Điếu văn của GH Canada

10/02/201510:05(Xem: 18802)
Điếu văn của GH Canada

 

Điếu Văn Hòa Thượng Thích Minh Tâm

của Giáo Hội Phật Gíáo VNTN Hải Ngoại tại Canada

 

 

Trời Paris mây buồn giăng mắc

Chùa Khánh Anh Pháp Quốc đượm màu tang,

Phật sự chưa thành Thầy quẩy dép về Tây,

Đàn hậu bối chúng con thiếu người dìu dắt.

 

 

Kính bạch Giác Linh Trưởng Lão Hòa Thượng, từ miền Canada xứ lạnh, Tăng Ni tín đồ Phật Tử trực thuộc GHPGVNTN hải ngoại tại Canada, vừa nhận được ai tín từ môn đồ Pháp quyến báo tin:

Hòa Thượng Thích Minh Tâm

Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTN Âu Châu,

Viện Chủ Chùa Khánh Anh Paris Pháp Quốc

Sinh ngày 18 tháng 01 năm 1940

Vừa an nhiên thị tịch tại bệnh viện thuộc Tỉnh Turku, Phần Lan vào lúc 10:29 phút, giờ Phần Lan (9:29 phút giờ Pháp Quốc) ngày 8 tháng 8 năm 2013, nhằm ngày mồng hai tháng bảy năm Quý Tỵ.Thế thọ 75t uổi. Đạo Lạp 64 năm và 46 Tăng lạp. 

 

Ngài thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông Thiền Phái Liễu Quán đời thứ 44.

Bàng hoàng trước hung tin, Hội Đồng Điều Hành và Tăng Ni Phật Tử thuộc GHPGVNTN hải ngoại tại Canada chúng con, xin chân thành khấp điếu vọng hướng về Pháp Quốc Khánh Anh Già Lam tự viện, thành kính tưởng niệm một bậc thạc đức cao Tăng trong rừng Thiền của Phật Giáo hải ngoại, vừa chích lý Tây quy, chúng con hướng vọng trời Tây kính lời tưởng niệm:

Tưởng nhớ Giác Linh Trưởng Lão Hòa Thượng thượng Minh hạ Tâm,

Tấm gương sáng trong cộng đồng Tăng Ni hải ngoại.

Suốt cuộc đời phát túc siêu phương, vượt bỏ phàm tình,

Mang tấm thân gầy, nhập hạnh Phổ Hiền, phân thân thị hiện.

Bất từ nan quyện, cùng khắp nơi nơi, xiển dương chánh pháp,

kiến lập đạo tràng, củng cố Tăng đoàn, khuyến tu hậu học.

Riêng bản thân Ngài: Khiêm cung độ lượng, kham khổ nuôi thân, sang trọng chẳng màng, phát khai huệ học. Khởi lòng lân mẫn, độ chúng, tiếp Tăng, đối xử cân bằng, hậu sanh bái phục. Trải lượng Từ Bi, kêu gọi nhân quyền, một dạ kiên cường, xiển dương bình đẳng.

Kết thân Pháp lữ, đạo bạn xa gần, trên khắp năm châu, người người quy ngưỡng.

Giáo Hội chúng con: Trên dưới một lòng, vọng hướng kim đài, thành kính chắp tay, cúi đầu khấp bái.

 

Tuy Ngài: Quẩy dép quy Tây, Âm dung thường tại .

Kính nguyện Giác Linh, phát quảng Bi tâm, hồi nhập Ta bà, phân thân hóa độ, lợi lạc quần sanh, tảo thành chánh giác

 

Thay mặt HĐĐH GHPGVNTN hải ngoại tại Canada

Chủ tịch HĐĐH

 

