Hòa Thượng Thích Từ Mẫn

4/10/201311:13(View: 11609)
Hòa Thượng Thích Từ Mẫn

TIỂU SỬ
HOÀ THƯỢNGTHÍCHTỪ MẪN
(1932-2007)

A/ Thân thế:

Hòa thượng thế danh là Nguyễn Hữu Độ, sinh ngày 01 tháng 11 năm Nhâm Thân (nhằm ngày 28/11/1932) tại thôn Thuận Hòa, xã Hương Phong, huyện Thuận Hóa, tỉnh Thừa Thiên Huế. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Hữu Oai, thân mẫu là cụ bà Đặng Thị Kiếm. Hòa Thượng là người con thứ 5 trong gia đình có 6 anh em. Sớm bộc lộ bản tánh thông minh hiếu học, lại là một người con hiếu thuận, nên Hòa Thượng rất được song thân yêu mến. Để tạo điều kiện thuận lợi trong việc học hành sau này của Hòa thượng, song thân đã cho Ngài vào Đà Nẵng ở nhà người bạn thân là cụ ông Trần Văn Thuần và cụ bà Nguyễn Thị Đắc (pháp danh Tâm Kế, tự Từ Lưu). Sau một thời gian ở với 2 ông bà, với bản tánh thuần lương hiếu đạo và ý chí ham học hỏi, Hòa thượng được 2 ông bà yêu mến, nên đã xin với Song thân của Hòa thượng cho Hòa thượng làm con nuôi của mình. Cũng từ đó Hòa thượng được song thân nuôi dưỡng đặt lại tên là Trần Văn Độ. Hòa thượng thường cùng song thân nuôi dưỡng đến chùa, theo tháng năm căn duyên Phật Pháp được huân tập. Đến năm 10 tuổi Hòa Thượng phát đại tâm xuất gia và được song thân nuôi dưỡng chấp thuận cho làm đệ tử của Hòa thượng Bổn sư là Ngài cố đại lão Thích Tôn Thắng trú trì sắc tứ Phổ Thiên. Song thân nuôi dưỡng của Hòa thượng đã phát tâm cúng dường đất cho Hòa thượng Bổn Sư xây dựng một ngôi chùa nay là chùa Diệu Pháp ở phường Bình Thuận.

B/ Sự nghiệp tu trì học Đạo:

Lúc thiếu thời, nhờ sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống Phật Giáo nhiều đời, có bản tánh thông minh và hiếu học về Đạo cũng như đời, lại có đức tánh khiêm cung điềm đạm, Hòa Thượng luôn được Thầy và chúng bạn yêu mến.

Năm lên 18 tuổi (1950), Hòa Thượng được Bổn Sư cho thọ giới Sa Di tại chùa sắc tứ Phổ Thiên với Pháp danh TÂM LƯỢNG, tự TỪ MẪN, quả thật đúng với bản tánh hiền thiện của Hòa Thượng lúc sinh tiền.

Năm 1951, theo chủ trương của Giáo hội Tăng già Trung phần, cần đào tạo người tài đức để lo việc Hoằng dương Chánh pháp, Hòa Thượng được Bổn Sư cho ra Huế tham học tại Phật học đường Báo Quốc do cố Hòa Thượng Thích Trí Thủ làm Giám viện.

C/ Sự nghiệp Hoằng hóa độ sanh:

Năm 1956 Hòa Thượng được truyền giới cụ túc tại đại giới đàn chùa Báo Quốc do Hòa Thượng Thích Giác Nhiên trú trì Tổ đình Thuyền Tôn làm đàn đầu và được Hòa thượng Bổn sư cho kệ phú pháp và đặt Pháp Hiệu là Chơn Giác với bài kệ:

Độ nhơn đắc độ tiên tự độ

Tâm lượng tam thiên quảng vô biên

Từ tế chúng sanh đồng chí mẫn

Chơn giác quang minh hiện thân tiền.

