17. Vạn Đức Lưu (T.Minh Tuệ)

05/04/201407:13(Xem: 10759)
17. Vạn Đức Lưu (T.Minh Tuệ)

VẠN ĐỨC LƯU PHƯƠNG - VẠN ĐẠI TRUYỀN THỪA

Thành kính đảnh lễ Giác Linh Cố Đại Lão Hòa Thượng ThíchthượngTrí hạ Tịnh !



Hỡi ôi !

Vạn Đức trang Kinh còn bỏ dở

Thủ Đức mây đen nặng lững lờ

Người rời cõi mộng về bảo sở

Tứ chúng bàng hoàng – khóc bơ vơ…

Nhớ Linh Xưa :

Làng An Hưng – Tàu Thượng

Sa Đéc, huyện Châu Thành

Nhà nhơn từ, thịnh vượng

Ngài ứng hiện thọ sanh.

Mười lăm tuổi học chữ Nho – Hán Cổ

Rồi chuyên sâu học thuốc độ quần sanh

Lên núi Cấm, Chùa Vạn Linh gặp Tổ

Xin xuất gia, dốc chí quyết tu hành.

Ngài tham học với chư Sơn trong tỉnh

Nghiên cứu sâu Phật Pháp, Từ Bi Âm

Rồi khăn gói ra miền Trung, Bình Định

Tìm Minh Sư, trú học Chùa Liên Tôn.

Ra đến Huế, Chùa Tây Thiên – Trung Cấp

Ngài dồi trau Kinh Sử rất chuyên cần

Lên Cao Đẳng Phật Học Đường Báo Quốc

Thọ giáo cùng Ngài Trí Độ, Tường Vân.

Năm Bốn Mốt (1941) bao phước duyên sẵn có

Chùa Quốc Ân đăng đàn thọ Sa Di

Cụ Trí Độ ban pháp tự : Trí Tịnh

Giới Tịnh thanh, Trí lực ít ai bì.

Lớp Cao Đẳng Phật Học vừa hoàn mãn

Năm Bốn Lăm (1945), gặp chiến cuộc leo thang

Nhiều trường lớp phải tùy nghi di tản

Về Trà Ôn, lập Học Viện Phật Quang.

Cùng năm đó (1945) Ngài Tam Đàn Cụ Túc

Chùa Tân An, tại Sa Đéc, tỉnh nhà

Ngài Kim Huê làm Đường Đầu Hòa Thượng

Kể từ đây thêm uy lực độ tha.

Năm Bốn Sáu (1946), về Sài Gòn - Vạn Phước

Thành lập nên Liên Hải Phật Học Đường

Từ đây tạo bao Tăng Tài tiếp nối

Bửu Huệ Sa Môn, Minh Cảnh, Quảng Liên,…

Năm Năm Hai (1952), nét son trang Phật Việt

Giáo Hội Tăng Già Nam Việt thành hình

Ngài giữ chức Trưởng Ban Giáo Dục

Giám Luật và Ban Phiên Dịch Tạng Kinh.

Ngài cổ xúy Pháp môn tu Tịnh Độ

Cho những ai dốc chí vãng Tây Phương

Cực Lạc Liên Hữu, Ngài làm Liên Trưởng

Chùa Liên Trì, Chùa Vạn Đức Đạo trường.

Ngài khai mở Khóa Như Lai Sứ Giả

Tại Tuyền Lâm, Pháp Hội với Dược Sư,…

Bồi dưỡng thêm nhiều Trụ Trì năng lực

Đào tạo nên nhiều thế hệ Giảng Sư.

Năm Sáu Hai (1962) Ngài làm Phó Viện Trưởng

Tại Trung Phần Phật Học Viện Nha Trang

Đào tạo Tăng tài, mầm non trưởng dưỡng

Thay thế vai trò Hòa Thượng Trí Quang.

Năm Sáu Tư (1964) hợp nhất nên Giáo Hội

Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất thành hình

Tổng Vụ Tăng Sự, làm Tổng Vụ Trưởng

Cùng góp phần cho Phật Pháp xương minh.

