Kính nhớ Thầy

19/08/201519:44(Xem: 9014)
Kính nhớ Thầy



HT Thich Giac Toan

1. 

Lần đầu con gặp Pháp sư

Mà nghe tâm cảm dường như quen rồi

Dáng đi, dáng đứng, dáng ngồi

Cùng là những lúc nói cười thân thương

Lại thêm những lúc thượng đường

Uy nghi thuyết giảng, pháp tuôn hùng hồn

Âm thanh trầm ấm du dương

Lòng con bừng ngộ thiền hương dạt dào

Thì ra ngàn kiếp tâm giao

Linh Sơn cốt nhục ngọt ngào trong tim

Nụ cười ru giấc ngủ êm

Pháp âm đồng vọng tận tiềm thức xưa

Nhân duyên như đợi, như chờ

Nay Thầy về nối giấc mơ hôm nào!

Thầy đi lòng những nao nao

Đoàn du Tăng vẫy tay chào vấn vương!


2.

Đời Thầy sứ giả hoằng dương

Rày đây mai đó… du phương ta bà

Hạnh tu Khất sĩ Tăng-già

Tam y nhất bát, ngàn nhà hóa duyên

Đâu đâu Thầy cũng hiện tiền

Bồ-tát bổ xứ… rưới hiền độ sanh

Một ngày phát túc căn lành

Trung Tâm tịnh xá sẵn dành hồng ân

Con quỳ trình bạch tỏ phân

Thầy nhận con, tiếp nối vần độ sanh

Sáu lăm, bảy tám … hóa thành

Mười ba năm (1965-1978)… hạnh cao thanh gội nhuần

Dòng đời xe pháp chuyển luân

Bóng Thầy ngàn dặm phong trần mười phương

 

Ấn tâm tịnh lạc chơn thường

Trung Tâm – Pháp viện… đạo trường thắng duyên.

3.

Đệ huynh gắn kết mối giềng

Đồng tâm hiệp lực nhiệm huyền xưa sau

Trời xanh mây trắng chiêm bao

Năm châu bốn biển một màu đại dương

Thầy đi biền biệt tha hương

Mong Thầy vạn dặm cát tường nhân gian

Trung Tâm pháp hội truyền đăng

Cùng nhau sách tấn hòa chan thế trần.

Ngày ngày chuyển pháp xa luân

Tháng năm góp nhặt tinh thần xương minh

Tăng-già tăng trưởng tâm linh

Tại gia cư sĩ thoát tình lầm mê

Mỗi tuần mỗi vượt sơn khê

Chơn lý pháp bảo nẻo về thanh lương

Nhớ ân Phật tổ khai đường

Niệm ân Thầy đã soi gương hạnh lành

Pháp trần bùi ngọt khế chanh

Đạo thiêng trầm mặc cao thanh hương thiền

Thất tình lục dục… não phiền

Giới định tuệ trú an nhiên tịch nhàn.

4.

Bốn phương tám hướng trần gian

Tâm yên thì vạn nẻo đàng đều yên

Tâm vọng dù ở cảnh tiên

Lao xao mộng tưởng cái triền[i] buộc thân

Ánh nhiên đăng” chiếu diệu trần

Tĩnh tâm tứ kệ” chân nhân Thầy truyền

Hiển đạo “Pháp môn tọa thiền

Hiếu hạnh “Thương nhớ mẹ hiền” hương thiêng

Ta bà ngàn dặm pháp duyên

Mỗi bước đi, mỗi lời hiền giảng phân

Truyền trao “Tư tưởng siêu nhân

Giáo khuyên “Trai giới trường sinh” thiện lành

Thương đời “Diệu lý…” tương sanh

Vô lượng pháp bảo hóa thành phạm âm

Đông phương”, “Pháp đăng”, “ Thậm thâm”

Nhiên đăng”, “Tuệ…”, “Bảo…” “Tỉnh tâm”, “Định thiền

Minh Quang”, “Viên thông”, “Tâm kinh

Phá mê”, “Bát-nhã”… huyền linh ngút ngàn

Chữ Tê (T) lợi hại… vô vàn

Tình, tiền, tù, tội… trái oan khổ buồn

Nhân quả chuyền níu vấn vương

Tỉnh thức giải thoát chơn thường tịnh không.

5.

Đời Thầy Nam, Bắc, Tây, Đông

Công đức viên mãn thuận dòng bệnh duyên

Chín năm sâu lắng giải phiền (2006-2015)

Ly xả tứ đại, an nhiên tịch nhàn

Tăng Ni, Phật tử các hàng

Kính thương mến tiếc… lệ tràn bờ mi

Đạo tình sanh tử biệt ly

Thầy đi, con ở sầu bi khôn cùng

Trời Ca-li tiễn... lệ tuôn

Trời Sài Gòn đón… suối nguồn hiếu tâm

Xưa Thầy đi bóng xa xăm

Nay Thầy về lại tịch trầm hương thiêng

Thầy về trong giấc ngủ yên

Nhục thân tĩnh lặng ngự thuyền tường vân

Nam-mô Phật chứng pháp thân

Nam-mô Pháp bảo hiển thần Sa-môn

Nam-mô Tăng nhập Linh Sơn

Tứ đức “tịnh lạc ngã thường” thiền gia

Nam-mô Bát-nhã ba la

Niết-bàn an trụ Tăng-già hạo nhiên!

