Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Kính lạy Giác Linh Thầy (HT Minh Hạnh)

23/06/201506:54(Xem: 8498)
Kính lạy Giác Linh Thầy (HT Minh Hạnh)



HT Thich Minh Hanh (7)

CẢM NIỆM THÂM TÌNH

 

Duyên mãn, Người buông, hướng về Tây

Tứ chúng ngẩn ngơ lệ đong đầy

Người đi, vết tích còn lưu mãi

Thắm đượm ân tình ở nơi đây…

 

 

Kính lạy Giác Linh Thầy !

 

Con thật sự bàng hoàng, ngẩn ngơ khi đang sinh hoạt Phật Pháp nơi miền Bắc xa xôi, giảng dạy Khóa An Cư Kiết Hạ cho đạo tràng Tăng Ni và Khóa Tu Mùa Hè của Thanh Thiếu Niên Phật Tử tại Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên, Vĩnh Phúc, lại hay tin Thầy vừa viên tịch tại quê hương Bình Định. Đêm nay con lại có một đêm khó ngủ, đêm thức để rồi sống với những hoài niệm, với hình bóng và kỷ niệm với Thầy trải suốt 23 năm qua, tất cả cứ như một cuốn phim từng đoạn quay chậm hiện rõ mồn một trong tâm thức của con.

 

Chúng con biết đến Thầy kể từ khi mới xuất gia làm điệu tại Tu Viện Nguyen Thiều Bình Định. Thầy là vị Đại Sư Huynh, là thế hệ tiếp nối giữa quý Ông, quý Ngài với thế hệ chúng con. Ngay những bài học vỡ lòng Phật Pháp đầu tiên tại Nguyên Thiều, cũng là để ôn thi vào Trường Cơ Bản Phật Học Nguyên Thiều, Thầy dạy cho chúng con về Tứ Vô Lượng Tâm qua 4 buổi với nhiều kinh nghiệm cuộc sống, đơn giản, cụ thể, dễ hiểu và ví dụ phân tích rộng rãi. Đó là những bài học rất cần thiết cho sơ tâm xuất gia chúng con để phát Bồ Đề Tâm, phát nên chí nguyện rộng lớn “phát túc siêu phương”.

Có những đêm Thầy lên Chánh Điện Nguyên Thiều để quan sát đại chúng tụng niệm. Khi chúng con lạy “xấp ngửa lổm chổm”, Thầy đến trực tiếp hướng dẫn cách lạy cho đúng tại chỗ. Lúc đó, phàm tánh của con còn nhiều, con tự ái lắm, con nghĩ : nếu có chỉnh sửa thì cũng phải đợi tụng kinh xong, kêu vào phòng chỉ giáo, có đâu mà đến chỉnh ngay tại chánh điện như thế? Nhưng đến bây giờ nghĩ lại con thấu hiểu lòng quan tâm sâu sắc của Thầy đến từng cử chỉ nhỏ trong sinh hoạt tu tập và muốn chúng con ngày một hoàn thiện hơn, trưởng thành nên người.

Cứ mỗi mùa Xuân, con nghỉ học Học Viện Phật Giáo Vạn Hạnh Saigon về quê, Thầy dẫn chúng con đi Lễ Tổ. Con còn nhớ khi Chùa Tổ không có ai đánh chuông để Lễ Tổ, con đánh chuông cho Thầy lại Thầy mỉm cười nhắc bảo : “Chùa của họ, họ không có ai đánh chuông thì thôi, phần của ông thì cứ lạy đi, mắc mớ gì mà ông đánh chuông?” – Thầy vẫn gọi con bằng tiếng “ông” đầy gần gũi và thương mến. Rồi đến khi xếp Y, Áo, con vụng về lắm, xếp không ngay thẳng lại bảo là : “Ở chùa mình có cái giường để con trải áo hậu và xếp lên đó, nơi này không có nên xếp không thẳng”, Thầy lại cười : “ông phải tập xếp dựa vào bản thân ông chứ không dựa vào cái giường. Khi ông đến cúng nhà người ta, họ có một cái giường và đang ngồi tại đó thì ông xếp Y Áo ở đâu?”  Đó, những chi tiết nhỏ nhặt như thế làm sao mà con biết được, cứ mỗi lần ở bên Thầy con học hỏi thêm những điều như thế rất thiết thực cho bản thân con.