Tỳ Kheo Thích Bổn Đạt 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 8756)
Hòa thượng họ Võ, húy Trọng Tường, Pháp danh Tâm Phật, tư Tri Đức, hiệu Thiện Siêu, Hòa thượng sinh ngày 15 tháng 7 năm Tân Dậu (1921) trong môt gia đình thâm Nho tín Phật ở làng Thần Phù, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, thành phố Huế. Thân Phụ là C ông Võ Trọng Giáng, thân mẫu là Cụ bà Dương Thị Viết. Hòa thượng là con trưởng trong một gia đình có 6 anh em: 3 trai, 3 gái. Người em kế cũng xuất gia, đó là cố Thượng tọa Thích Thiện Giải, nguyên là Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Lâm Đồng; Trú trì chùa Phước Huệ - Bảo Lộc.
09/04/2013(Xem: 10708)
Thầy xuất thân trong một gia đình kính tín Tam bảo. Thầy là con út trong gia đình gồm 6 anh chị em. Cha là cụ Ông Lâm Sanh Thảo, một nhà trí thức yêu nước; Mẹ là cụ Bà Trần Thị Năm, một phật tử thuần túy và cũng là một người Mẹ mẫu mực đảm đang.
09/04/2013(Xem: 14221)
Thượng tọa Thích Chơn Thanh, thế danh Phan Văn Bé, sinh ngày 13 tháng 3 năm 1949 tại xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Kiến Phong, nay là tỉnh Đồng Tháp. Thân phụ là Cụ ông Phan Văn Vinh, thân mẫu là Bà Nguyễn Thị Mến. Thượng tọa có 06 anh em, 2 trai 4 gái, Ngài là anh cả trong gia đình.
09/04/2013(Xem: 25924)
Cuộc đời tu tập và hành đạo của Thầy Minh Phát là bức tranh minh họa hiện thực sinh động lời dạy của Ðức Phật: “Này chư Tỳ kheo! Hãy du hành vì an lạc, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư Thiên và loài người”.
09/04/2013(Xem: 15546)
Thuở nhỏ lòng ưa cửa Ðạo, mến chuộng nếp áo phước điền, ngưỡng trông tịnh xá Kỳ Viên, tha thiết lòng cầu xuất tục. 16 tuổi, xuất gia học đạo chùa Tây An, Châu Ðốc trước tiên, gần quý Thầy hiền, trau dồi Phật tuệ, bang sài vận thủy, tu sửa đạo tràng; 27 tuổi, cầu thọ tam đàn. Kể từ đó tinh chuyên tu niệm.
09/04/2013(Xem: 9920)
Đại lão hòa thượng Thích Trí Nhãn thế danh là Đoàn Thảo, pháp danh Như Truyện, tự Giải Lệ, hiệu Thích Trí Nhãn. Ngài sinh ngày 10 tháng giêng năm Kỷ Dậu tức vào năm 1909 dương lịch, tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, Xã Thanh Hà, nay thuộc thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, Thị Xã Hội An.
09/04/2013(Xem: 17945)
Xuất thân trong một gia đình gia giáo có thân phụ là Chánh Tổng nên Hòa Thượng đã sớm hấp thụ Nho học và Tây học từ thuở ấu niên. Vì thế, Hòa Thượng đã thông thạo cả Hán văn lẫn Pháp văn, kết hợp và dung hòa được cả hai truyền thống văn hóa Đông – Tây.
09/04/2013(Xem: 15770)
Hòa Thượng thượng Tâm hạ Thành. Thế danh là Nguyễn Ðức Huân sinh năm 1930 tại làng Trà Bắc, Phủ Xuân Trường, Tỉnh Nam Ðịnh, Miền Bắc Việt Nam. Năm 1942 khi vừa tròn 12 tuổi, Ngài ngộ lý vô thường và xuất gia học đạo với Sư Tổ Thượng Chính Hạ Ðĩnh tại chùa Yên Cư, Phủ Xuân Trường, Thuc Sơn Môn Trà Bắc. (Sơn môn Trà Bắc, Trà Trung và Trà Ðông thuc Tổng Trà Lũ, là hậu thân của Sơn môn Yên Tử). Ngài được Bổn Sư ban Pháp danh là Ngọc Tiểu Pháp hiệu Tâm Thành.
09/04/2013(Xem: 13381)
Mỗi lần đi Huế lòng tôi lại nao nao khôn tả. Huế là đạo, là thơ, là nghĩa tình ý vị, là tinh hoa văn hóa của ba miền đất Việt, nhưng cũng là mảnh đất khô cằn của đói nghèo khốn khổ “mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu cơm” đã hứng chịu nhiều thiên tai nhân họa. Huế được phong phú về mặt văn hóa, tâm linh là nhờ hình ảnh những vị đại lão hòa thượng nơi đây đã sống, hành đạo và xả báo thân. Dù đã viên tịch, dư hương các ngài vẫn như còn phảng phất nơi các ngôi tổ đình tĩnh lặng và những rừng thông bạt ngàn.
09/04/2013(Xem: 8819)
Giờ phút Thầy an nhiên xả báo thân, thì bên này hơn nữa đêm. Một Phật tử của Thầy ở miền Đông nước Mỹ, giọng đầm đìa nước mắt, khấp báo cho tôi tin Thầy đã từ biệt, lệ tiếc thương như tràn ngập, khắp đó khấp đây. Rồi Tuệ Sỹ, một hậu tấn, kẻ đồng tâm dễ thương của Thầy, mà tôi thường ví như một hạt kim cương hiếm hoi lẫn trong đá sỏi của Phật Giáo Việt Nam ngày nay, trong nổi cô quạnh bao la vừa sau một mất mát lớn lao đã ai tín cho tôi bằng lá thư không niêm mà tôi biết mỗi chữ cũng trĩu nặng nổi lòng.