Chương Trình Tang Lễ

22/08/201506:02(Xem: 14188)
Chương Trình Tang Lễ

HT Thich Tam Chau


CHƯƠNG TRÌNH LỄ TANG

ĐỨC TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG thượng TÂM  hạ CHÂU

THƯỢNG THỦ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRÊN THẾ GIỚI

 

 

Thứ Bảy ngày 22 tháng 08 năm 2015  (09.07.Ất Mùi)

 

10:00: Lễ khai kinh bạch Phật

10:30:  Lễ nhập kim quan và an vị Giác linh

11:00:  Thọ tang

14:00   Lễ viếng

16:00   Luân phiên tụng kinh niệm Phật

 

Chủ Nhật ngày 23 tháng 08 năm 2015 (10.07.Ất Mùi)

 

06:00   Lễ tiến trà

08:00   Lễ viếng

10:30   Lễ cúng ngọ và truy tiến Giác Linh

14:00   Lễ viếng

16:00   Luân phiên tụng kinh niệm Phật

 

Thứ Hai ngày 24 tháng 08 năm 2015 (11.07.Ất Mùi)

 

06:00   Lễ tiến trà

08:00   Lễ viếng

10:30   Lễ cúng ngọ và truy tiến Giác Linh

14:00   Lễ viếng

16:00   Luân phiên tụng kinh niệm Phật

 

Thứ Ba ngày 25 tháng 08 năm 2015 (12.07. Ất Mùi)

 

06:00   Lễ tiến trà

08:00   Lễ viếng

10:30   Lễ cúng ngọ và truy tiến Giác Linh

14:00   Lễ viếng

16:00   Luân phiên tụng kinh niệm Phật

18:00   Cung thỉnh di ảnh Giác Linh lễ Phật, yết Tổ

 

 

Thứ Tư ngày 26 tháng 08 năm 2015 (13.07.Ất Mùi)

 

06:00   Lễ tiến trà

08:00   Lễ truy niệm (có chương trình riêng)

Lễ cung tống kim quan đến nơi trà tỳ

 

12:00   Lễ An vị Giác Linh

12:30   Lễ cúng dường trai Tăng

14:00   Hoàn mãn

CHƯƠNG TRÌNH LỄ TRUY NIỆM

ĐỨC TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG thượng TÂM hạ CHÂU

---o0o---

Buổi Lễ bắt đầu 08:00 giờ sáng

1.        Phật tử vân tập trước linh đài

2.        Cung thỉnh chư Tôn đức Tăng Ni quang lâm

3.        Cử ba hồi chuông trống bát nhã

4.        Giới thiệu  thành phần tham dự

5.        Cung tuyên tiểu sử

6.        Điếu văn của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Trên Thế Giới

7.        Điếu văn của  các Giáo Hội

8.    Điếu văn môn phái Vĩnh Nghiêm

9.      Tuyên đọc Điện văn phân ưu của các Giáo hội, các Hội đoàn

10.    Cảm niệm của Đại diện Phật tử Tổ Đình Từ Quang

11.    Cảm niệm của Môn đồ Pháp quyến

12.    Cảm tạ của Ban Tổ Chức

13.    Lễ Phất trần và tuyên Pháp ngữ

14.    Cung thỉnh kim quan trà tỳ

 

 

 

 