Những ngày tháng Thầy đưa Sư Phụ vào bệnh viện Chợ Rẫy để trị bệnh, mỗi đêm con từ Trung Tâm Anh Ngữ đến thăm Sư Phụ và Thầy đi rất xa. Sư Phụ và Thầy rất cảm thông, cho con mang nhiều hộp sữa, bánh và bột về phòng, tiếp thêm tiền chi phí cho con đi học, lại bảo : “Nếu ông đi thăm xa quá thì thôi vậy, tôi lo cho Sư Ông được rồi”.

Mỗi lần con đi du học và phương xa về đều đến thăm Thầy, Thầy tâm sự với con rất nhiều : chuyện các đệ tử xa Thầy ra đi sớm, tình hình sinh hoạt tại Chùa Phước Điền, quan điểm của Thầy đối với từng chú tại Nguyên Thiều, về cách quản lý, duy trì và phát triển Nguyên Thiều. Con lắng nghe Thầy phân giải hàng giờ và cảm nhận được bao nỗi ưu tư, quan tâm, thương yêu, dụng tâm lao khổ, loay hoay góp sức của Thầy trong việc giáo dục, uốn nắn, nâng đỡ thế hệ kế thừa, trong sứ mạng kế thừa và trang bị cho thế hệ tiếp nối, gắn liền với mọi nhịp điệu sinh hoạt và từng bước phát triển của Nguyên Thiều.

Mới năm trước đây thôi, tuy Thầy đã lâm bệnh nhưng vẫn tận tình đến nhà con và làm chủ Sám tiến linh cho hương linh của Cha con trong ngày Chung Thất. Có lẽ sức hơi Thầy cũng bắt đầu yếu cho nên Ban Kinh Sư cố gắng rước hơi giùm. Kể từ đó, sức Thầy ngày một suy giảm thấy rõ. Thời gian còn trẻ khỏe trước kia trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của Đạo Pháp và Dân Tộc, Thầy đã cùng chư Tôn Đức đứng mũi chịu sào, chấp nhận thương đau, quên thân mạng để gìn giữ từng tấc đất luống rau cho Tu Viện, tự viện, còn ngày nay, con được Thầy cho biết là bệnh viện báo Thầy mắc một bệnh nan y và mạng sống chỉ còn tính trong ngày tháng. Thế nhưng Thầy vẫn đi làm Phật sự, đi cúng kiếng và giảng Khóa Tu Bát Quan Trai mỗi khi sức khỏe Thầy cho phép. Có lần Thầy đi về mà lái xe vô bãi đậu xe trong Chùa té ngã. Con vừa thương, vừa kính, vừa lo cho Thầy. Đó là một tấm gương thân giáo gần gũi, sống động : như con tằm trọn kiếp nhả tơ, người tu đem hết những sức lực, hơi thở cuối cùng của đời mình để làm lợi lạc cho nhân sinh, tô bồi cho Đạo Pháp, thế chúng con còn sức khỏe và minh mẫn thì nào dám buông lơi?

Đã có hơn một lần con phát khởi tâm niệm muốn “dừng bước phiêu du” ở bên Thầy một thời gian để làm thị giả, sớm hôm học hỏi, tâm tình. Thế nhưng những lúc đó con thưa nói ngập ngừng không được rõ ràng lắm. Con chỉ gợi ý thoáng xa xa. Thầy có lẽ không muốn ép con vào thế khó vì Thầy biết ý chí của con “tang bồng hồ thỉ” , “du phương hành Đạo” chứ không muốn luẩn quẩn ở một nơi. Quả thật ý chí của con là như thế, hơn nữa con ngập ngừng là tự xét cái “khả năng làm thị giả” của mình xưa nay chưa được huấn luyện bài bản. Phần vì chúng Nguyên Thiều đông có nhiều Sư Đệ nên chia ra mỗi người mỗi việc, phần vì con nghĩ là nên hướng vào “chuyện lớn” như học, luyện công, giảng Pháp, hướng dẫn khóa tu chứ không quan tâm những “chuyện nhỏ” như là : cắm hoa, quét nhà, pha trà, nấu cơm, trang trí,…cho dù trên lý thuyết con vẫn biết rằng : việc nào cũng quan trọng cả, không phải là “ đại sự không màng tiểu tiết”“việc nhỏ mà không xong thì việc lớn sao xong?” – thực ra không có việc gì lớn, việc gì nhỏ, việc nào cũng có ý nghĩa, việc của Đạo Pháp, quan trọng là đặt trọn cái Tâm trong việc làm như thế nào…

