Cuộc đời và hành trạng

22/08/201509:15(Xem: 11822)
Cuộc đời và hành trạng


HT Thich Tam Chau


Cuộc đời và Hành trạng
Đại Lão Hòa Thượng Thích Tâm Châu
(95 thế tuế. 74 Hạ Lạp)
 
Kẻ hèn này lòng chân thành đã viết:
Ngài Trí Quang, bậc đại sĩ thượng thừa
Ngài Thiện Minh, cõi trần thế đủ chưa
Ngài Huyền Quang, kế nghiệp ba đời Tăng Thống
Đức Đệ Nhất, thượng Tịnh hạ Khiết
Đức Đệ Nhị, thượng Giác hạ Nhiên
Đức Đệ Tam, Đôn Hậu tịch biên
Và đã viết:
Bồ Tát Quảng Đức, hiện thân cứu đạo
Thánh Tử Tăng Ni, nung lửa lò cừ
Phật Tử Tín đồ, chấn động thái hư
Hoa sen nở ngát bùn lầy quện cáu
Một kiếp nhân sinh ba vạn sáu
Những tưởng rằng đằng đẵng trăm năm
Thấm vào đâu thượng báo hạ hoằng
Lòng nung nấu bản hoài tâm nguyện
Nếu không viết
Cuộc đời và hành trạng Hòa Thượng Thích Tâm Châu
95 năm đại thọ, tròn thế kỷ cơ cầu
74 năm Hạ Lạp, viên dung vô quái ngại
Thì thà không có đôi tay cầm bút
Không có cái đầu hướng đạo tư duy
Không có tấm lòng chắt lọc nghĩ suy
Sống phơi cát bụi trơ trơ sỏi đá
Xin chắp tay, ngưỡng vọng Giác Linh Ngài Thượng Thủ
Xin chân thành, hướng về Kim Bảo Đài Từ Quang
Nghe kệ kinh chuông mõ trầm bỗng ngân vang
Tiễn Ngài đi trên đường về Phật độ
Cuộc đời Ngài đâu cần ghi để nhớ
Hành trạng Ngài đâu cần khắc để lưu
Một ngôi sao gắn trên cánh Vô Ưu
Vốn miên viễn mọi không thời rạng chiếu
Đất Ninh Bình sản sinh bậc kiệt xuất
Năm 1954, bỏ Bắc vào Nam
Di cư ư, không phải, bởi không chấp nhận sắc đỏ thiết ngàm
Năm 1963, vô minh ập phủ Đạo Vàng
Chịu chết ư, dễ gì, Phật Giáo sống thì Dân Tộc mới sống
Những cái câu đẹp như sơn son thiếp lộng:
"Dân Tộc còn thì Phật Giáo còn"
"Phật Giáo còn thì Dân Tộc còn"
2000 năm lịch sử Phật Giáo, vàng ngọc không hơn
5000 năm lịch sử Dân Tộc, kim ngân không sánh
Dân Tộc và Đạo Pháp, tương lân để sống
Đạo Pháp và Dân Tộc, thấm nhuận thăng hoa
Hễ ngược lại là suy vong biến thái
Ngài và những bậc thượng thừa thuở ấy
Ngồi trên lửa nhưng vẫn bình chân như vại
Ngồi trong cùm nhưng xiềng xích vỡ toang
Cả thế giới đều ngưỡng phục kinh hoàng
Cả nhân loại đều giật mình rúng động
Tôi muốn nhắc cộc mốc này
Để Phật Giáo Việt Nam hôm nay và ngày mai phải biết
Nếu 63 mà đã bị chết tiêu ma
Nếu 63 mà bị hủy diệt Ta Bà
Thì quý vị không còn đâu mà đẩy đưa nhân ngã
Và tôi xin nhắc
Lê Long Đĩnh kê lên đầu róc mía
Nào đáng gì so với Pháp Nạn 63
Bởi Long Đĩnh hôn quân mượn thú tiêu pha
Còn 63 là cả âm mưu sách lược tiêu diệt Phật Giáo
Thế thì 75, chuyện gì kia chứ?
Ố ồ cộc mốc, cả nước đỏ au
Vận mệnh Dân Tộc, nói nữa chi đau
Vận mệnh Tổ Quốc, nói sao cho hết
40 năm, nát con tàu thống thiết
40 năm, nát con tàu trầm kha
Niềm đau sỉ nhục đến Tổ Tiên lịch sử Ông Cha
Và di họa đến cả những đàn em thế hệ
Ngài Tâm Châu ơi
Sao trong lúc ngưỡng vọng Giác Linh Ngài kính lễ
Mà lại viết những lời khó xúc động bi thương
Bởi Ngài nói:
"Cả cuộc đời tôi phụng sự cho Quê hương
"Cả cuộc đời tôi dấn thân cho Đạo Pháp
"Tôi đã hơn 90 rồi mà ông còn thôi thúc
"Tôi từng nói hễ mỗi lần qua Úc
"Phải dành thời giờ để ghé thăm
"Để gặp và ngưỡng mộ MG"
Ngài ơi, chết con rồi, muôn ngàn lần không dám
Và chính Ngài đã gởi những tác phẩm biếu tặng
Nào thơ văn, nào những CD diễn ngâm
Của bậc siêu tuyệt thượng túc uyên thâm
Nhạn quá trường không, thái hư lưu tích
Kính tiễn Ngài đi, về thăm Phật quốc
Ta Bà kham nhẫn, hồi nhập độ sinh
Vì Tam đồ Lục đạo, dù khổ quên mình
Vì nhân gian trần thế, dù đau nào thấm
Mượn tấm thân ngũ ấm
Vào sinh tử rong chơi
Mang ánh đạo cứu đời
Bản hoài hoằng thệ nguyện.
 
Úc Châu sáng ngày 22-8-2015
Tiểu tăng Thích Nhật Tân
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/12/2010(Xem: 10865)
Hòa thượng Thích Quảng Thiệp (1928-1998)
25/11/2010(Xem: 37787)
Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Đây là 43 công án Vua đưa ra để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia. Thầy Làng Mai đã dịch những công án này ra tiếng Việt và tiếng Pháp năm 1968. Bản dịch tiếng Pháp xin xem ở phần phụ lục cuốn Clé Pour Le Zen, tác giả Nhất Hạnh, do nhà xuất bản JC Lattes ấn hành. Bản Hán Việt có trong Thơ Văn Lý Trần quyển II (Quyển thượng, trang 108-121), NXB Khoa Học Xã Hội.
24/11/2010(Xem: 15224)
Tiểu sử nhà văn Quách Tấn
15/11/2010(Xem: 10683)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11395)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 10762)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 17120)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 48824)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 10135)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).