Kính tiễn biệt Thầy

09/04/201318:39(Xem: 8807)
Kính tiễn biệt Thầy

 

htdn

Giác linh Thầy tôn kính

Giờ phút Thầy an nhiên xả báo thân, thì bên này hơn nữa đêm. Một Phật tử của Thầy ở miền Đông nước Mỹ, giọng đầm đìa nước mắt, khấp báo cho tôi tin Thầy đã từ biệt, lệ tiếc thương như tràn ngập, khắp đó khấp đây. Rồi Tuệ Sỹ, một hậu tấn, kẻ đồng tâm dễ thương của Thầy, mà tôi thường ví như một hạt kim cương hiếm hoi lẫn trong đá sỏi của Phật Giáo Việt Nam ngày nay, trong nổi cô quạnh bao la vừa sau một mất mát lớn lao đã ai tín cho tôi bằng lá thư không niêm mà tôi biết mỗi chữ cũng trĩu nặng nổi lòng.

Thầy đã sống một cuộc đời xứng đáng, phẩm cách vằng vặc như trăng rằm, chân tình rạt rào như sóng biển, để nay trong cuộc giã biệt này ai mà không tiếc, không thương, không tôn kính Thầy với hằng sa cảm xúc. "Thầy ra đi rất nhẹ nhàng" Đó phải chăng là cách sống trọn một đời dài của Thầy. Thầy nằm như đang ngủ, với gương mặt từ hòa, an nhiên. Đó phải chăng cũng là tất cả những gì có thực nơi Thầy mà chúng tôi hằng gặp gỡ.

Trong lặng lẽ, Thầy là gốc trầm thơm nơi núi sâu, là chiếc cột âm thầm chống đỡ ngôi nhà Việt Phật giữa ngữa nghiêng, là hơi thở hy vọng của một thế trận rã rời. Thầy sống như thế và cũng đã ra đi như thế.

Tuổi già, hạt lệ khô tưởng là khó chảy thành một giòng đau trước nổi niềm bao la thương cảm. Mà không, đôi mắt đã không từng dửng dưng với đời cũ đã rạt rào lệ xót trước niềm đau mới này. Một chia biệt rất bình thường nhưng rất đổi đột ngột, ngậm ngùi. Từ lúc biết rằng Thầy đã thực sự ra đi, tôi hay nhìn vào khoảng không bên ngoài cửa sổ, như lụt lội một dấu vết quen và tôi đã khóc, khóc Thầy bằng hai con mắt tin cậy từ lâu của tôi, về một sự vắng bóng đã mang theo rất nhiều kỳ vọng.

Nơi Thầy Chí cao- Nguyện lớn và Hùng tâm vẫn bằng lòng trú ngụ trong một thân xác khiêm tốn, nơi một đời sống hàng ngày đạm bạc, nơi một trái tim lúc nào cũng vui nghĩ tới người và mãi miết tìm hội cơ phụng sự. Việt Nam, trong "thời đại" của nữa cuối thế kỷ hai mươi, nếu có diễm phúc thấm nhuần chút nào "chất Phật" thì đó là một phần công lao đóng góp của Thầy, một người lúc nào cũng tha thiết "đem Phật về ngụ giữa đời" Thầy tình nguyện làm thân thuyền để chở Đạo và Đời, mời mọc ân cần những tâm hồn đời cảm rung theo lối đạo, khiến cho khu vườn thế gian một dạo thơm lừng hương Pháp. Làm báo, viết văn, soạn sách.cũng là để chở cái lý tưởng phụng sự nhân thế bằng con đường Phật, đem hạt giống "Tinh Hoa Phật học" gieo trồng trên miếng đất phàm lụy cho con người dài thêm tay hái! Thầy là ngọn đèn Pháp còn đầy dầu giữa đêm đông của Đạo, là ánh đuốc hùng tâm giữa bóng tối của Đời. Vắng Thầy rồi,

Đạo Pháp và Quê Hương có còn một hy vọng đổi thay? Chữ nghĩa tôi hôm nay được nói ra về Thầy, nhiều khi cũng trở thành trống rỗng, không đủ biểu trưng cho ý nghĩa của Một Cuộc Đời.

