Cảm Niệm Ân Sư

11/09/201512:57(Xem: 10230)
Cảm Niệm Ân Sư

CẢM NIỆM ÂN SƯ

Nam Mô A Di Đà Phật,

Kính bạch Giác linh Thầy,

Chúng con kính nghe : Cha mẹ sinh thân ngũ uẩn, Thầy Tổ tác thành giới thân tuệ mạng. Thân ngũ uẩn thì trôi lăn trong sinh tử, thân tuệ mạng thì vượt ngoài tử sinh. Ân đức ấy như trời cao biển rộng, suốt trăm ngàn kiếp không thể nào báo đáp được.

Hơn chín mươi năm trong cuộc thế, Thầy luôn tận tình tế độ, giáo dưỡng chúng con. Thầy lấy đức từ hóa độ quần mê, lấy bao dung đối nhân xử thế. Thầy lo cho chúng con khi trái nắng trở trời, dạy chúng con từng tế hạnh oai nghi. Chúng con chưa báo đáp được thâm ân giáo dưỡng mà thầy đã quẩy dép về Tây. Tuy biết cuộc đời là vô thường, nhân sinh là gỉa tạm nhưng chúng con không cầm được nước mắt khi traí tim nhân hậu, bao dung của Thầy ngừng đập.

Những tưởng chúng con được đón Thầy về quê xưa để sớm hôm thường định tỉnh nhưng nào ngờ đất khách thầy ra đi để đất thảm trời sầu.

Thế là Tổ đình Kim Liên chỉ còn lưu dấu tích của đồng tử khi xưa còn Thầy thì mãi mãi ra đi như dòng sông không bao giờ trở lại để tháp chín tầng nơi Quốc tự Việt Nam vẫn tháng năm ngóng trông bước chân bậc Viện trưởng.

Tổ đình vẫn còn đó nhưng hình bóng Thầy đâu rồi? Biết lấy ai dạy  Bước Đầu Học Phật? Từ Quang vẫn còn đây nhưng tôn dung Thầy không còn nữa, biết hỏi ai bài Thiền Lâm Bảo Huấn? Để từ đây thiền thất sớm chiều chìm trong sương không sắc, phương bào ngày tháng lạnh theo gía sắc không.

Mới  tháng trước Thầy còn nắm chặt tay con ân cần dạy bảo nhưng bây giờ Thầy đã buông nhẹ hai tay, xả bỏ tất cả, Thầy đã xả bỏ tất cả vinh nhục, thăng trầm, buồn vui, được mất trong chín mươi lăm năm của cảnh trầm luân thế nhân để trở về quê hương tịnh cảnh có gió thổi là vi diệu pháp, có chim kêu là đạo nhiệm mầu.

Trước phút giây ngàn thu vĩnh biệt này, chúng con cúi đầu kính lạy Thầy ba lạy : Lạy thứ nhất thâm tạ công ân tác thành giới thân tuệ mạng, lạy thứ hai tri ân giáo dưỡng nên người, lạy thứ ba xin vĩnh biệt Thầy . Xin Thầy từ bi chứng giám.


NAM MÔ LƯU PHƯƠNG THÁP TRÚC LÂM YÊN TỬ, VĨNH NGHIÊM, PHƯỢNG BAN PHÁP PHÁI ĐỆ LỤC THẾ, VIỆT NAM PHẬT GIÁO THỐNG NHẤT GIÁO HỘI VIỆN HÓA ĐẠO ĐỆ NHẤT VIỆN TRƯỞNG, THẾ GIỚI VIỆT NAM PHẬT GIÁO GIÁO HỘI THƯỢNG THỦ, TỪ QUANG TỔ ĐÌNH KHAI SƠN, MA HA SA MÔN TỲ KHƯU BỒ TÁT GIỚI,  PHÁP DANH THANH MINH, PHÁP HIỆU TÂM CHÂU, TỰ TUỆ HẢI, ĐOÀN CÔNG TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG BỔN SƯ GIÁC LINH THÙY TỪ CHỨNG GIÁM./.

                                                                   

  Canada , 24/08/2015

                                                                                        Pháp tử Giác Dũng

                                                                                        Khấp bái

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10173)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9117)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 10605)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9087)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 8559)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 8812)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.
09/04/2013(Xem: 9805)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 9871)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 12777)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8244)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.