Năm 1958, Hòa Thượng tốt nghiệp Trung đẳng Phật học tại tổ đình Báo Quốc Huế và phát nguyện thọ Bồ Tát giới tại Đại giới đàn của Viện Cao Đẳng Phật học Nha Trang tổ chức do Cố đại lão Hòa Thượng Thích Giác Nhiên làm đàn đầu. Cùng khóa này có các vị đồng học, đồng phạm hạnh với Hòa Thượng như: Cố Hòa Thượng Chánh Trực, Hòa thượng Thích Thiện Bình, Hòa Thượng Thiện Hạnh, Hòa Thượng Đức Chơn... Cũng năm này, tuy Hòa thượng đang học tại Phật học viện Hải Đức Nha Trang, nhưng được sự tín nhiệm của Giáo hội, Hòa thượng được cử làm giảng sư tại các Tỉnh Giáo hội như: Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên...

Năm 1962 chùa Phổ Thiên nay là chùa Phổ Đà tại TP Đà Nẵng được cố Đại lão Hòa thượng Thích Tôn Thắng phát nguyện cúng dường cho Giáo hội làm cơ sở đào tạo Tăng tài. Đây là một trong 3 cơ sở lớn của hệ thống Phật học viện trung phần. Hòa thượng được cử về làm Giáo Thọ tại đây. Ở đây Hòa thượng tận tâm giáo dục Tăng ni trau dồi giới tuệ cho học Tăng và tạo điều kiện thuận lợi cho việc tu học.

Năm 1963 trước chính sách kỳ thị Tôn giáo của chế độ Ngô Đình Diệm, Hòa Thượng đã tham gia với các vị tôn túc trong Giáo hội Phật giáo Đà Nẵng, tích cực hướng dẫn Tăng Ni bảo vệ Chánh Pháp. Mặc dầu bị bắt bớ, giam cầm, hành hạ... Hòa Thượng vẫn thường răn dạy tín đồ: “Đã hiến thân cho Đạo thì không ngại gian khổ, hiểm nguy, vì sống chết là lẽ thường, chỉ có Chánh Pháp mới là lẽ sống đích thực”.

Năm 1964 , cuộc tranh đấu bảo vệ Chánh pháp thành công, Giáo hội trở lại sinh họat bình thường, Hòa Thượng được cử làm đặc ủy Pháp sự, kiêm Giám đốc trung tâm văn hóa Phật giáo Đà Nẵng.

Năm 1965, Hòa thượng làm Phó đại diện GHPGVNTN, kiêm trưởng ban quản trì trường Trung học tư thục Bồ Đề Đà Nẵng và giảng dạy Giáo lý cho cấp Trung học.

Năm 1967, Hòa Thượng được cử làm Phó giám viện Phật học viện Phổ Đà kiêm giám học. Với phương pháp giảng dạy đầy tính Sư phạm nên phần lớn học Tăng Phật học viện và học sinh trường Bồ Đề tiếp thu Giáo lý một cách dễ dàng.

Năm 1970 GHPGVNTN tổ chức Đại giới đàn tại Phật học viện Phổ Đà do Hòa Thượng Bổn Sư Thích Tôn Thắng làm Chánh chủ đàn. Giới đàn được đặt tên là “Giới Đàn Vĩnh Gia” và được Hòa Thượng Thích Mật Nguyện chánh đại diện miền Vạn hạnh hổ trợ. Đại giới đàn được tổ chức một cách trọng thể, trên hai ngàn giới tử kể cả giới tử tại gia thọ Thập thiện tại chùa Pháp Lâm. Tại giới đàn này, Hòa Thượng được cử vào Hội đồng Giám khảo kiêm tri sự Đại giới đàn.

Năm 1971, Cao đẳng Phật học viện Hải Đức Nha Trang khai mở Đại giới đàn Phước Huệ, Hòa Thượng được cung thỉnh vào Ban giám khảo.

Năm 1972 Hòa Thượng trùng tu Tổ đình Diệu Pháp là ngôi chùa mà Hòa Thượng Bổn Sư đang trú trì để ngôi chùa được khang trang và tín đồ có nơi tụng kinh lễ bái.

Năm 1975, trong buổi giao thời khó khăn này, Hòa Thượng vẫn cố gắng hoàn thành trách nhiệm của một tu sĩ và được suy cử làm Phó đại diện Tỉnh Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất.