Vào hôm huynh đệ Nguyên Thiều họp bàn chọn người vào lo giúp việc Chùa Phước Điền và thị giả cho Thầy con cũng tán thành chọn Sư Đệ Đồng Liên vì Sư Đệ đó rất có tâm và cẩn thận chu đáo. Con vẫn thường an ủi, nhắc nhở Đệ Đồng Liên lo chu toàn bổn phận tại Phước Điền và lo thuốc cháo sớm hôm cho Thầy chu đáo. Con rất an tâm mỗi khi đến thăm và hỏi chuyện, Thầy bày tỏ sự hài lòng về mọi công việc lớn nhỏ trong Chùa mà Đệ Đồng Liên gánh vác vẹn toàn.

Chiều 25/04 vừa qua ( cách nay 10 ngày), duyên sự tại Nhơn Lý xong, con về và mang quà đến thăm Thầy. Không biết linh cảm làm sao, lần này tuy không có Đệ Đồng Liên mở cửa con vẫn mang dĩa quà đến tận phòng của Thầy. Thầy gầy gò yếu hẳn đi nhưng vẫn hỏi thăm các công việc sinh hoạt của con. Vì nhìn thấy hơi sức của Thầy yếu quá con lại cáo lui về để Thầy tịnh dưỡng. Thầy lại nhìn con với ánh mắt tha thiết yêu thương và nói : “Cứ từ từ chơi chứ có sao đâu, tui hơi mệt không nói chuyện nhiều nhưng vẫn nghe được mà, tỉnh mà”. Lúc ấy con thưa Thầy : “Thưa Thầy đến giờ con phải về rồi và để Thầy nghỉ ngơi. Con còn một món quà nữa lần sau con sẽ đến thăm và cúng dường Thầy”

Con đang cất kỹ một món quà, một món dưỡng sức cho Thầy, nâng niu và chờ sau chuyến Hoằng Pháp miền Bắc về là đến thăm Thầy, kính biếu Thầy với tất cả tấm lòng của con. Thế nhưng luật vô thường thật phũ phàng tác động và Thầy đã ra đi rồi, lời hứa đó trở thành câu nói kỷ niệm cuổi cùng đối với Thầy và món quà đó con chỉ còn biết dâng lên cúng trước hương án Giác Linh Thầy!

 

Thầy ơi !

 

Những năm vừa qua, chư Tôn Túc Bình Định đã ra đi nhiều rồi, giờ đến lượt Thầy nữa. Kể từ nay, chúng con biết tìm đâu nữa một hình bóng Đại Sư Huynh, người Thầy thân thương, giản dị, mộc mạc, gần gũi, chân chất, một bậc Đại Sỹ nén những cơn đau nơi thân để thăm hỏi quan tâm chúng con với những hoạt động và chỉ bảo tích cực, kẻ lữ hành cô độc nhiều năm tháng kiên tâm gìn giữ giềng mối Tổ Nghiệp để lại mai sau.

Có thể Thầy không phải là một bậc tài năng lỗi lạc như những vị khác trong thế hệ của Thầy nhưng chúng con không đòi hỏi gì hơn, tâm và tình của Thầy đã cho chúng con thế là quá đủ. Những cái khác chúng con có thể học hỏi nơi khác và tự trau dồi lấy mình. Nhưng những gì Thầy đã cho chúng con là vô giá và chỉ có địa vị tư thế của Thầy, tánh cách đặc biệt của Thầy mới ban cho chúng con được.

Giờ này bao nhiêu hàng Tôn Túc Giáo Phẩm Bình Định đang bùi ngùi tiễn đưa một vị pháp lữ ra đi, chúng Nguyên Thiều đang xót lòng kính tiếc, tứ chúng đang bàng hoàng nuốt lệ nghẹn ngào, hoa cỏ đang héo sầu nhớ Tôn Dung sáng chiểu chăm chút, Thầy ra đi thật sự là một mất mát lớn lao không gì bù đắp được, một vị tu sỹ tận tụy, một vị Thầy thân kính, một vị Sư Huynh đầy quan tâm, trách nhiệm, một tấm lòng sắt son với Đạo với Đời, xứng đáng kế nghiệp chư Tổ chùa Phước Điền và cưu mang giáo dưỡng, ủy thác của Cố Đại Lão Hòa Thượng Tôn Sư Thích thượng Huyền hạ Quang.

