từ biệt, lệ tiếc thương như tràn ngập, khắp đó khấp đây. Rồi Tuệ Sỹ, một hậu tấn, kẻ đồng tâm dễ thương của Thầy, mà tôi thường ví như một hạt kim cương hiếm hoi lẫn trong đá sỏi của Phật Giáo Việt Nam ngày nay, trong nổi cô quạnh bao la vừa sau một mất mát lớn lao đã ai tín cho tôi bằng lá thư không niêm mà tôi biết mỗi chữ cũng trĩu nặng nổi lòng.