Năm 1976 Hòa Thượng được viện hóa đạo suy cửtrú trì chùa Phổ Đà. Trong giai đọan này Hòa Thượng tổ chức tu học để ổn định đời sống hành trì cho chư Tăng Đà Nẵng, bằng cách tổ chức an cư kiết hạ, tự tứ và Bố Tát tại trú xứ Phổ Đà. Cũng trong năm này Hòa Thượng được UBMTTQVNTPĐN mời làm ủy viên mặt trận nhiệm kỳ 1976 và đắc cử làm thành viên HĐND Tỉnh QNĐN khóa 2. Việc đời, việc Đạo gánh nặng hai vai, nhưng Hòa Thượng vẫn tổ chức lớp Giáo lý cho Tín đồ có thiện duyên học Phật pháp vào các tối thứ 7 và sáng chủ nhật hàng tuần.

Năm 1979, Hòa Thượng đã cùng sư huynh là Hòa Thượng Chơn Ngộ cùng nhau trùng tu chùa Tịnh Độ do Hòa Thượng Bổn Sư kiến tạo năm 1956 tại thị xã Tam Kỳ - Quảng Nam.

Năm 1981 Phật giáo cả nước đã ngồi lại trong ngôi nhà chung có tên là GHPGVN. Trong tổ chức mới này, Hòa Thượng được cử làm Phó ban tri sự Tỉnh hội GHPG Đà Nẵng cho đến ngày hôm nay.

Năm 1982 nhờ các khóa an cư kiết hạ và sự sinh hoạt của Chư Tăng mà GHPG Đà Nẵng trở nên khởi sắc, tín đồ càng ngày càng đông đảo, chánh điện chùa Phổ Đà đã trở nên chật hẹp và Hòa Thượng đã đứng ra trùng tu.

Năm 1992 do nhu cầu xuất gia tu học của Tăng ni trẻ mỗi ngày một đông, Hòa Thượng đã trình lên Giáo hội để xin mở trường cơ bản Phật học thành phố Đà Nẵng. Tuy gặp rất nhiều trở ngại trong công việc mở trường phần thì kinh tế hạn hẹp và rất nhiều nghịch cảnh khác nhưng với lòng quyết tâm truyền trao sở học của mình cho đàn hậu tấn, Ngài đã làm tất cả những gì mình có thể, cuối cùng trường cơ bản Phật học TP Đà Nẵng cũng được Giáo hội và chính quyền cho phép và Ngài được suy cử làm Hiệu Trưởng. Hiện nay trường đã được đổi tên thành trường Trung cấp Phật học thành phố Đà Nẵng và Hòa Thượng vẫn được cung thỉnh giữ chức vụ Hiệu trưởng của trường.

Năm 1995, sau cơn bạo bệnh, Hòa Thượng bị tai biến và bị liệt một bên mình, nhưng trí tuệ vẫn minh mẫn sáng suốt, thân bệnh mà tâm không bệnh, cho nên trong các nhiệm kỳ của giáo hội, Hòa Thượng vẫn được suy cử làm Phó ban trị sự Tỉnh kiêm Trưởng ban giáo dục Tăng ni và là Hiệu trưởng trường Trung cấp phật học Đà Nẵng.

Năm 2001, mặc dù tật bệnh, lại thêm tuổi cao sức yếu, nhưng với nhu cầu tu học của Tăng tín đồ PGTPĐN, Hòa Thượng cùng với Chư huynh đệ phát tâm trùng tu chánh điện chùa Phổ Đà. Nhờ đó mà ngôi chùa Phổ Đà trở thành một ngôi phạm vũ huy hoàng như hiện nay.

Năm 2007, hóa duyên đã mãn, Phật sự độ sanh đã viên thành, Hòa Thượng đã an nhiên thị tịch lúc 20 giờ 25 phút, ngày 28 tháng 05 (nhằm ngày 12 tháng tư năm Định Hợi).

Hỡi ôi! Nay Hòa Thượng đã đi vào cõi Niết bàn vô tung, để lại vô vàn thương tiếc cho môn đồ pháp quyến, cho toàn thể Tăng tín đồ GHPG Đà Nẵng nhiều mất mát lớn lao.

