Kính tiễn biệt Thầy

09/04/201318:39(Xem: 8892)
Kính tiễn biệt Thầy

 

htdn

Giác linh Thầy tôn kính

Giờ phút Thầy an nhiên xả báo thân, thì bên này hơn nữa đêm. Một Phật tử của Thầy ở miền Đông nước Mỹ, giọng đầm đìa nước mắt, khấp báo cho tôi tin Thầy đã từ biệt, lệ tiếc thương như tràn ngập, khắp đó khấp đây. Rồi Tuệ Sỹ, một hậu tấn, kẻ đồng tâm dễ thương của Thầy, mà tôi thường ví như một hạt kim cương hiếm hoi lẫn trong đá sỏi của Phật Giáo Việt Nam ngày nay, trong nổi cô quạnh bao la vừa sau một mất mát lớn lao đã ai tín cho tôi bằng lá thư không niêm mà tôi biết mỗi chữ cũng trĩu nặng nổi lòng.

Thầy đã sống một cuộc đời xứng đáng, phẩm cách vằng vặc như trăng rằm, chân tình rạt rào như sóng biển, để nay trong cuộc giã biệt này ai mà không tiếc, không thương, không tôn kính Thầy với hằng sa cảm xúc. "Thầy ra đi rất nhẹ nhàng" Đó phải chăng là cách sống trọn một đời dài của Thầy. Thầy nằm như đang ngủ, với gương mặt từ hòa, an nhiên. Đó phải chăng cũng là tất cả những gì có thực nơi Thầy mà chúng tôi hằng gặp gỡ.

Trong lặng lẽ, Thầy là gốc trầm thơm nơi núi sâu, là chiếc cột âm thầm chống đỡ ngôi nhà Việt Phật giữa ngữa nghiêng, là hơi thở hy vọng của một thế trận rã rời. Thầy sống như thế và cũng đã ra đi như thế.

Tuổi già, hạt lệ khô tưởng là khó chảy thành một giòng đau trước nổi niềm bao la thương cảm. Mà không, đôi mắt đã không từng dửng dưng với đời cũ đã rạt rào lệ xót trước niềm đau mới này. Một chia biệt rất bình thường nhưng rất đổi đột ngột, ngậm ngùi. Từ lúc biết rằng Thầy đã thực sự ra đi, tôi hay nhìn vào khoảng không bên ngoài cửa sổ, như lụt lội một dấu vết quen và tôi đã khóc, khóc Thầy bằng hai con mắt tin cậy từ lâu của tôi, về một sự vắng bóng đã mang theo rất nhiều kỳ vọng.

Nơi Thầy Chí cao- Nguyện lớn và Hùng tâm vẫn bằng lòng trú ngụ trong một thân xác khiêm tốn, nơi một đời sống hàng ngày đạm bạc, nơi một trái tim lúc nào cũng vui nghĩ tới người và mãi miết tìm hội cơ phụng sự. Việt Nam, trong "thời đại" của nữa cuối thế kỷ hai mươi, nếu có diễm phúc thấm nhuần chút nào "chất Phật" thì đó là một phần công lao đóng góp của Thầy, một người lúc nào cũng tha thiết "đem Phật về ngụ giữa đời" Thầy tình nguyện làm thân thuyền để chở Đạo và Đời, mời mọc ân cần những tâm hồn đời cảm rung theo lối đạo, khiến cho khu vườn thế gian một dạo thơm lừng hương Pháp. Làm báo, viết văn, soạn sách.cũng là để chở cái lý tưởng phụng sự nhân thế bằng con đường Phật, đem hạt giống "Tinh Hoa Phật học" gieo trồng trên miếng đất phàm lụy cho con người dài thêm tay hái! Thầy là ngọn đèn Pháp còn đầy dầu giữa đêm đông của Đạo, là ánh đuốc hùng tâm giữa bóng tối của Đời. Vắng Thầy rồi,

Đạo Pháp và Quê Hương có còn một hy vọng đổi thay? Chữ nghĩa tôi hôm nay được nói ra về Thầy, nhiều khi cũng trở thành trống rỗng, không đủ biểu trưng cho ý nghĩa của Một Cuộc Đời.

Thầy ơi, từ lâu, trong âm thầm tôi vẫn đợi một buổi trùng phùng với Thầy nơi quê cũ để mà tâm sự cho nỗi nhớ niềm mong. "Năm mươi năm ấy là bao nhiêu tình?" Từ một chỗ ngồi chung dưới gốc nhãn trên sân chùa Báo Quốc, tới những ngày Saigon thanh bạch dấn thân vào việc Đạo, đến những năm tháng lo toan cho tính mệnh Phật pháp và Quê hương qua tuyên ngôn "hóa giải"..Có phải lần cuối tôi với Thầy còn đi được với nhau là trên những chiếc xích-lô máy qua lại giữa một Saigon đã mất tên với những bao gạo nặng tình đi thăm những văn nghệ sỹ thân hữu đang lạc lõng giữa cuộc đổi đời! Bây giờ, Thầy đã đi trước, rồi thì nỗi đợi của tôi chỉ còn là niềm hờn tủi.

Ở nơi xa, tôi cúi đầu xin vọng bái Giác Linh Thầy một tâm thức hoàn toàn tự do và giải thoát đã có lúc mượn tướng để vào đời, hành Bồ tát hạnh, và nay an nhiên trở về tịnh địa.

Kính tiễn biệt Thầy!

Thích Mãn Giác.