Kể từ nay, khi trở về thăm lại nơi xưa, con tìm đâu ra nữa hình ảnh thân thương, người tận tình trà đàm, tâm sự, nhắc nhở từng ly từng tý, với con, đó là một tổn thất, một trống vắng lớn mà chưa biết lấy gì có thể khỏa lấp được. Vẫn biết có  trong cuộc thế này, có đến thì có đi, có sanh thì có diệt, nhịp cầu sanh tử ai cũng bước qua nhưng có một cái gì đó nghèn nghẹn và chưa trọn vẹn đang vây tỏa trong con.

Kính thưa Thầy, cho dù không còn thấy được tôn dung của Thầy nữa, nhưng những lời chỉ giáo, ân tình và kỷ niệm vẫn trở thành nguồn thương và động lực sống mãi trong con. Những lời hứa và những tâm tình với Thầy mà con chưa làm xong, con nguyện làm cho trọn vẹn. Huynh Đệ chúng con dốc sức bên nhau, nguyện “Kế Vãng Khai Lai”, “Truyền Đăng Tục Diệm”, noi gương sáng của Thầy tu sửa và hành Đạo, kế thừa và phát huy giếng mối Đạo Pháp, tông phong tại Tu Viện Nguyên Thiều và Chùa Phước Điền, phụng sự Dân Tộc, chúng sanh, sao cho không cô phụ tình cưu mang giáo dưỡng, dắt dìu công phu của Thầy và hoàn thành sứ mạng của người xuất gia, Như Lai Sứ Giả : tác Như Lai Sứ, hành Như Lai sự, làm tốt Đạo đẹp Đời.

 

Chén trà Bắc đắng lòng hôm nay con dâng cúng Thầy, con đang độc ẩm như đang đối diện với Thầy. Con thành tâm vọng hướng về Kim Quan Thầy tại Chùa Phước Điền đảnh lễ với tâm hương đưa tiễn. Ngày mai đây nhục thân của Thầy được đưa vào trong lòng đất vườn Chùa để hàm dưỡng cho những mầm xanh đang lên. Con thành kính tri ân cơ duyên tao ngộ và thâm ân dìu dắt của Thầy. Cầu Nguyện Giác Linh Thầy cao đăng Phật Quốc, cõi trời Tây Thầy soi thấu chứng giám nỗi lòng và tiếp tục gia bị cho chúng con kế tục công việc của Thầy để lại, đi tiếp hành trình nhân sinh, hướng về bảo sở tịch tĩnh an vui.

 

Nam mô tự Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Tam Thế, Phước Điền Đường Thượng, Húy thượng Đồng hạ Luận, Tự Minh Hạnh Hòa Thượng Giác Linh thùy từ chứng giám.

 

Khể thủ

Con,

Thích Đồng Trí

(Thích Minh Tuệ)

 

Vài hình ảnh về Tang lễ của Cố HT Thích Minh Hạnh

HT Thich Minh Hanh (1)
HT Thich Minh Hanh (5)
HT Thich Minh Hanh (6)HT Thich Minh Hanh (2)HT Thich Minh Hanh (3)HT Thich Minh Hanh (4)HT Thich Minh Hanh (7)HT Thich Minh Hanh (8)HT Thich Minh Hanh (9)HT Thich Minh Hanh (10)