Nam mô tự Lâm tế Chánh tông tứ Thập tam thế Phổ Đà, Diệu Pháp nhị tự trú trì Húy thượng Tâm Hạ Lượng tự Từ Mẫn hiệu Chơn Giác Hòa Thượng Giác linh thùy từ chứng giám.

s

CHƯƠNGTRÌNH LỄ TANG
CỐ HÒA THƯỢNG THÍCH TỪ MẪN

Phó Ban trị sự Thành hội Phật giáo Tp. Đà Nẵng

Trưởng Ban giáo dục Tăng Ni Thành hội Phật giáo Tp. Đà Nẵng

Hiệu trưởng Trường Trung cấp Phật học Tp. Đà Nẵng

Trú trì tổ đình Phổ Đà & Diệu Pháp

*Ngày 30 tháng 05 năm 2007 (14/04/Đinh hợi)

- 9 h: Cung thỉnh nhục thân cố Hòa thượng nhập kim quan

- 10 h: Khai kinh bạch Phật

- 10 h 30: Cung thỉnh giac linh an vị

- 11 h: Lễ thọ tang

- 14h: 

* Lễ viếng

* Luân phiên tung niệm

*Ngày31 tháng 05 năm 2007 (15/04/Đinh hợi)

- 6h: Cúng trà

- 8h: Lễ viếng

- 10h

* Cúng ngọ

* Cung tiến giác linh

- 14h

* Lễ viếng

* Luân phiên tụng niệm

*Ngày 01 tháng 06 năm 2007 (16 - 04 - Đinh hợi)

- 6h: Cúng trà

- 8h: Lễ viếng

- 10h

* Cúng ngọ

* Cung tiến giác linh

- 14h

* Lễ viếng

* Luân phiên tụng niệm

*Ngày 02 tháng 06 năm 2007 (17/04/Đinh hợi)

- 6h: Cúng trà

- 8h: Lễ viếng

- 10h

* Cúng ngọ

* Cung tiến giác linh

- 14h

* Lễ viếng

* Luân phiên tụng niệm 

*Ngày 03 tháng 06 năm 2007 (18/04/Đinh hợi)

- 6h: Cúng trà

- 8h: Lễ viếng

- 10h

* Cúng ngọ

* Sơ tuần

- 14h

* Lễ viếng

* Luân phiên tụng niệm

*Ngày 04 tháng 06 năm 2007 (19/04/Đinh hợi)

- 6h : Cúng trà

- 8h lễ viếng

- 10h

* cúng ngọ

* Lễ sơ dạ

- 15h: Thỉnh giác linh giác linh tham Phật yết tổ tại chùa Pháp Lâm & Diệu Pháp

- 18 h: Sái tịnh bảo tháp 

- 19h30: Lễ tưởng niệm của môn đồ pháp quyến & đạo hữu Phật tử

*Ngày 05 tháng 06 năm 2007 (20/04/Đinh hợi)

- 5h: Lễ phát hành - phất trần - di quan thính sự trước chánh điện

- 7h: Lễ truy niệm (Có chương trình riêng)

- 8 h:

