17. Vạn Đức Lưu (T.Minh Tuệ)

05/04/201407:13(Xem: 11182)
17. Vạn Đức Lưu (T.Minh Tuệ)

VẠN ĐỨC LƯU PHƯƠNG - VẠN ĐẠI TRUYỀN THỪA

Thành kính đảnh lễ Giác Linh Cố Đại Lão Hòa Thượng ThíchthượngTrí hạ Tịnh !



Hỡi ôi !

Vạn Đức trang Kinh còn bỏ dở

Thủ Đức mây đen nặng lững lờ

Người rời cõi mộng về bảo sở

Tứ chúng bàng hoàng – khóc bơ vơ…

Nhớ Linh Xưa :

Làng An Hưng – Tàu Thượng

Sa Đéc, huyện Châu Thành

Nhà nhơn từ, thịnh vượng

Ngài ứng hiện thọ sanh.

Mười lăm tuổi học chữ Nho – Hán Cổ

Rồi chuyên sâu học thuốc độ quần sanh

Lên núi Cấm, Chùa Vạn Linh gặp Tổ

Xin xuất gia, dốc chí quyết tu hành.

Ngài tham học với chư Sơn trong tỉnh

Nghiên cứu sâu Phật Pháp, Từ Bi Âm

Rồi khăn gói ra miền Trung, Bình Định

Tìm Minh Sư, trú học Chùa Liên Tôn.

Ra đến Huế, Chùa Tây Thiên – Trung Cấp

Ngài dồi trau Kinh Sử rất chuyên cần

Lên Cao Đẳng Phật Học Đường Báo Quốc

Thọ giáo cùng Ngài Trí Độ, Tường Vân.

Năm Bốn Mốt (1941) bao phước duyên sẵn có

Chùa Quốc Ân đăng đàn thọ Sa Di

Cụ Trí Độ ban pháp tự : Trí Tịnh

Giới Tịnh thanh, Trí lực ít ai bì.

Lớp Cao Đẳng Phật Học vừa hoàn mãn

Năm Bốn Lăm (1945), gặp chiến cuộc leo thang

Nhiều trường lớp phải tùy nghi di tản

Về Trà Ôn, lập Học Viện Phật Quang.

Cùng năm đó (1945) Ngài Tam Đàn Cụ Túc

Chùa Tân An, tại Sa Đéc, tỉnh nhà

Ngài Kim Huê làm Đường Đầu Hòa Thượng

Kể từ đây thêm uy lực độ tha.

Năm Bốn Sáu (1946), về Sài Gòn - Vạn Phước

Thành lập nên Liên Hải Phật Học Đường

Từ đây tạo bao Tăng Tài tiếp nối

Bửu Huệ Sa Môn, Minh Cảnh, Quảng Liên,…

Năm Năm Hai (1952), nét son trang Phật Việt

Giáo Hội Tăng Già Nam Việt thành hình

Ngài giữ chức Trưởng Ban Giáo Dục

Giám Luật và Ban Phiên Dịch Tạng Kinh.

Ngài cổ xúy Pháp môn tu Tịnh Độ

Cho những ai dốc chí vãng Tây Phương

Cực Lạc Liên Hữu, Ngài làm Liên Trưởng

Chùa Liên Trì, Chùa Vạn Đức Đạo trường.

Ngài khai mở Khóa Như Lai Sứ Giả

Tại Tuyền Lâm, Pháp Hội với Dược Sư,…

Bồi dưỡng thêm nhiều Trụ Trì năng lực

Đào tạo nên nhiều thế hệ Giảng Sư.

Năm Sáu Hai (1962) Ngài làm Phó Viện Trưởng

Tại Trung Phần Phật Học Viện Nha Trang

Đào tạo Tăng tài, mầm non trưởng dưỡng

Thay thế vai trò Hòa Thượng Trí Quang.

Năm Sáu Tư (1964) hợp nhất nên Giáo Hội

Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất thành hình

Tổng Vụ Tăng Sự, làm Tổng Vụ Trưởng

Cùng góp phần cho Phật Pháp xương minh.