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/10/2014(Xem: 7384)
Pháp danh : Trừng Thành Pháp tự : Chí Thông, Pháp hiệu : Thích Giác Tiên. Thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 42 Thế danh : Ngài họ Nguyễn Duy húy là Quyển. Thọ sanh năm Canh thìn, niên hiệu Tự Đức đời thứ 33 (1879). Chánh quán làng Giạ Lệ Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Năm 1883, lên bốn tuổi thì song thân đều mất. Ngài được ông bà bác đồng tộc đem về nuôi dưỡng. Nhờ bẩm chất thông minh nên thân thuộc cho theo Nho học một thời gian. Nhận thấy giáo lý Phật đà mới là con đường hướng đến cảnh giải thoát ; từ đó, ngài xin với thân thuộc xuất gia đầu Phật. Năm 1890, được 11 tuổi, ngài cầu thọ giáo với tổ Tâm Tịnh.
01/10/2014(Xem: 7495)
Phật Giáo Việt Nam thời cận đại đã viết lên trang lịch sử bằng máu, xương của Chư Tôn Đức Tăng Ni và Phật tử. Dòng lịch sử ấy đã nêu cao tấm gương hy sinh bất khuất trước những đàn áp, bạo lực, súng đạn, nhà tù và lựu đạn. Phải chăng đây là một chặng đường lịch sử oai hùng mà Phật Giáo Việt Nam đã biểu tỏ tinh thần Đại hùng, Đại lực, Đại Từ Bi để vực dậy một nền văn hóa đã bị sụp đổ bởi một chế độ tha hóa, ngoại lai xâm nhập vào quê hương Việt Nam.
01/10/2014(Xem: 9342)
Trên dòng lịch sử Phật giáo Việt Nam thời cận đại của những thập niên 30-40 có bậc Tôn túc của Ni giới xuất hiện, đồng hành với chư Tăng để xiển dương Phật pháp, đào tạo Tăng tài, xây dựng tự viện, giữ gìn giềng mối đạo pháp được bền vững. Bậc Tôn túc của Ni giới ấy là SB Diệu Không, người đã hy hiến cả đời mình cho đời lẫn đạo, SB đã lưu lại cho hậu thế một hành trạng sáng ngời cho đàn hậu học noi gương.
09/09/2014(Xem: 13102)
Hòa Thượng Thích Giác Thông, tục danh Đổ Văn Bé, sinh ngày 18 tháng 2 năm 1939 tại Mỹ Hòa Hưng, Huyện Châu Thành, An Giang, Long Xuyên. Trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân Phụ là Cụ Ông Đổ Nhựt Thăng, Thân Mẫu là Cụ Bà Nguyễn Thị Khiên, Hòa Thuợng là người anh cả trong số 6 anh em ( 3 trai, 3 gái ), được nuôi dưỡng trong một gia đình nông dân hiền lành, có truyền thống đạo đức, nên từ nhỏ Hòa Thượng đã là người sớm có tư chất hiền lương, có tâm thương người mến vật, là con có hiếu với ông bà cha mẹ.
06/09/2014(Xem: 7037)
Không biết đây là lá thư thứ mấy con đã viết mà không bao giờ gởi đi, bởi vì con biết thư có vượt ngàn dặm trùng dương bay về thì Thầy cũng vẫn không cầm đọc được, chứng bịnh Parkinson đã làm cho hai tay Thầy run nhiều quá nhưng nhân mùa Phật Đản nhớ đến Thầy, con lại muốn viết. Thời gian sau này, con vẫn theo dõi thường xuyên sức khỏe của Thầy, con buồn vô cùng, Thầy đã bị bịnh, không thoát khỏi qui luật sinh, lão, bịnh mà con thì ở xa quá, không thăm viếng cận kề Thầy được như ngày xưa nữa !
05/09/2014(Xem: 14609)
Còn đây của báu trong nhà Không là ngọc bảo, không là hoàng kim Bình thường chiếc áo tràng lam Mà sao quý vượt muôn ngàn ngọc châu! Những năm cầu thực dãi dầu Sớm mai tụng niệm, đêm thâu mật trì Dòng đời mãi cuốn con đi Về nương chốn tịnh có Thầy, có Ôn… Kinh truyền ban phát khuyên lơn
02/09/2014(Xem: 10350)
