Điếu văn tưởng niệm

05/05/201508:18(Xem: 8113)
Điếu văn tưởng niệm


HT Thich Tinh Hanh

Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính Đảnh Lể Giác Linh Trưỡng Lão Hòa Thượng Đệ Nhị Tăng Thống  GHPGLSTG.

Kính bạch Giác Linh Ngài.

GHPGLSTG cũng như các GHPG cả trong và ngoài nước Việt Nam và Đài Loan vừa mất đi một vị cao Tăng cả đời tâm huyết hy sinh cống hiến cho giáo dục văn học Phật Giáo Việt Nam va Đài Loan. Đại sư huynh, Ngài đã sinh ra và lớn lên tại làng Phước khánh, Phan Rang, Tỉnh Ninh Thuận, Việt nam, cùng một quê hương và cũng là cháu cùa Đức Đệ Nhất Tăng Thống LSTG thượng Huyền hạ Vi. Trong gia đình chỉ vỏn vẹn hai Chị em ruột đều đồng chơn xuất gia. Chị ruột cuả Ngài là cố Sư Bà Diệu Mỹ, cách đây ba năm cũng đã viên tịch, rất an tường giải thoát, tại chùa Pháp Bảo Thủ Đức, Việt Nam.

Sinh trưởng trong một gia đình nho gia khá giả, ruộng vườn tài sản có dư, thế mà cả Sư Bà Diệu Mỹ và Ngài đều cảm nhận đời người vô thường sống nay chết mai nên Hòa thượng đã phát tâm xuất gia tu học tại Tổ Đình Sắc Tứ Thiên Hưng, Phan Rang. Hòa Thượng thông thạo Hoa Văn, Việt Văn thông suốt Phật Pháp đầy đủ giới hạnh, phạm hạnh thanh tịnh. Ngài luôn nhẫn nại, ý chí kiên trì tâm huyết dồn hết đời mình cho Đại Tạng kinh Việt nam.

Ngài đã làm một việc lớn lao qua hai ngàn năm mà ít ai hội đủ nhân duyên để làm. Cảm động nhất là suốt cả đời dạy ở Đại Học Đài Bắc, tiền lương có được đồng nào kiếm ra Ngài đều dồn hết cho sự nghiệp in ấn kinh tạng, ba mươi năm chỉ ăn gạo lứt muối mè, sống đời đạm bạc, tiết kiệm đơn giản, cần mẫn siêng năng cống hiến cho sự nghiệp Giáo duc ở Đài Loan va hòan tất Đại Tạng Kinh Việt Nam.,

Nhiều khi Ngài quá lo cho đại tạng kinh nên những mặt khác có thể có phần thiếu sót, nhưng nếu vì Đại tạng kinh mà nếu có những sơ khuyết thì cũng mong được tất cả Chư Tôn Đức, Phật Tử, tăng tục đều hoan hỷ bỏ qua. Hoặc trong thời gian điều hành GHPGLS có phần lỏng lẽo, có gặp những trở ngại chỉ vì tuổi già sức yếu.

Nhìn vào 203 tập . Đại Tạng Kinh Việt Ngừ.  Lịch sừ Phật Gíao Việt Nam sè đời đời gắn liền với tên tuồi Ngài. Chúng con dù có trài qua muôn ngàn kiếp củng khó tán thán hết được với việc làm vô giá vô lượng cùa đời Ngài...

Quảng đời còn lại của Ngài nhất là khi đức đệ nhất Tăng Thống từ giả thế gian này vào cỏi Niết Bàn Tịch Diệt. Mọi việc Ngài phải gánh vác thêm phần trách nhiệm. Vì thiếu nhân sự cọng tác, pháp đệ của Ngài thi đông năm bảy chục Tăng Ni sống ở Âu Mỹ, văn hóa kiến thức, luật lệ, lối suy nghĩ theo xã hội Âu Mỹ khác xa với thế hệ của Ngài.Thật khó tìm được có ai có cùng tư tưởng, chí nguyện hiểu hết được và đồng cảm chia sẻ với Ngài, phụ giúp Ngài lúc cuối đời. Đệ tử của Ngài thì cách ba thế hệ như Ông nội, Cha đến cháu. Thật khó cùng tuổi tác vai vế chênh lệch qua khó để mà đồng cảm chia sẻ. Nhìn lại trong sư đệ của Ngài, Tịnh Đạo tuy là pháp đệ mà tuổi đời, tuổi đạo đối với Ngài như chú mình,Thầy mình. Tôi có duyên gần gũi ở chung một phòng với Ngài suốt một tuần lễ cách đây hai năm vào dịp khánh thành Linh Sơn ở tại Kushinagar, nơi Đức Thế Tôn Niết bàn, Ấn Độ. Rồi cùng Ngài đi đến Nepal lễ khánh thành Linh Sơn ở Lumbini, nơi đức Thế Tôn đản sanh, suốt cả mấy ngày trời, giờ đây nhìn lại hình mà nhớ kính tiếc thương Ngài.