-- o0o --


| Những sáng tác của Hòa Thượng Thích Đức NHuận |

-- o0o --

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 12084)
Căn cứ theo tài liệu nghiên cứu của Thiền sư Mật Thể trong cuốn Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, thì dưới triều chúa Nguyễn ở đàng Trong, phong trào phát triển Phật giáo nói chung và Thiền phái Lâm Tế nói riêng bành trướng rất mạnh mẽ ; đồng thời, đã lưu lại cho nền văn học Phật giáo nhiều kiến trúc mỹ thuật, hội họa rất nổi tiếng. Tuy nhiên, khi nhà Tây Sơn thống nhất đất nước, kéo quân từ Nam ra diệt Nguyễn thì đoàn quân lính nầy đã hủy diệt đi những công trình quý báu đó. Bi ký, chứng liệu bị thất tung.
10/04/2013(Xem: 9575)
Hôm nay dưới bóng mát thiền lâm Thiên Thai pháp phái, trước giây phút thiêng liêng tỏa ngát hương đàm, chúng con đang qui tụ về đây, nơi vùng đất Thánh, nơi đã ghi đậm nét lịch sử một đời người xuất thị nhập sơn, tầm rong độ nhật, nơi Ngài đã thể hiện công án thoại đàu, luôn luôn quấn quýt đeo đẳng tâm tư với những tháng năm dài chẻ chia suy cứu- Thiền pháp trầm tịch nhưng hưng suy, trừng thanh nhưng hoạt diễm ấy đến nay vẫn còn phong khí nức hương
10/04/2013(Xem: 11870)
Nhận được tin từ cố đô Huế, Việt Nam, Trưởng Lão Ni, Sư Cụ Thích Nữ Diệu Trí, thế danh Hồ thị Trâm Anh, Húy thượng Trừng hạ Khương, Đạo hiệu Liễu Nhiên, đời thứ 42 dòng Thiền Lâm Tế, Viện chủ chùa Diệu Đức, Trú Trì chùa Diệu Nghiêm, thành phố Huế, đã xã báo thân, an nhiên thâu thần thị tịch vào lúc 19 giờ 05 phút ngày 23 tháng 3 năm 2010 (nhằm ngày mùng 8 tháng 2 năm Canh Dần), trụ thế 103 năm, với 78 tuổi đạo.
10/04/2013(Xem: 10980)
Truyện của tôi không đáng gì mà phải ghi. Chỉ vì truyện ấy, hơn vài thập kỷ trước thập kỷ 2530 (1975-1985), có liên quan đến Phật giáo VN, lại bị hư cấu truyện và phim sai quá nên phải ghi. Nhưng ghi như dưới đây thì chỉ là có còn hơn không mà thôi.
10/04/2013(Xem: 9828)
Lễ Giỗ Tổ Nguyên Thiều tại Tu Viện Nguyên Thiều, Sydney, Úc Châu ngày thứ hai, 26-11-2007
10/04/2013(Xem: 11820)
Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, thế danh Nguyễn Văn Bình, sinh ngày 02 tháng 09 năm Đinh Tỵ (17-l0-1917), tại làng Mỹ An Hưng ( Cái Tàu Thượng) huyện Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (Đồng Tháp). Thân phụ là ông Nguyễn văn Cân và thân mẫu là Cụ bà Nguyễn Thị Truyện. Cụ Ông qua đời lúc H.T lên ba, Cụ Bà cũng theo Ông lúc Ngài vừa lên bảy.
09/04/2013(Xem: 10536)
Nước ta từ sau ngày Doãn Quốc Công Nguyễn Hoàng (1558 - 1613) vào trấn thủ đất Thuận Quảng, dần dần biến thành một vùng cai trị riêng cắt đứt liên hệ với vua Lê ở miền Bắc, lấy sông Danh làm ranh giới chia cắt Việt Nam thành hai mà sử gọi là Đàng Trong và Đàng Ngoài.
09/04/2013(Xem: 14592)
Hòa Thượng Pháp danh thượng Tâm hạ Ba, tự Nhựt Quang, hiệu Bửu Huệ thuộc đời 41 dòng Lâm Tế (chữ Nhựt) và đời 43 thuộc phái Thiên Thai (chữ Tâm). Húy danh: Nguyễn Văn Ba, sanh năm Giáp Dần (1941), tại Xã Tân Hương, huyện Bến Tranh, Tỉnh Ðịnh Tường (Nay là Tỉnh Tiền Giang). Thân phụ là Ông Ðặng Văn Cử, thân mẫu là Bà Nguyễn Thị Thu. Hòa Thượng theo họ mẹ, cũng là người con thứ ba trong gia đình gồm hai anh em.
09/04/2013(Xem: 10467)
Ôn Từ Đàm (Hòa thuọng Thích Thiện Siêu) với tôi vốn không có duyên nghĩa thầy trò; mặc dù, vào đầu thập niên 1960, Ôn là Giáo thọ tại Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang trong khi tôi là một học tăng ở đó. Những tháng năm này, tôi là nguòi được theo học trường Võ Tánh nên thời khóa sinh hoạt của tôi không bị câu thúc chặt chẽ; và vì vậy, ít có cơ hội gần gũi với các bậc thầy lớn như Ôn.
09/04/2013(Xem: 8765)
Trúc Lâm Đại sĩ là vua thứ tư nhà Trần, con của Thánh Tông, lên ngôi ngày 12 tháng 2 năm Mậu dần (1278). Trước khi Đại sĩ ra đời, Nguyên Thánh Hoàng Thái hậu nằm mộng thấy thần nhân đưa cho hai lưỡi kiếm bảo : "Có lệnh của Thượng giới, cho phép ngươi được chọn lấy". Bỗng nhiên được kiếm, Thái hậu bất giác rất vui, nhân đó có thai. Những tháng dưỡng thai, nhà bếp dâng thức gì Thái hậu cứ dùng như thường, chẳng cần kiêng cử mà thai cũng chẳng sao.