“Đầu lông trùm cả càn khôn thảy Hạt cải bao gồm nhật nguyệt trong” Thiền sư Khánh Hỷ (1067–1142) thuộc dòng thứ 14, thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Sư họ Nguyễn, quê ở Cổ Giao, huyện Long Biên, thuộc dòng tịnh hạnh, từng được vua Lý Thần Tông phong chức Tăng Thống. Sách Thiền Uyển Tập Anh (Anh Tú Vườn Thiền) ghi lại cuộc đối thoại giữa ngài với Thiền Sư Bản Tịch ở chùa Chúc Thánh, nhân dịp ngài cùng với thiền sư đến nhà đàn việt để thọ trai, trên đường đi sư hỏi: Thế nào là ý chỉ của Tổ Sư? Sao thầy lại nghe theo nhân gian làm những chuyện đồng cốt mê hoặc? Bản Tịch đáp: Lời nói ấy đâu phải là không do đồng cốt giáng thần? Sư thưa: Chẳng phải là Hòa Thượng đùa bỡn con hay sao? Bản Tịch đáp: Ta chẳng hề đùa bỡn tí nào! Sư không nắm được ý chỉ của thầy bèn cáo biệt ra đi.
12/08/2014(Xem: 15258)
Cô là 1 nữ sinh trẻ nhất của Sài Gòn đã anh dũng ngã xuống trước họng súng của quân thù tàn bạo trong 1 buổi sáng mùa thu năm 1963 trước cửa chợ Bến Thành, với hàng ngàn sinh viên, học sinh và nhân dân phật tử trước cửa chợ Bến Thành. Và ngay sau đó, Thành hội sinh viên học sinh Sài Gòn đã quyên góp vận động ủng hộ xây bức tượng thờ người nữ học sinh anh hùng tuổi 15 đặt ngay công trường Diên Hồng trước cửa chính chợ Bến Thành ngày nay với sự chứng kiến của hàng ngàn người dân, phật tử thành phố và sinh viên, học sinh.
09/08/2014(Xem: 11295)
Hòa thượng Họ Đinh, húy Văn Nam, là đệ tử của cố Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Đệ nhất Tăng thống GHPGVNTN, pháp danh Tâm Trí, tự Minh Châu, pháp hiệu Viên Dung, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1918 (Mậu Ngọ) tại làng Kim Thành (Quảng Nam); nguyên quán làng Kim Khê, xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Thân phụ là cụ ông Đinh Văn Chấp và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Đạt. Gia đình Hòa thượng có 11 người anh em, Hòa thượng là con trai thứ tư trong gia đình. Vốn sinh trưởng trong gia đình vọng tộc Nho gia, thân sinh của Hòa thượng đỗ tiến sĩ Hoàng giáp năm 21 tuổi (khoa Quý Sửu 1913, niên hiệu Duy Tân thứ 7). Nhờ ảnh hưởng sâu đậm nền giáo dục của cụ ông từ bé, vì vậy Hòa thượng rất cần mẫn đèn sách, chăm chỉ học hành, trí tuệ phát triển sớm. Năm 1939, Hòa thượng đỗ bằng cao đẳng tiểu học Đông Dương; năm 1940 Hòa thượng đỗ tú tài toàn phần tại Trường Khải Định - Huế (nay là Trường Quốc Học); và cùng thời gian này, Ngài được bổ làm Thư ký Tòa Khâm sứ tỉnh Thừa Thiên. Sau một năm
03/08/2014(Xem: 5751)
Lễ nhập quan được cử hành tại Bình Quang Ni tự vào lúc 18g00 cùng ngày. Lễ phúng viếng bắt đầu từ 8g00 ngày 9-7 Giáp Ngọ (4-8-2014). Lễ truy niệm được cử hành vào lúc 4g00 sáng nay, 12-7 Giáp Ngọ (7-8-2014); lễ phụng tống kim quan vào lúc 6g00 sáng cùng ngày. Nhục thân cố Ni trưởng tới đài hỏa táng núi Dinh, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu làm lễ trà-tỳ. Tro cốt của Ni trưởng sẽ được nhập bảo tháp tại Bình Quang Ni tự. Được biết, cố NT.Thích nữ Huyền Tông thế danh Dương Thị Ngọc Cúc, sinh năm 1918 tại P.Đức Thắng, TP.Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Vì sớm giác ngộ lý vô thường, nên năm 17 tuổi (1936), Ni trưởng cùng người cô của mình là cố Ni trưởng Huyền Học quyết tâm vào Sài Gòn xuất gia với cố Ni trưởng Diệu Tịnh tại chùa Hải Ấn. Đến năm 1940, Ni trưởng được thọ giới Cụ túc tại Giới đàn chùa Vạn An (tỉnh Sa Đéc). Suốt hơn 2/3 thế kỷ tu học và hành đạo, Ni trưởng đã tham gia vào phong trào đấu tranh yêu nước trong cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1945, đấu tranh đòi quyền bình đẳng tô
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
110,220,567