Kỷ niệm in sâu đậm nơi Linh Sơn Melbourne Úc Châu là sau chuyến đi Khánh Thành vào tháng 11 năm 2012 tại Ấn Độ và Nepal. Đầu năm, dịp Vía Bồ tát Quan Thế Âm 19 tháng 02 năm Quý Tỵ (2013) Ngài đã đến Melbourne ở lại với Tịnh Đạo Linh Sơn suốt cả ba tuần. Ngài vẫn còn thuyết pháp cho Phật tử, kể lại tiền thân Đức Phật Thích ca và Đề bà đạt đa trong những kiếp quá khứ và kiếp này, lăn đá vào chân Đức Phật. Ngài ở lại đây truyền Thập thiện, Bồ tát giới và thường gọi tôi vào hầu chuyện với Ngài, có những lúc pháp đàm Pháp Bảo Đàn Kinh, Bát Nhã…  Ngài rất hoan hỷ tâm đắc, rồi nhắc lại chuyện Sư Ông Thiên Hưng, Sư Bác Huyền Tân, là Sư Phụ của Ngài Đỗng Minh, Sư bà Đàm Hương khai sơn Diệu Ấn Tháp Chàm, Phan Rang, rồi Sư Bà Diệu Mỹ, chị ruột của Ngài, Sư Bà Diệu Ý Nha Trang rối Báy Huệ Pháp đệ Ni (gồm bảy sư Bà) …

 Điếu ấn tượng in sâu nhất là Ngài đã đích thân trao y đỏ tại Linh Son Melbourne và khích lệ tôi,  hãy nhận tấn phong giáo phẩm Hòa Thượng y theo hiến chương GHPGLS. Tôi đã nhận y đỏ Ngài cho. Thật là cảm động nhưng giáo phẩm Hòa Thượng thi tôi rất e dè, vì với chữ Hòa Thượng thật không đơn giản chút nào, không lẽ thêm lớn, ngả tướng, nhân tướng  trở thành con người “không phúc cao tâm” vì vậy mà tôi chỉ tùy thuận, đãnh lễ thầm nhận tri ân. Ngài tin tưởng tâm linh, phó thác mà tôi chẳng muốn công bố, chỉ tùy trụ xứ, tùy đạo tràng ai có mến mộ thì chia sẻ, không đủ duyên thì đành chịu.

Sở dĩ, ở trên dài dòng một chút để nói cho cạn lời thắt chặt, khắn khít với thời gian còn lại cuối đời như là Ngài muốn trao gởi điều gì...

Trong thâm tâm tôi dự định tháng 07 năm 2015 bớt việc tôi sẽ dành hết thời gian gặp và gần, trước khi Ngài từ giã uế độ cõi đời ngũ trược này.

Tất cả như điềm báo trước, Ngài cũng muốn đến lúc ra đi. Hôm tháng 11 năm 2014, mới đây. Đại Lễ Khánh Thành Học Viện ở Paris Pháp Quốc Ni Trưởng Trí Lạc mới gặp lại và bạch, kính Hòa Thượng có khỏe không? Hòa Thương có muốn ở lại thêm mười năm nữa không? Ngài yên lặng giây phút rồi lắc đầu. Ni Trưởng Trí Lạc lại cân nhắc như là nài nỉ, ý muốn Ngài ở lại lâu thêm, lại lập câu hỏi lần thứ hai, Ngài trả lời không rồi lần thứ ba và dứt khoát là không. Có lẽ vì trách nhiệm đã xong, Ngài đã ủy thác giao phó mọi việc lại cho Giáo Hội Tăng Ni đoàn Linh Sơn, tuy hiện  cũng có một vài vị chưa chịu thực thi đến nới đến chốn. Vì tâm mê mờ chưa được tỏa sáng.

Thế rồi cách đây vài tuần vào ngày 31/03/2015 Sư bà Như Thông Việt Nam gởi email có hình cho tôi, báo tin sức khỏe Hòa Thượng sa sút nhiều lắm rồi, thúc dục tôi đi ngay Đài Loan thăm Ngài, Ni Trưởng Trí Lạc ở pháp thì gọi điện thoại mỗi ngày liên tục, đốc thúc tôi đi Đài Loan mau mau, nhưng cùng vào thời điểm đang lúc tôi phải thường trực tại Úc để giải quyết công việc mỗi ngày.

Thế rồi ngày qua ngày, vô thường đến, đâu kéo dài mãi được, Ngài đã vào Niết Bàn mau lẹ vào lúc Ngọ trưa ngày 10 tháng 04 năm 2015 tại Linh Sơn Thiền Lâm Tự Đài Bắc, Đài Loan.             