Thầy ơi, từ lâu, trong âm thầm tôi vẫn đợi một buổi trùng phùng với Thầy nơi quê cũ để mà tâm sự cho nỗi nhớ niềm mong. "Năm mươi năm ấy là bao nhiêu tình?" Từ một chỗ ngồi chung dưới gốc nhãn trên sân chùa Báo Quốc, tới những ngày Saigon thanh bạch dấn thân vào việc Đạo, đến những năm tháng lo toan cho tính mệnh Phật pháp và Quê hương qua tuyên ngôn "hóa giải"..Có phải lần cuối tôi với Thầy còn đi được với nhau là trên những chiếc xích-lô máy qua lại giữa một Saigon đã mất tên với những bao gạo nặng tình đi thăm những văn nghệ sỹ thân hữu đang lạc lõng giữa cuộc đổi đời! Bây giờ, Thầy đã đi trước, rồi thì nỗi đợi của tôi chỉ còn là niềm hờn tủi.

Ở nơi xa, tôi cúi đầu xin vọng bái Giác Linh Thầy một tâm thức hoàn toàn tự do và giải thoát đã có lúc mượn tướng để vào đời, hành Bồ tát hạnh, và nay an nhiên trở về tịnh địa.

Kính tiễn biệt Thầy!

Thích Mãn Giác.