Năm Sáu Tám (1968), Ngài trong Ban Giảng Huấn

Suốt ba năm cho Cao Đẳng Huệ Nghiêm

Năm Bảy Mươi (1970) Trưởng Phân Khoa Phật Học

Đại Học Vạn Hạnh suốt năm năm liền (đến 1975).

Năm Bảy Mốt (1971), được cử làm Viện Trưởng

Viện Cao Đẳng Phật Học Huệ Nghiêm

Năm Bảy Ba (1973), được cử Phó Viện Trưởng

Viện Hóa Đạo - Phật Giáo Việt Nam.

Năm Tám Mốt (1981) ở trong Kỳ Đại Hội

Đại Biểu Thống Nhất Phật Giáo Việt Nam

Ngài được cử - Phó Chủ Tịch Thường Trực

Kiêm Trưởng Ban Tăng Sự Trung Ương.



Năm Tám Tư (1984) đến ngày về cõi Phật (2014)

Giữ vai trò trọng yếu của Giáo Đoàn

Hội Đồng Trị Sự thừa đương Chủ Tịch

Tháng năm dài cống hiến chẳng mỏi mòn.

Ngài đàn đầu bao Giới Đàn Truyền Giới

A Xà Lê, Giáo Thọ, Tuyên Luật Sư

Dìu lớp trẻ cùng thăng hoa, tiến tới

Theo đường xưa, mây trắng, đức Phụ Từ.

Đáng kể nhất là kho tàng Kinh Luật

Ngài dịch nên, nay khắp chốn lưu truyền

Công phu lắm về văn chương học thuật

Hành trì sâu mới tỏ lý u huyền.

Về cơ sở, Ngài dày công dựng lại

Chùa Vạn Linh, Tháp Tể tỉnh An Giang

Thiền Viện Quảng Đức khang trang rộng rãi

Vạn Đức uy nghi, hiện đại, huy hoàng.

Gương sáng còn treo :

Tìm học Đạo bôn ba thiên vạn lý

Rồi vân du khắp chốn để độ sanh

Suốt thế kỷ không có ngày ngơi nghỉ

Ứng hóa tùy duyên, bỏ mặc lợi danh.

Một Thầy giáo tận tâm, đầy trí đức

Một nhà Sư phụng sự Đạo và Đời

Một học giả - miệt mài bao công sức

Thượng sỹ xuất trần tự tại rong chơi.

Mỗi lời nói là khuôn vàng thước ngọc

Mỗi việc làm đều quỹ phạm uy nghi

Mỗi ý niệm sáng trong như châu ngọc

Ngài kết tinh Trí Tuệ với Từ Bi.

Khắp tứ chúng đang bàng hoàng rơi lệ

Tiễn Ân Sư trong giờ phút đăng trình

Nỗi nghẹn ngào tiếc thương không xiết kể

Đọng nơi đây bao giáo huấn ân tình.

Con nguyện theo gương sáng Ngài tu học

Tiếp dẫn hậu lai, hoằng Pháp, lợi sinh

Không cô phụ công ơn Ngài khó nhọc

Khai mở đường đi, dày dạn công trình.

Con cầu nguyện Ngài vãng sanh Tịnh Độ

Hoa khai kiến Phật, tỏ ngộ vô sinh

Thuyền Bát Nhã Ngài trở vào biển khổ

Vớt trầm luân, phổ độ khắp hàm linh.

Trọng Xuân, Giáp Ngọ, DL 2014, PL. 2558

Khể Thủ Hậu Học : Thích Đồng Trí (Thích Minh Tuệ)