                                   Than ÔI:  Non Thái,. đả nghiêng dồ.

                                                    Nước sông hồ cạn khô

                                                   Một vị sao vụt tắt

                                                   Mặt trời lặn trăng mờ

                                                   Đàn hậu học bơ vơ...

 Tám mươi hai năm trụ thế, duyên tứ đại huyễn thân đã hết, tử sinh lẽ thường, pháp tướng như thị , khổ vui như giấc mộng, vô thường thị thường, vô ngã thị chơn, vô sinh bất diệt thị Niết Bàn. chúng con biết viết gì hơn cho bút hiệu Tịnh Hạnh đời Ngài hậu học chúng con xin kính viếng:

Tịnh Tâm cống hiến cho nước Việt

Hạnh Nguyện hoàn tất Đại Tạng Kinh

Giờ đây trước di ảnh, giác linh Ngài, pháp đệ Tịnh Đạo Linh Sơn, Thành Phố Melbourne, Úc Châu, xin kính cẩn nghiêng mình đãnh lễ nguyện sẽ cùng tất cả huynh đệ hòa hợp thanh tịnh tương kính  trong tình Linh Sơn cốt nhục sẽ tiếp nối, kế thừa gánh nặng trọng trách vô cùng cao quý thiêng liêng y theo tâm nguyện của Đức Tôn Sư Huyền Vi, Đệ Nhất Tăng Thống và Ngài Đệ Nhị Tăng Thống Tịnh Hạnh hôm nay.

Kính cầu nguyện Ngài tái lai uế độ, đời ngũ trược ác thế, tiếp tục hạnh nguyện như chư Phật, Bồ tát, La hán, tiếp tục hoằng pháp, truyền đăng tục diệm,Kế vãng khai lai, Tục Phật tuệ mạng lợi ích chúng sinh và y như đại nguyện của Đức Đệ Nhất Tăng Thống Huyền Vi đã phụng sự, hy hiến cả đời

Nhất Tâm đảnh lễ Nam Mô Từ Lâm Tế Chánh Tông, Tứ Thập Nhị Thế, húy thượng Thị hạ Viên, tự Hạnh Bị, hiệu Tịnh Hạnh, Đệ Nhị Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Linh Sơn Thế Giới, Đại Lão Hòa Thượng Giác Linh, thùy từ chứng giám.