Năm Sáu Tám (1968), Ngài trong Ban Giảng Huấn

Suốt ba năm cho Cao Đẳng Huệ Nghiêm

Năm Bảy Mươi (1970) Trưởng Phân Khoa Phật Học

Đại Học Vạn Hạnh suốt năm năm liền (đến 1975).

Năm Bảy Mốt (1971), được cử làm Viện Trưởng

Viện Cao Đẳng Phật Học Huệ Nghiêm

Năm Bảy Ba (1973), được cử Phó Viện Trưởng

Viện Hóa Đạo - Phật Giáo Việt Nam.

Năm Tám Mốt (1981) ở trong Kỳ Đại Hội

Đại Biểu Thống Nhất Phật Giáo Việt Nam

Ngài được cử - Phó Chủ Tịch Thường Trực

Kiêm Trưởng Ban Tăng Sự Trung Ương.



Năm Tám Tư (1984) đến ngày về cõi Phật (2014)

Giữ vai trò trọng yếu của Giáo Đoàn

Hội Đồng Trị Sự thừa đương Chủ Tịch

Tháng năm dài cống hiến chẳng mỏi mòn.

Ngài đàn đầu bao Giới Đàn Truyền Giới

A Xà Lê, Giáo Thọ, Tuyên Luật Sư

Dìu lớp trẻ cùng thăng hoa, tiến tới

Theo đường xưa, mây trắng, đức Phụ Từ.

Đáng kể nhất là kho tàng Kinh Luật

Ngài dịch nên, nay khắp chốn lưu truyền

Công phu lắm về văn chương học thuật

Hành trì sâu mới tỏ lý u huyền.

Về cơ sở, Ngài dày công dựng lại

Chùa Vạn Linh, Tháp Tể tỉnh An Giang

Thiền Viện Quảng Đức khang trang rộng rãi

Vạn Đức uy nghi, hiện đại, huy hoàng.

Gương sáng còn treo :

Tìm học Đạo bôn ba thiên vạn lý

Rồi vân du khắp chốn để độ sanh

Suốt thế kỷ không có ngày ngơi nghỉ

Ứng hóa tùy duyên, bỏ mặc lợi danh.

Một Thầy giáo tận tâm, đầy trí đức

Một nhà Sư phụng sự Đạo và Đời

Một học giả - miệt mài bao công sức

Thượng sỹ xuất trần tự tại rong chơi.

Mỗi lời nói là khuôn vàng thước ngọc

Mỗi việc làm đều quỹ phạm uy nghi

Mỗi ý niệm sáng trong như châu ngọc

Ngài kết tinh Trí Tuệ với Từ Bi.

Khắp tứ chúng đang bàng hoàng rơi lệ

Tiễn Ân Sư trong giờ phút đăng trình

Nỗi nghẹn ngào tiếc thương không xiết kể

Đọng nơi đây bao giáo huấn ân tình.

Con nguyện theo gương sáng Ngài tu học

Tiếp dẫn hậu lai, hoằng Pháp, lợi sinh

Không cô phụ công ơn Ngài khó nhọc

Khai mở đường đi, dày dạn công trình.

Con cầu nguyện Ngài vãng sanh Tịnh Độ

Hoa khai kiến Phật, tỏ ngộ vô sinh

Thuyền Bát Nhã Ngài trở vào biển khổ

Vớt trầm luân, phổ độ khắp hàm linh.

Trọng Xuân, Giáp Ngọ, DL 2014, PL. 2558

Khể Thủ Hậu Học : Thích Đồng Trí (Thích Minh Tuệ)