Ghi chú : “Vạn Đại Truyền Thừa”: đặc biệt nói về Kinh Sách được Hòa Thượng dịch và chí hướng đào tạo con người, giáo dục, nghiên tầm Kinh Điển của Hòa Thượng được truyền thừa lâu dài về sau.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/08/2014(Xem: 15054)
Hòa thượng Họ Đinh, húy Văn Nam, là đệ tử của cố Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Đệ nhất Tăng thống GHPGVNTN, pháp danh Tâm Trí, tự Minh Châu, pháp hiệu Viên Dung, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1918 (Mậu Ngọ) tại làng Kim Thành (Quảng Nam); nguyên quán làng Kim Khê, xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Thân phụ là cụ ông Đinh Văn Chấp và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Đạt. Gia đình Hòa thượng có 11 người anh em, Hòa thượng là con trai thứ tư trong gia đình. Vốn sinh trưởng trong gia đình vọng tộc Nho gia, thân sinh của Hòa thượng đỗ tiến sĩ Hoàng giáp năm 21 tuổi (khoa Quý Sửu 1913, niên hiệu Duy Tân thứ 7). Nhờ ảnh hưởng sâu đậm nền giáo dục của cụ ông từ bé, vì vậy Hòa thượng rất cần mẫn đèn sách, chăm chỉ học hành, trí tuệ phát triển sớm. Năm 1939, Hòa thượng đỗ bằng cao đẳng tiểu học Đông Dương; năm 1940 Hòa thượng đỗ tú tài toàn phần tại Trường Khải Định - Huế (nay là Trường Quốc Học); và cùng thời gian này, Ngài được bổ làm Thư ký Tòa Khâm sứ tỉnh Thừa Thiên. Sau một năm
03/08/2014(Xem: 8759)
Lễ nhập quan được cử hành tại Bình Quang Ni tự vào lúc 18g00 cùng ngày. Lễ phúng viếng bắt đầu từ 8g00 ngày 9-7 Giáp Ngọ (4-8-2014). Lễ truy niệm được cử hành vào lúc 4g00 sáng nay, 12-7 Giáp Ngọ (7-8-2014); lễ phụng tống kim quan vào lúc 6g00 sáng cùng ngày. Nhục thân cố Ni trưởng tới đài hỏa táng núi Dinh, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu làm lễ trà-tỳ. Tro cốt của Ni trưởng sẽ được nhập bảo tháp tại Bình Quang Ni tự. Được biết, cố NT.Thích nữ Huyền Tông thế danh Dương Thị Ngọc Cúc, sinh năm 1918 tại P.Đức Thắng, TP.Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Vì sớm giác ngộ lý vô thường, nên năm 17 tuổi (1936), Ni trưởng cùng người cô của mình là cố Ni trưởng Huyền Học quyết tâm vào Sài Gòn xuất gia với cố Ni trưởng Diệu Tịnh tại chùa Hải Ấn. Đến năm 1940, Ni trưởng được thọ giới Cụ túc tại Giới đàn chùa Vạn An (tỉnh Sa Đéc). Suốt hơn 2/3 thế kỷ tu học và hành đạo, Ni trưởng đã tham gia vào phong trào đấu tranh yêu nước trong cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1945, đấu tranh đòi quyền bình đẳng tô
31/07/2014(Xem: 20613)
An Cư Kiết Đông đã qua, Nhưng lời thuyết pháp đậm đà vẫn vương Thích Ca tái thế tình thương Thầy về giảng Pháp con nương nơi Thầy
27/07/2014(Xem: 10004)
Con đang ở lại trần gian trong bầu không khí Đạo pháp hơn 2000 năm. Nhưng kinh sách thiên vạn quyển cũng không bằng được sống bên bậc danh Tăng thạc đức trong ngôi nhà Vạn Hạnh. Tình thương yêu của Ôn luôn tưới tẩm và lan tỏa trong toàn thân con mỗi ngày khi được sống bên Ôn.
24/07/2014(Xem: 15898)