Linh Sơn Thành Phố Melbourne 14/04/2015

Pháp đệ Tịnh Đạo Khề Thủ.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 15345)
Thuở nhỏ lòng ưa cửa Ðạo, mến chuộng nếp áo phước điền, ngưỡng trông tịnh xá Kỳ Viên, tha thiết lòng cầu xuất tục. 16 tuổi, xuất gia học đạo chùa Tây An, Châu Ðốc trước tiên, gần quý Thầy hiền, trau dồi Phật tuệ, bang sài vận thủy, tu sửa đạo tràng; 27 tuổi, cầu thọ tam đàn. Kể từ đó tinh chuyên tu niệm.
09/04/2013(Xem: 9791)
Đại lão hòa thượng Thích Trí Nhãn thế danh là Đoàn Thảo, pháp danh Như Truyện, tự Giải Lệ, hiệu Thích Trí Nhãn. Ngài sinh ngày 10 tháng giêng năm Kỷ Dậu tức vào năm 1909 dương lịch, tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, Xã Thanh Hà, nay thuộc thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, Thị Xã Hội An.
09/04/2013(Xem: 17805)
Xuất thân trong một gia đình gia giáo có thân phụ là Chánh Tổng nên Hòa Thượng đã sớm hấp thụ Nho học và Tây học từ thuở ấu niên. Vì thế, Hòa Thượng đã thông thạo cả Hán văn lẫn Pháp văn, kết hợp và dung hòa được cả hai truyền thống văn hóa Đông – Tây.
09/04/2013(Xem: 15565)
Hòa Thượng thượng Tâm hạ Thành. Thế danh là Nguyễn Ðức Huân sinh năm 1930 tại làng Trà Bắc, Phủ Xuân Trường, Tỉnh Nam Ðịnh, Miền Bắc Việt Nam. Năm 1942 khi vừa tròn 12 tuổi, Ngài ngộ lý vô thường và xuất gia học đạo với Sư Tổ Thượng Chính Hạ Ðĩnh tại chùa Yên Cư, Phủ Xuân Trường, Thuc Sơn Môn Trà Bắc. (Sơn môn Trà Bắc, Trà Trung và Trà Ðông thuc Tổng Trà Lũ, là hậu thân của Sơn môn Yên Tử). Ngài được Bổn Sư ban Pháp danh là Ngọc Tiểu Pháp hiệu Tâm Thành.
09/04/2013(Xem: 13153)
Mỗi lần đi Huế lòng tôi lại nao nao khôn tả. Huế là đạo, là thơ, là nghĩa tình ý vị, là tinh hoa văn hóa của ba miền đất Việt, nhưng cũng là mảnh đất khô cằn của đói nghèo khốn khổ “mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu cơm” đã hứng chịu nhiều thiên tai nhân họa. Huế được phong phú về mặt văn hóa, tâm linh là nhờ hình ảnh những vị đại lão hòa thượng nơi đây đã sống, hành đạo và xả báo thân. Dù đã viên tịch, dư hương các ngài vẫn như còn phảng phất nơi các ngôi tổ đình tĩnh lặng và những rừng thông bạt ngàn.
09/04/2013(Xem: 8545)
Giờ phút Thầy an nhiên xả báo thân, thì bên này hơn nữa đêm. Một Phật tử của Thầy ở miền Đông nước Mỹ, giọng đầm đìa nước mắt, khấp báo cho tôi tin Thầy đã từ biệt, lệ tiếc thương như tràn ngập, khắp đó khấp đây. Rồi Tuệ Sỹ, một hậu tấn, kẻ đồng tâm dễ thương của Thầy, mà tôi thường ví như một hạt kim cương hiếm hoi lẫn trong đá sỏi của Phật Giáo Việt Nam ngày nay, trong nổi cô quạnh bao la vừa sau một mất mát lớn lao đã ai tín cho tôi bằng lá thư không niêm mà tôi biết mỗi chữ cũng trĩu nặng nổi lòng.
09/04/2013(Xem: 5692)
Cho phép con thành tâm kính cẩn chia buồn với quí ngài về nỗi mất mát lớn lao không sao tìm lại được. Ðối với kẻ hậu học, làm sao con không khỏi bồi hồi, luyến tiếc khi hay tin sự ra đi của cố Hoà thượng Thích Ðức Nhuận, người đã hiến trọn đời mình cho đạo pháp và dân tộc. Trong giờ phút này, nơi phương xa, một người đệ tử đã có nhân duyên muộn hầu cận, học hỏi nơi cố Hoà thượng khi còn ở Việt Nam, xin đảnh lễ chư tôn đức trong Tổ đình và xin quí ngài cho con có đôi lời bộc bạch với giác linh của cố Hoà thượng. Ngưỡng bạch giác linh Hoà thượng chứng giám.
09/04/2013(Xem: 9406)
Hòa Thượng Thích Thiện Trì thế danh Nguyễn Văn Hiến, Pháp danh Như Phụng, Pháp tự Thiện Trì, Pháp hiệu Ấn Ðạo thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ bốn mươi hai, Ngài sanh ngày 19 tháng 02 năm 1934 tại xã Nhơn Khánh, quận An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh. Ngài xuất thân từ một gia đình thuần túy Phật Giáo, thân phụ của Ngài là cụ ông Nguyễn Hàn, Pháp danh Như Ðà. Thân mẫu của Ngài là cụ bà Bùi Thị Thiệp, Pháp danh Như Cảnh. Ngài có tất cả 10 anh em, 5 trai và năm gái.
09/04/2013(Xem: 27375)
Để ghi lại những công –tác Hoằng-pháp và Giáo-dục trong niên-khóa vừa qua, chúng tôi đã thuyết-pháp và giảng-giải các lớp ở Ấn-Quang cho hàng Phật-Tử tại gia, cũng như tại Viện Đại Học Vạn-Hạnh cho sinh-viên Phật-khoa năm thứ IV (73-74) về môn các tác phẩm Trung-Hoa. Và cũng thể theo lời yêu cầu của đa-số Phật-tử muốn có tài-liệu để học-tập và nghiên-cứu, nên chúng tôi gom góp các bài đã biên-soạn, đúc kết thành một tập sách với nhan đề: “GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA”.
09/04/2013(Xem: 13410)
hế danh của Sư Bà cũng chính là Ðạo Hiệu hiện tại. Song Thân khó nuôi con, nên lúc 2 tuổi hai Cụ đã đem vào chùa cúng cho Sư Bà Ðàm Soạn, Trú trì chùa Cự Ðà và được Sư Cụ đặt tên là Ðàm Lựu. Phụ thân của Sư Bà là Cụ Ông Ðặng Văn Cán và Mẫu thân là Cụ Bà Nguyễn Thị Cả. Sư Bà sanh vào ngày 13 tháng 6 năm Quý Dậu, 4.811 Quốc Lịch; nhằm ngày 04 tháng 08 năm 1933 Tây lịch; tại làng Tam Xá, xã Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Ðông, Bắc Việt Nam.