* Lễ cung tống kim quan nhập bảo tháp tại chùa Tịnh Quang

* Rải hoa tiễn biệt

* Cung thinh giác linh cố Hòa thượng an vị tại tổ đường chùa Phổ Đà

CHỨNG MINH

HT. Thích Thiện Bình -UV. Kiểm soát HĐTSGHPGVN

HT. Thích Chơn Ngộ - TV. HĐCMGHPGVN

HT. Thích Giác Viên - UV. HĐTSGHPGVN

HT. Thích Viên Minh - Phó Ban trị sự THPGTPĐN

HT. Thích Minh Tuấn - Phó Ban trị sự THPGTPĐN

CHẤP LỆNH

TT. Thích Như Thọ

TT. Thích Như Đạt

TT. Thích Huệ Thông

TT. Huệ Thường

CHỦ SÁM

HT. Thích Viên Minh

HT. Thích Minh Tuấn

HT. Thích Giác Viên

CÔNG VĂN

ĐĐ. Thích Minh Thành

KINH SƯ

ĐĐ. Thích Quảng Độ

ĐĐ. Thích Tâm Hữu

ĐĐ. Thích Quảng Tâm

ĐĐ. Thích Thông Trí

ĐĐ. Thích Tâm Hậu

ĐĐ. Thích Chúc Tín

ĐĐ. Thích Thánh Khâm

ĐĐ. Thích Đạo Quang

ĐĐ. Thích Khánh Chơn

ĐĐ. Thích Quảng Minh

ĐĐ. Thích Đạo Hạnh

ĐĐ. Thích Tịnh Bảo

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

THÀNH HỘI PHẬT GIÁO TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

*************

Đà Nẵng, ngày 29 tháng 5 năm 2007

BAN TỔ CHỨC TANG LỄ

Hòa thượng THÍCH TỪ MẪN

- PHÓ BAN TRỊ SỰ THÀNH HỘI PHẬT GIÁO TP. ĐÀ NẴNG

- TRƯỞNG BAN GIÁO DỤC TĂNG NI THÀNH HỘI PHẬT GIÁO ĐÀ NẴNG

- HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TRUNG CẤP PHẬT HỌC TP. ĐÀ NẴNG

- TRÚ TRÌ TỔ ĐÌNH PHỔ ĐÀ VÀ DIỆU PHÁP.

* TRƯỞNG BAN :

Hòa thượng THÍCH GIÁC VIÊN

Ủy viên Hội đồng trị sự GHPGVN

Quyền Trưởng Ban Trị sự THPG TP. Đà Nẵng.

* PHÓ BAN :

- HT. THÍCH VIÊN MINH : Phó Ban Trị sự THPG Tp. Đà Nẵng.

- HT. THÍCH MINH TUẤN : Phó Ban Trị sự THPG Tp. Đà Nẵng.

- TT. THÍCH PHÁP CAO : Phó Ban Trị sự THPG Tp. Đà Nẵng.

- TT. THÍCH TỪ TÁNH : Phó Ban Trị sự THPG Tp. Đà Nẵng.

- TT. THÍCH CHÍ MÃN : Chánh Thư ký BTS THPG Tp. Đà Nẵng.

- Ông NGUYỄN BẢY : Phó Ban tôn giáo Tp. Đà Nẵng.

* BAN THƯ KÝ :

- TT. THÍCH CHÍ MÃN : Chánh Thư ký BTS THPG Tp. Đà Nẵng.

- ĐĐ. THÍCH THÔNG ĐẠO : Phó Thư ký BTS THPG Tp. Đà Nẵng.

- ĐH. LÊ HÀ THỌ : Phân Ban Hướng dẫn GĐPTĐN.

* THỦ QUỸ :

- NS. THÍCH NỮ DIỆU THỤC : Thủ quỹ Ban Trị Sự THPG Tp. Đà Nẵng.

- NS. THÍCH NỮ HẠNH TỪ

- SC. THÍCH NỮ DIỆU TÍN

* BAN NGHI LỄ :