Mới đó mà một năm sắp trôi qua và hai năm cũng sẽ đến ngày viên tịch của cố Hòa Thượng Thích Minh Tâm, Viện Chủ chùa Khánh Anh kiêm Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu. Giáo Hội Âu Châu mong mỏi thực hiện một Kỷ Yếu nhân lễ Đại Tường (2015) nên đã giao phần gom góp và biên tập bài vở cũng như trang trí quyển Kỷ Yếu nầy cho Hòa Thượng Thích Như Điển (Đức), Hòa Thượng Thích Nguyên Siêu (Hoa Kỳ) và Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng (Úc Châu) thực hiện. Lâu nay chúng ta đã có một số bài tiêu biểu đã được đăng trên các trang nhà như : quangduc.com, viengiac.de, hoavouu.com và một số trang nhà khác.
22/07/2014(Xem: 39439)
Ngôi tu viện Phật giáo vùng Tây Bắc của tiểu bang Victoria được Thượng tọa Thích Tâm Phương khai sơn từ năm 1990. Ban đầu tu viện tọa lạc ở vùng Broadmeadows. Đến năm 1995, tu viện vận động mua lại ngôi trường tiểu học Fawkner cũ có diện tích 8.000 m2 và xây dựng thành ngôi phạm vũ trang nghiêm mang tên Bồ tát Thích Quảng Đức từ năm 1997 đến năm 2003. Công trình xây dựng do kiến trúc sư Nguyễn Kiển Thành thiết kế, kiến lập theo kiểu chữ “Công” mang dáng dấp kiến trúc cổ kính Á Đông. Đại lễ khánh thành được tu viện tổ chức trọng thể vào các ngày 10, 11 và 12-10-2003. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm thờ tôn tượng đồng đức Phật Thích Ca thiền định. Tượng cao 2,50m, nặng khoảng 1,5 tấn. Phía trước và hai bên, tu viện đặt thờ nhiều tượng Phật, Bồ tát, Hộ Pháp Già Lam. Đến năm 2008, tu viện xây Tăng xá và Bảo tháp Tứ Ân. Bảo tháp 4 tầng, cao 14m, rộng 5m, trên nóc tôn trí tượng đức Phật A Di Đà cao 1,2m. Trong bảo tháp tôn thờ Xá Lợi Phật, tượng chư Phật, Bồ tát và linh cốt của Phật tử q
12/07/2014(Xem: 9963)
Thời gian mãi trôi qua, không gian chưa bao giờ ngừng sự chuyển động và con người cũng phải già thêm, vì không thể cưỡng lại định luật vô thường vốn tự có. Ngày xưa khi Đức Phật còn tại thế Ngài hay dạy cho các vị đệ tử rằng: Phàm những gì có hình tướng thì tất cả đều bị chi phối bởi sự vô thường, mà đã vô thường thì nguyên nhân chính của nó là khổ, nhưng thật ra cái khổ nó cũng không có thật tướng, vì bản thể của mọi hiện tượng đều là không. Sở dĩ có, vì có ái và thủ chấp hữu, nên mới có những tướng sanh diệt. Khi nào không duyên vào bất cứ một hiện tượng hay hình thức nào bên ngoài, thì lúc ấy chúng ta sẽ chứng được thực tướng của Niết Bàn vô sanh vô diệt.
05/07/2014(Xem: 8428)
Hôm nay, dẫu Ni trưởng Thích nữ Viên Minh duyên trần đã mãn nhưng tâm hạnh và sự nghiệp tu tập của Người mãi là kho tàng vô giá, là ngọn Hải đăng cho Ni chúng Thừa Thiên Huế nói riêng và cả nước nói chung đồng tôn ngưỡng hướng về. Ni trưởng thế danh Nguyễn Thị Khiêm Tốn, húy thượng Tâm hạ Huệ, tự Viên Minh, hiệu Trí Uyên, sinh năm Giáp Dần (1914) tại thôn Động Giả, xã Đỗ Động, huyện Thanh Oai, Hà Nội (tức tỉnh Hà Đông).
01/07/2014(Xem: 11205)
Ni sư Thích nữ Hải Triều Hạnh, Pháp Hiệu Hoằng Hạnh, Tự Liễu Như, thế danh Trần Duy Hạnh. Sinh năm Ất Mùi 1955 tại Gia Định sài gòn. Ni Sư sinh trưởng trong 1 gia đình gia giáo. Thân phụ là cụ ông Trần Duy Ninh PD: Hoằng Ninh, vốn là em kết nghĩa của Thầy Hải Triều Âm là một y sĩ cùng làm chung một sở y tế với Thầy, khi Thầy chưa xuất gia cụ ông luôn theo Thầy làm trưởng đoàn công tác từ thiện xã hội và Thân Mẫu là Cụ Bà Nguyễn thị Hoa Truật, pháp danh Mỹ Dung, sau Hòa Thượng Pháp Chủ đổi tên là Cát Tường vốn là vị hộ pháp thân tín trong thời gian Thầy xuất gia, nhập thất và suốt chặng đường hoằng Pháp của Thầy.