PV.Minh Đăng Quang-Q.2, 03/7/Ất Mùi

Trần Quê Hương

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/08/2011(Xem: 8795)
Hòa thượng Thích Bích Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Hoằng đạo, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam; nguyên Chánh Đại Diện GHPGCT Trung phần, Tổ thứ 3 Tổ đình Nghĩa Phương, Tổ Khai sơn các chùa thuộc Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương, Tông trưởng Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương (1921 - 1972).
30/07/2011(Xem: 10046)
Thế danh: Nguyễn Đình Mân, Pháp danh: Thị Uẩn, Pháp tự: Hạnh Đạo, Pháp hiệu: Thuần Phong, Đời thứ 42 thuộc dòng Thiền Lâm Tế.
28/07/2011(Xem: 8448)
Hòa Thượng Thích Đạt Hảo, Hòa thượng Thích Đạt Hảo thế danh Lê Văn Bân, pháp danh Tánh Tướng, pháp hiệu Đạt Hảo, sanh năm Đinh Tỵ (1917), tại ấp Bình Hữu, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Gia Định (1). Sư là con út trong gia đình có 6 anh chị em, 2 người trai bốn người gái; đặc biệt cả nhà có 8 người đều lần lượt xuất gia tu hành: -Phụ thân Lê Văn Bộn (1876- 1943), pháp danh Tánh Từ, pháp hiệu Đạt Bi. -Mẫu thân Ngô Thị Cờ (1884-1941), pháp danh Tánh Niệm, pháp hiệu Đạt Phật. -Chị thứ 2 Lê Thị Tình (1901-1970), pháp danh Tánh Hóa, pháp hiệu Đạt Đạo. -Chị thứ 3 Lê Thị Ưa (1904- ?) pháp danh Tánh Viên, pháp hiệu Đạt Thông. -Chị thứ 4: Lê Thị Luận (1907- ?), pháp danh Tánh Minh, pháp hiệu Đạt Quang. Chị thứ 5 Lê Thị Nghị (1909- ?), pháp danh Tánh Hồng, pháp hiệu Đạt Tâm -Anh thứ 6 Lê Văn Kỉnh (1915-1962), pháp danh Tánh Kỉnh, Pháp hiệu Đạt Xương. -Em út là Hòa thượng Thích Đạt Hảo.
15/07/2011(Xem: 9245)
Thiền sư húy thượng NGUYÊN hạ BÀNG - ĐẠI NGUYỆN tự CHÍ NĂNG hiệu GIÁC HOÀNG , thế danh LÊ BẢN, sinh năm Canh Dần 1950, tại thôn An Ngãi, xã Nhơn An huyện An Nhơn tỉnh Bình Định. Ngài sinh trong một gia đình nhiều đời sùng kính Tam Bảo. Thân phụ: Cụ ông LÊ TRÀ, thân mẫu: Cụ Bà TRẦN THỊ TÁM. Ngài là anh cả trong gia đình gồm có năm người con.
24/06/2011(Xem: 9484)
Vua Lê Đại Hành mất vào năm 1005, các hoàng tử tranh giành ngôi vua tạo nên cảnh khổ đau tràn ngập cho Dân Tộc, bên trong bị nội loạn, bên ngoài bị ngoại xâm đe dọa. Trước những thảm trạng đen tối u ám và đầy dẫy những thống hận đó, Vạn Hạnh thiền sư xuất hiện như một thứ ánh sáng phi thường quét sạch vùng trời giông tố để đưa vận nước bước vào thời đại huy hoàng thịnh trị.
24/06/2011(Xem: 8997)
Trận chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Vương Quyền năm 939 là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử dựng nước của Việt Nam. Ngọn sóng Bạch Đằng Giang đã cuốn trôi đi nỗi đau nhục của người dân nô lệ, nhận chìm tham vọng của nòi Hán áp đặt lên đất nước ta trong suốt một ngàn năm. Từ đây Việt Nam không còn là một huyện lỵ của người Hán, từ đây một quốc gia đúng nghĩa đã xuất hiện dưới vòm trời Đông Á.
24/06/2011(Xem: 11236)
Ngài họ Nguyễn húy là Hữu Kê, dòng họ của Đại thần Nguyễn Trãi. Nguyên quán thuộc Tông sơn Gia miêu Ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa. Ngài thọ sanh năm Nhâm Tý (1912), tại làng Nguyệt Biều, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Vốn thọ sanh trong gia đình vọng tộc, quý phái, thích lý luận Nguyễn Hữu Độ.
24/06/2011(Xem: 7999)
Ngài Mật Thể, pháp danh Tâm Nhất, pháp tự Mật Thể, tên thật là Nguyễn Hữu Kê, sinh năm 1912 ở làng Nguyệt Biều, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Chánh quán huyện Tống Sơn, Gia Miêu ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa, thuộc dòng Thích Lý của Cụ Nguyễn Hữu Độ. Gia đình Ngài qui hướng đạo Phật, cụ thân sinh và người anh ruột đều xuất gia.
23/06/2011(Xem: 8805)
Đọc Thánh Đăng Ngữ Lục, do Sa môn Tánh Quảng, Thích Điều Điều đề tựa trùng khắc, tái bản năm 1750, ta thấy đời Trần có năm nhà vua ngoài việc chăn dân, họ còn học Phật, tu tập và đạt được yếu chỉ của thiền, như vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và Trần Minh Tông. Và sự chứng ngộ của các Thiền sư đời Trần thì không thấy đề cập ở sách ấy, hoặc có đề cập ở những tư liệu khác mà hiện nay ta chưa phát hiện được, hoặc phát hiện thì cũng phải tra cứu và luận chứng dài dòng rồi mới kết đoán ra được.
23/06/2011(Xem: 9473)
Đọc sử Phật giáo Việt Nam, hẳn chúng ta đều biết nước mình có một ông vua đi tu ngộ đạo, đó là vua Trần Nhân Tông. Ngài làm vua trong thời gian nước nhà đang bị quân Mông Cổ đem đại quân sang xâm lấn nước ta lần thứ ba.