Ghi chú : “Vạn Đại Truyền Thừa”: đặc biệt nói về Kinh Sách được Hòa Thượng dịch và chí hướng đào tạo con người, giáo dục, nghiên tầm Kinh Điển của Hòa Thượng được truyền thừa lâu dài về sau.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/08/2011(Xem: 8263)
Trần Nhân Tông phải được coi là nhân vật kiệt xuất nhất trong lịch trình phong kiến Việt Nam và cũng là nhân vật kiệt xuất nhất trong sơ đồ Phật giáo Việt Nam, một trong những niềm tự hào lớn lao nhất của dân ta.
10/08/2011(Xem: 9327)
Về cuộc đời và sự nghiệp lịch sử, giải thoát của vua Trần Nhân Tông, đã có nhiều công trình biên khảo: Trần Nhân Tông, thiền sư Việt Nam; Trần Nhân Tông, nhà văn hóa; Trần Nhân Tông, nhà thơ; Trần Nhân Tông, nhà quân sự; Trần Nhân Tông, nhà lãnh đạo lỗi lạc; Trần Nhân Tông, nhà tư tưởng... Trong bài khảo luận ngắn này, người viết chỉ đề cập đến một số nét tiêu biểu về Tiểu sử, sở đắc giải thoát và Tư tưởng Phật học của Người.
10/08/2011(Xem: 9152)
Lịch sử dân tộc VN không có nhiều vị vua có được sự ghi chép đầy đủ về sự mến mộ của người dân sau khi đã mất như Vua Trần Nhân Tông. 50 năm cuộc đời, nhà vua để lại bao lưu luyến cho những người đương thời và hậu thế... - nhận định của GS-TS Lê Mạnh Thát - Phó Viện trưởng thường trực Học viện Phật giáo VN tại TPHCM.
09/08/2011(Xem: 7632)
Gần đến kỷ niệm 700 năm ngày mất của vua Trần Nhân Tông, chúng ta vẫn phải đặt những câu hỏi về tuổi tác, về trách nhiệm, về kế lâu dài, về sự tự do và tự trọng của các cá nhân trong xã hội…
09/08/2011(Xem: 7712)
Nghiệm sinh nửa thế kỷ trên cõi đời, Trần Nhân Tông (1258-1308) đã có những đóng góp xuất sắc vào lịch sử chống ngoại xâm, xây dựng đất nước, phát triển tư tưởng Phật giáo dân tộc và là một trong những tác giả đi đầu trong việc sáng tác thơ phú bằng chữ Hán và chữ Nôm.
09/08/2011(Xem: 7809)
Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) sau khi khoác tăng bào ở tuổi 40 đã chu du khắp nơi để thuyết pháp, giảng kinh, khuyên dân chúng giữ gìn mười điều lành, và từng trở về kinh đô Thăng Long tổ chức lễ thụ Bồ tát giới cho vua Trần Anh Tông và quan lại triều đình.
09/08/2011(Xem: 8877)
'Vậy là đã 700 năm, 7 thế kỷ trôi qua từ khi Đức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông viên tịch, thể nhập vào niết bàn an nhiên tự tại. Cả dân tộc Việt Nam đều được biết đến Ngài là một bậc quân vương anh minh của đất nước Đại Việt, mà cũng là một vị Sơ Tổ của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Nói đúng hơn, Ngài là một vị “Vua Phật” của Việt Nam.
08/08/2011(Xem: 7758)
Lễ húy nhật cố Hòa thượng Thích Phước Huệ (1875 - 1963) - chùa Hải Đức
08/08/2011(Xem: 8777)
"Vì sao Thượng hoàng Trần Nhân Tông không ở lại Vũ lâm hay lựa chọn một nơi nào khác trên đất nước Đại Việt mà lại chọn Yên Tử để tu hành?" - Câu hỏi được phần nào lý giải trong tham luận của Nguyễn Trần Trương (Phó Ban Dân tộc tỉnh Quảng Ninh) trong Hội thảo tưởng niệm 700 năm ngày Đức vua
07/08/2011(Xem: 17239)
Nói đến tinh thần "Hòa quang đồng trần" tức là nói đến tinh thần nhập thế của đạo Phật, lấy ánh sáng của đức Phật để thắp sáng trần gian, “sống trong lòng thế tục, hòa ánh sáng của mình trong cuộc đời bụi bặm”, và biết cách biến sứ mệnh đạo Phật thành lý tưởng phụng sự cho đời, giải thoát khổ đau cho cá nhân và xã hội. Thời đại nhà Trần và đặc biệt vua Trần Nhân Tông (1258-1308) đã làm được điều này thành công rực rỡ, mở ra trang sử huy hoàng cho dân tộc.