Ý kiến bạn đọc
26/08/201513:34
Khách
Ngậm ngùi viết đôi dòng là lúc bên TĐTử Quang cử hành lễ phất trân tuyên pháp ngử cử hành di Kim Quan Đức Ân sư đến nơi hoả đàn cử hành tái diển cành Song Lâm.Trước cảnh Thầy trò 2 ngã phân ly ;biết nói gì hơn gieo năm vóc xuống đất đê đâu đảnh lễ bái biệt Ân Sư kính nguyện GL bất vong nguyện lực tái hiện Đàm hoa;hồi nhập Ta Bà tuỳ nguyện phân thân tiếp tục du hoá truyền pháp truyền giáo kiến lập tinh xá;thiền thất thiền viện Phật học viện tiếp tục giáo hoá đào tạo tăng tài hửu dụng trong mai hậu.Nam Mô Đăng Bảo Toạ bồ Tát chứng minh.Thành kính bái vọng về Linh đường nơi trân tàng Linh Cốt của Đức Ân Sư
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 9087)
Hòa thượng họ Võ, húy Trọng Tường, Pháp danh Tâm Phật, tư Tri Đức, hiệu Thiện Siêu, Hòa thượng sinh ngày 15 tháng 7 năm Tân Dậu (1921) trong môt gia đình thâm Nho tín Phật ở làng Thần Phù, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, thành phố Huế. Thân Phụ là C ông Võ Trọng Giáng, thân mẫu là Cụ bà Dương Thị Viết. Hòa thượng là con trưởng trong một gia đình có 6 anh em: 3 trai, 3 gái. Người em kế cũng xuất gia, đó là cố Thượng tọa Thích Thiện Giải, nguyên là Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Lâm Đồng; Trú trì chùa Phước Huệ - Bảo Lộc.
09/04/2013(Xem: 10818)
Thầy xuất thân trong một gia đình kính tín Tam bảo. Thầy là con út trong gia đình gồm 6 anh chị em. Cha là cụ Ông Lâm Sanh Thảo, một nhà trí thức yêu nước; Mẹ là cụ Bà Trần Thị Năm, một phật tử thuần túy và cũng là một người Mẹ mẫu mực đảm đang.
09/04/2013(Xem: 14271)
Thượng tọa Thích Chơn Thanh, thế danh Phan Văn Bé, sinh ngày 13 tháng 3 năm 1949 tại xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Kiến Phong, nay là tỉnh Đồng Tháp. Thân phụ là Cụ ông Phan Văn Vinh, thân mẫu là Bà Nguyễn Thị Mến. Thượng tọa có 06 anh em, 2 trai 4 gái, Ngài là anh cả trong gia đình.
09/04/2013(Xem: 25990)
Cuộc đời tu tập và hành đạo của Thầy Minh Phát là bức tranh minh họa hiện thực sinh động lời dạy của Ðức Phật: “Này chư Tỳ kheo! Hãy du hành vì an lạc, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư Thiên và loài người”.
09/04/2013(Xem: 15600)
Thuở nhỏ lòng ưa cửa Ðạo, mến chuộng nếp áo phước điền, ngưỡng trông tịnh xá Kỳ Viên, tha thiết lòng cầu xuất tục. 16 tuổi, xuất gia học đạo chùa Tây An, Châu Ðốc trước tiên, gần quý Thầy hiền, trau dồi Phật tuệ, bang sài vận thủy, tu sửa đạo tràng; 27 tuổi, cầu thọ tam đàn. Kể từ đó tinh chuyên tu niệm.
09/04/2013(Xem: 9953)
Đại lão hòa thượng Thích Trí Nhãn thế danh là Đoàn Thảo, pháp danh Như Truyện, tự Giải Lệ, hiệu Thích Trí Nhãn. Ngài sinh ngày 10 tháng giêng năm Kỷ Dậu tức vào năm 1909 dương lịch, tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, Xã Thanh Hà, nay thuộc thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, Thị Xã Hội An.
09/04/2013(Xem: 18029)
Xuất thân trong một gia đình gia giáo có thân phụ là Chánh Tổng nên Hòa Thượng đã sớm hấp thụ Nho học và Tây học từ thuở ấu niên. Vì thế, Hòa Thượng đã thông thạo cả Hán văn lẫn Pháp văn, kết hợp và dung hòa được cả hai truyền thống văn hóa Đông – Tây.
09/04/2013(Xem: 15865)
Hòa Thượng thượng Tâm hạ Thành. Thế danh là Nguyễn Ðức Huân sinh năm 1930 tại làng Trà Bắc, Phủ Xuân Trường, Tỉnh Nam Ðịnh, Miền Bắc Việt Nam. Năm 1942 khi vừa tròn 12 tuổi, Ngài ngộ lý vô thường và xuất gia học đạo với Sư Tổ Thượng Chính Hạ Ðĩnh tại chùa Yên Cư, Phủ Xuân Trường, Thuc Sơn Môn Trà Bắc. (Sơn môn Trà Bắc, Trà Trung và Trà Ðông thuc Tổng Trà Lũ, là hậu thân của Sơn môn Yên Tử). Ngài được Bổn Sư ban Pháp danh là Ngọc Tiểu Pháp hiệu Tâm Thành.
09/04/2013(Xem: 13438)
Mỗi lần đi Huế lòng tôi lại nao nao khôn tả. Huế là đạo, là thơ, là nghĩa tình ý vị, là tinh hoa văn hóa của ba miền đất Việt, nhưng cũng là mảnh đất khô cằn của đói nghèo khốn khổ “mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu cơm” đã hứng chịu nhiều thiên tai nhân họa. Huế được phong phú về mặt văn hóa, tâm linh là nhờ hình ảnh những vị đại lão hòa thượng nơi đây đã sống, hành đạo và xả báo thân. Dù đã viên tịch, dư hương các ngài vẫn như còn phảng phất nơi các ngôi tổ đình tĩnh lặng và những rừng thông bạt ngàn.
09/04/2013(Xem: 8892)
Giờ phút Thầy an nhiên xả báo thân, thì bên này hơn nữa đêm. Một Phật tử của Thầy ở miền Đông nước Mỹ, giọng đầm đìa nước mắt, khấp báo cho tôi tin Thầy đã từ biệt, lệ tiếc thương như tràn ngập, khắp đó khấp đây. Rồi Tuệ Sỹ, một hậu tấn, kẻ đồng tâm dễ thương của Thầy, mà tôi thường ví như một hạt kim cương hiếm hoi lẫn trong đá sỏi của Phật Giáo Việt Nam ngày nay, trong nổi cô quạnh bao la vừa sau một mất mát lớn lao đã ai tín cho tôi bằng lá thư không niêm mà tôi biết mỗi chữ cũng trĩu nặng nổi lòng.