Cảm Niệm Ân Sư

17/09/201507:35(Xem: 10656)
Cảm Niệm Ân Sư
CẢM NIỆM ÂN SƯ  CHUNG  THẤT ĐỨC ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG PHÁP SƯ THÍCH GIÁC NHIÊN ( Viên Tịch 03/08/2015 Nhằm 19/06 Ất mùi)

Nam mô Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật

Nam mô Đại Hiếu Mục kiền liên tôn giả

Hôm nay ngày mùng 8/8 năm Ất mùi là ngày Tưởng niệm chung thất trai tuần của đức Tôn sư. Chúng con hàng môn đồ pháp quyến đồng quỳ trước Giác linh Ngài thành kính đảnh lễ và dâng lời cảm niệm.

Kính lạy Giác Linh Ân sư,

 Thời gian thật vô tình và tàn nhẫn..7 tuần lễ trôi qua trong nháy mắt kể từ ngày chúng con đón nhận ai tin.

 Chúng con đã bao lần quỳ đây gục mặt, lòng ngổn ngang tan vỡ vạn niềm đau. Đeo mảnh khăn tang những đứa trẻ mồ côi ngơ ngác bàng hoàng.Thầy về đâu ..? để con trẻ bơ vơ giữa trần gian muôn ngàn cạm bẩy.

 Học hỏi cả đời chúng con vẫn là những đàn con khờ dại, quỳ bên nhau như gà lạc mẹ xôn xao.

Nhìn di ảnh Ân sư lòng thổn thức nghẹn ngào,, sao sự thật cứ lòng đau, đau lòng như thế.!?

Tôn sư ơi ! Xin Người hãy từ bi cho chúng con khóc kể, cho chúng con thổ lộ tấm chân tình..

Dẩu biết rằng Người đã thoát khỏi tử sinh, ngời Linh  ảnh Ngài mĩm cười nhân ái.

Trần gian nầy chúng con giờ đành xa Người mãi mãi, như một lần đi..sao mãi miết không về.

 Như chuyến đò chiều rời khỏi bến mê, con chết lặng giữa mù sa nhân thế.

Đối với Ân sư ngài khứ lai tự tại, nhưng thương thay !

Đàn con khờ giữa sa mạc hoang liêu., còn đâu dáng Thầy hiền lời khuyên dạy thân yêu, giọng trầm ấm, bình dân với nụ cười hỷ xả..

Người không chỉ dạy Tu, dạy Thiền mà dạy cho chúng con tất cả. Dạy cách ăn cách sống phòng hộ thân tâm.

Thế gian nầy giờ đã hóa tối tăm, khi bên cạnh chúng con đã không còn Thầy nữa..

Sư Phụ ơi!

Vỡ tan rồi, hải đảo trăm năm nương tựa. giữa trùng dương bóng đã lặn về Tây…xa thật rồi như những áng mây. Người tự tại thong dong về cõi Giác..

chỉ còn lại đàn con gục đầu cúi mặt.

Từ hôm nay và mãi mãi về sau..con đường sang Hoa kỳ trở nên lạnh nhạt, quê hương nầy đã mất hẳn yêu thương.. đâu còn Pháp sư để thăm hỏi, để cúng dường, để xoa bóp chân tay, để hàn huyên kể lể..

Chỉ nghĩ đến điều ấy tim con như thắt lại,  từng cơn đau dù Người bảo không nên : Là trượng phu sao Minh Hiếu mãi yếu mềm, chỉ biết khóc để hóa thành nhỏ dại.

Kính lạy giác linh Sư phụ..

Tạ ân Người đã cưu mang nuôi dưỡng, Huệ mạng nầy ngàn thuở vẫn còn ghi.

Tạ ân người đã nghe con kể lễ, bao lỗi lầm hơn cả núi Tu di.

Người trong con không trở thành thần tượng, mà hóa thân làm xương thịt mĩm cười..

 Để cho con muôn đời không xa cách, không rời người trong một phút một ly. Con ích kỷ mà Người từng dung chứa, thêm một lần người mở cửa từ bi.

Cho con được ôm hình hài bất tử, bóng dáng Thầy vạn thuở khắc ghi.

Pháp thân Người hòa tan vào cát bụi. Mà anh linh ngời sáng cõi Liên Trì..

Chữ sắc không giờ đây con thấu hiểu, Đảnh lễ tiễn Ngài Như thị đến đi..

Chí thành đảnh lễ thành kính  tạ ân Giác linh Tôn sư của chúng con.

Nam mô tân viên tịch Giác Linh Hòa Thượng Pháp Sư thùy từ chứng giám..

                                             Đệ tử Tk Minh Hiếu  Khấp bái

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/12/2010(Xem: 10865)
Hòa thượng Thích Quảng Thiệp (1928-1998)
25/11/2010(Xem: 37762)
Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Đây là 43 công án Vua đưa ra để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia. Thầy Làng Mai đã dịch những công án này ra tiếng Việt và tiếng Pháp năm 1968. Bản dịch tiếng Pháp xin xem ở phần phụ lục cuốn Clé Pour Le Zen, tác giả Nhất Hạnh, do nhà xuất bản JC Lattes ấn hành. Bản Hán Việt có trong Thơ Văn Lý Trần quyển II (Quyển thượng, trang 108-121), NXB Khoa Học Xã Hội.
24/11/2010(Xem: 15174)
Tiểu sử nhà văn Quách Tấn
15/11/2010(Xem: 10668)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11390)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 10755)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 17078)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 48755)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 10130)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).