- TT. THÍCH NHƯ THỌ

- ĐĐ. THÍCH MINH THÀNH

- VÀ CÁC BAN VIÊN

* BAN XƯỚNG NGÔN

- TT. THÍCH TRÍ VIÊN

- ĐĐ. THÍCH THÔNG ĐẠO

- ĐĐ. THÍCH THANH BẢO

* BAN HẦU KIM QUANG

- ĐĐ. THÍCH PHÁP CHÂU

- TĂNG SINH TRƯỜNG TCPH

* BAN THỊ GIẢ

- SC. THÍCH NỮ DIỆU TỪ

- SC. THÍCH NỮ GIỚI HẢO

- TĂNG NI SINH TRƯỜNG TCPH

* BAN TRANG HOÀNG

- ĐĐ. THÍCH HUỆ THỨC

- VÀ CÁC BAN VIÊN

* BAN TRAI SOẠN

- SC. THÍCH NỮ DIỆU NGHI

- SC. THÍCH NỮ MINH TỊNH

- SC. THÍCH NỮ DIỆU CHÍ

- SC. THÍCH NỮ THANH TUỆ

* BAN HÀNH ĐƯỜNG

- TĂNG NI SINH TRƯỜNG TCPH

- ĐOÀN PHẬT TỬ THIỆN SANH

* BAN Y TẾ

- TT. THÍCH MINH CƠ

- TUỆ TĨNH ĐƯỜNG PHÁP LÂM

* TƯ LIỆU KỶ YẾU

- ĐĐ. THÍCH ĐẠO LỰC

- ĐĐ. THÍCH THANH HÒA

* BAN TIẾP TÂN

- TT. THÍCH HUỆ THƯỜNG

- TT. THÍCH ĐỨC TRÍ

- ĐĐ THÍCH NGUYÊN HỒNG

* BAN TIẾP LỄ

- NS. THÍCH NỮ DIỆU CẢNH

- SC. THÍCH NỮ HẠNH TRÍ

- SC. THÍCH NỮ DIỆU THANH

* BAN HƯƠNG ĐĂNG

- ĐĐ. THÍCH PHÁP CHIẾU

- TĂNG SINH TRƯỜNG TCPH

* BAN TIẾP TRÚ

- ĐĐ. THÍCH QUẢNG TÂM

- ĐĐ. THÍCH PHÁP TIẾN

- NS. THÍCH NỮ DIỆU CẢNH

* PHƯƠNG TIỆN DI CHUYỂN

- ĐĐ. THÍCH TỪ NGHIÊM

- ĐĐ. THÍCH QUẢNG TÂM

* BAN ẨM THỰC

- NS. THÍCH NỮ TỊNH ĐỨC

- NS. THÍCH NỮ HẠNH TÂM

- SC. THÍCH NỮ DIỆU NGUYÊN

* TRẬT TỰ - MÔI TRƯỜNG

- ĐOÀN PHẬT TỬ THIỆN SANH

* ÂM THANH

- ĐH. TRẦN VĂN HỒNG

- ĐH. HỒ PHƯỚC THANH

* PHIM ẢNH

- BỔN TỰ

---o0o---

Cập nhật: T. Bổn Đạt - Phổ Trí - Thanh Hòa

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
11/10/2010(View: 11257)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
11/2/2010(View: 10641)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
11/1/2010(View: 15814)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
11/1/2010(View: 47302)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
10/29/2010(View: 9980)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).
10/23/2010(View: 8533)
Trong Cây Có Hoa Trong Đá Có Lửa Kính Dâng Hòa Thượng Thích Như Điển nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của Ngài và kỷ niệm 40 năm khai sơn Chùa Viên Giác tại Đức Quốc Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng “Trong Cây Có Hoa, Trong Đá Có Lửa” là lời pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên do Hòa Thượng Thích Như Điển nhắc lại trong thời giảng Pháp của Ngài mà tôi đã nghe được khi theo hầu Ngài trong chuyến đi Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ năm 2006. Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) là người Nhật, Ngài sinh năm 1200 và tịch năm 1253, thọ 53 tuổi. Ngài là Sáng Tổ của của Soto-Zen (Thiền Tào Động) của Nhật Bản, và là tác giả bộ sách nổi tiếng “Chánh Pháp Nhãn Tạng” “Ki no naka ni, hana ga aru (Trong cây có hoa), Ishi no naka ni, hi ga aru (Trong đá có lửa)” Đó là pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), được Hòa Thượng Như Điển dịch sang lời Việt. Lời thơ quá tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng dung chứa cả một kho tàng giáo lý về Nhân Duyên Quả của Đạo Phật.
10/23/2010(View: 8673)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.
10/23/2010(View: 8475)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
10/23/2010(View: 8307)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự
10/23/2010(View: 7872)
Cư sĩ Mai Thọ Truyền sinh ngày 01-4-1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre trong một gia đình trung lưu. Thuở nhỏ ông được theo học tại trường Sơ học Pháp - Việt Bến Tre, rồi Trung học Mỹ Tho, và Chasseloup Laubat Saigon. Năm 1924, ông thi đậu Thư ký Hành chánh và được bổ đi làm việc tại Sài Gòn, Hà Tiên, Chợ Lớn. Năm 1931, ông thi đậu Tri huyện và đã tùng sự tại Sài Gòn, Trà Vinh, Long Xuyên và Sa Đéc. Hành nhiệm ở đâu cũng tỏ ra liêm khiết, chính trực và đức độ, không xu nịnh cấp trên, hà hiếp dân chúng, nên được quý mến.