-- o0o --


| Những sáng tác của Hòa Thượng Thích Đức NHuận |

-- o0o --

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/03/2025(Xem: 4754)
Sách song ngữ Việt-Anh Sự Thật của Giáo Pháp ◦ The Truth of the Dhamma là một tuyển tập các trích đoạn từ những bài pháp mà Sư đã giảng từ năm 1989 đến 2012 trong các khóa thiền, bao gồm pháp học, pháp hành và các kinh nghiệm thân chứng của Sư. Giờ đây tuy tuổi cao, sức yếu, mắt mờ, tai lãng, thân đau, Sư vẫn cố gắng hỗ trợ cho pháp sự này bằng cách giải thích, bổ túc và làm sáng tỏ thêm một số chi tiết trong các bài giáo lý xưa của Sư, với mong muốn các Phật tử, thiền sinh lãnh hội pháp học và thực tập pháp hành căn bản trong sách này. Bên cạnh đó, thực hiện sách song ngữ là tâm nguyện trao truyền giáo lý Phật giáo đến những thiện tín thông hiểu Anh ngữ hơn Việt ngữ, ngôn ngữ Sư hằng sử dụng khi giảng pháp.
10/03/2025(Xem: 2887)
Thiền sư húy thượng NGUYÊN hạ BÀNG - ĐẠI NGUYỆN tự CHÍ NĂNG hiệu GIÁC HOÀNG , thế danh LÊ BẢN, sinh năm Canh Dần 1950, tại thôn An Ngãi, xã Nhơn An huyện An Nhơn tỉnh Bình Định. Ngài sinh trong một gia đình nhiều đời sùng kính Tam Bảo. Thân phụ: Cụ ông LÊ TRÀ, thân mẫu: Cụ Bà TRẦN THỊ TÁM. Ngài là anh cả trong gia đình gồm có năm người con.
20/02/2025(Xem: 3348)
Trưởng lão Hòa thượng Thích Giác Trí Thành viên Hội đồng Chứng minh, Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Bình Định Chứng minh Ban Trị sự Phật giáo H. Phù Cát, viện chủ chùa Long Hòa (xã Cát Tân, H. Phù Cát, tỉnh Bình Định); Do niên cao lạp trưởng, Trưởng lão Hòa thượng đã thu thần viên tịch vào lúc 16 giờ 50 phút ngày 19/2/2025 (nhằm ngày 22 tháng Giêng năm Ất Tỵ) tại chùa Long Hòa, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định Trụ thế: 98 năm Hạ lạp: 68 năm
16/01/2025(Xem: 4010)
Khi lên 11 tuổi, Hòa Thượng được Ngài Thích Nguyên Thần, hiệu Tịnh Thông (vốn là người cậu trong gia đình) dẫn đến Tu Viện Nguyên Thiều, Thôn Đại Lễ, Xã Phước Hiệp, Huyện Tuy Phước, Tỉnh Bình Định để xuất gia tu học. Ngày 15 tháng 4 năm 1970 : Cố Hòa Thượng Thích Đồng Thiện, Đệ Nhất Trụ Trì Tu Viện Nguyên Thiều, làm Lễ Xuất Gia chính thức, thế phát cho Hòa Thượng, đặt Pháp Danh là Thị Anh (Hồng Anh), là đệ tử của Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Vị Trưởng Ban Sáng Lập và là Giám Viện của Tu Viện Nguyên Thiều.
15/12/2024(Xem: 3913)
Lễ Tưởng Nguyện Cố Hòa Thượng Thích Giải Quảng tại Tu Viện Từ Ân, Melbourne, Úc Châu (14/12/2024)
06/11/2024(Xem: 4382)
Vào lúc 08h30 sáng nay, ngày 05/11/2024 (nhằm mồng 5 tháng 10 Giáp Thìn), môn đồ pháp quyến đã trang nghiêm tổ chức đại lễ Tưởng niệm huý nhật lần thứ 3 (2019-2024) Cố Trưởng lão Hoà thượng Thích Như Ý, huý Trừng Huệ, hiệu Ấn Bảo, nguyên Ủy viên Thường trực Hội đồng Chứng minh, Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Khánh Hòa, khai sơn các chùa Linh Sơn Pháp Bảo (X.Vĩnh Ngọc, TP. Nha Trang), Linh Sơn Pháp Ấn (X. Suối Cát, Cam Lâm) và chùa Linh Sơn Phước Điền (X. Phước Đồng, TP. Nha Trang).
30/10/2024(Xem: 3808)
Hòa thượng họ Trần, húy Văn Vinh, pháp danh Chơn Phú, tự Chánh Hữu, hiệu Thích Bích Lâm. Ngài sinh ngày 24 tháng 11 năm Giáp Tý (1924) tại phường Đệ Nhị- Nha Trang- Khánh Hòa, thân phụ là cụ Trần Đức Tựu, thân mẫu là cụ bà Trần Thị Đủ. Sớm có nhân duyên với Phật pháp, Ngài được Hòa thượng Thích Phước Huệ, chùa Sắc Tứ Hải Đức cho quy y ngày 19 tháng 2 năm Nhâm Thân (1932), pháp danh Chơn Phú. Đến ngày 15 tháng 10 năm Kỷ Mão (1939), Ngài được Hòa thượng cho thế độ, phú pháp tự là Chánh Hữu, hiệu Bích Lâm. Năm 1945, Ngài thọ Tam đàn Cụ Túc tại chùa Sắc Tứ Hải Đức do Hòa thượng Phước Huệ tái thí, truyền trao giới pháp. Năm 1946 Ngài được đề cử trụ trì Tổ đình Nghĩa Phương.
22/10/2024(Xem: 3235)
Hòa Thượng thế danh Lê Đình Nam, sinh năm Mậu Thân (1908) trong một gia đình trung nông, có truyền thống Nho học. ở làng Đại An, xã Kỳ Long (nay là xã Tam Thái, huyện Phú Ninh, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam). Thân phụ là cụ ông Lê Văn Thơ, Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Mới. Những năm đầu của thập niên 40, Ngài mới có nhân duyên gặp Phật Pháp và cũng trong thời gian này Ngài cùng với người anh là Lê Trọng Hoàng, em là Lê Tấn Phước cùng với Phật tử Nguyễn Quế phát tâm sáng lập chùa Đại An tại quê nhà vào năm 1944.
21/10/2024(Xem: 5103)
Trong đêm dài vô minh, với nổi khổ vô biên của chúng sanh, Chư Phật, Chư Tổ sư, liệt vị Tăng-già đã truyền thắp cho nhau ngọn đèn vô tận để soi sáng cung ma, biến uế độ thành tịnh độ. Trong sự tiếp nối chí nguyện thù thắng đó, Đức Trưởng lão Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, Đệ lục Tăng thống GHPGVNTN đã đem bi tâm phổ hóa quần sanh, thắp đèn tuệ dẫn người ra khỏi rừng tà, vận đức dũng giữ nền đạo thống, dựng đứng dậy những gì đã sụp đổ, mang lý tưởng Bồ-tát đạo dưỡng nuôi chánh tín trong lòng tứ chúng.