Anh Ngự kính yêu,

30/01/201422:14(Xem: 12133)
Anh Ngự kính yêu,
Dao_Huu_Nguyen_Ngu_Nguyen_Buu

Anh Ngự kính yêu,

Ngày hôm nay trước khi thể xác anh được nằm yên trong lòng đất mẹ ấm áp, trước cảnh trời bao la hùng vĩ, khí xuân ấm áp vui tươi nơi cố hương, xung quanh anh lại có cả đại gia đình, bà con, đạo hửu thân tình đưa tiển, em chắc chắn anh sẽ mãn nguyện ra đi. Riêng em vì hoàn cảnh xa xôi không cho phép em được hiện diện hôm nay để tiển đưa anh lần cuối đ ixa mãi vậy thì anh cho phép em được tỏ bày đôi lời từ biệt.
Anh Ngự mến thương,
Em cứ nghĩ rằng mùa xuân năm nay chắc chắn thế nào rồi anh em mình cũng sẽ phải gặp lại nhau, sẽ đựơc chuyện trò hàn huyên nhiều hơn cho bù lại những ngày vắng xa, vậy mà trớ trêu thay định mệnh nào đã mang anh ra đi quá nhanh. Hình như linh tính đã báo trước mà trong những ngày gần đây em cảm thấy sao thời gian chờ đợi ngày về để gặp anh hình như dài hơn, lại hồi hộp quan trọng hơn. Từ lâu em cũng đã nghĩ, biết đâu thời gian tới đây với tuổi đời càng chồng chất không còn cho anh em mình chờ đợi nữa nhưng rồi than ôi cuộc biệt ly ngàn trùng mãi mãi đã xảy ra quá đột ngột.
Vẫn biết cuộc sống nầy chỉ là vô thường có đó rồi không đó chẳng có gì là tồn tại mãi, ai rồi cũng có ngày phải từ giả cỏi trần tạm bợ nầy, kẻ trước người sau mà thôi nhưng khuôn mặt, vóc dáng, tiếng nói trầm ấm, nụ cười hiền hoà vàbiết bao muôn vàn kỷ niệm của an hem chúng ta làm sao mà em nguây ngoa được, em vẫn cảm nhận như anh đang lảng vảng quanh em dù không gian xa vợi vợi.
Anh Ngự thân thương,
Chỉ một ngày trước khi anh mãi mãi ra đi, em đã điện thoại nói chuyện được với anh vài câu rồi tự nhiên anh bỏ điện thoại nửa chừng không lời từ giả ,im lặng, không cúp điện thoại, thật là một điều kỳ lạ mà cả trăm lần nói chuyện với anh trước đây chưa bao giờ xẩy ra như vậy, em không nghĩ đó lại là lần cuối cùng em được may mắn nghe tiếng anh nói.
Anh Ngự ơi, đối với cha mẹ, anh là một người con hiếu thảo, anh hảnh diện đã làm đủ bổn phận hơn em, với gia đình, anh thật là người chồng tốt, người cha mẫu mực,anh luôn giáo dục con cái sống đời đạo đức, giản dị, rộng lượng và nhân ái với mọi người. Cũng như anh và cha mẹ chúng ta anh đã luôn khuyến khích con cháu phải học hành chỉ có sự giáo dục tốt mới đem lại cho con người có nhiều cơ hội phục vụ cho tha nhân.
Đối với anh em,cháu chắt, anh luôn làm đúng nhiệm vụ của người anh cả, thương yêu em út, anh là người bác, người cậu thân ái. Anh cũng là sợi dây kết nối bền vững của những thành viên trong gia đình, là tấm gương sáng cho con cháu noi theo.
> Đối với bà con cũng như bạn bè anh luôn luôn chứng tỏ là một con người khiêm tốn, hoà nhã, khi có hoàn cảnh thuận tiện anh luôn sẵn sàng giúp đở.
Phải chăng ở trong anh là sự tiếp nối huyết thống của cha mẹ tính liêm khiểt, sự chung thủy và lòng nhân ái.
Tuy rằng trong gia đình chúng ta may mắn thay có được Thầy Khế Chơn là ngọn hải đăng chỉ đường cho chúng ta đi về nẻo chân,thiện,mỹ nhưng anh cũng đã đóng đúng vai trò của người anh đầu đàn cuả thế hệ thứ hai theo gương Ôn Mệ để hướng dẩn cho anh em,con cháu noi theo.
Kể sao cho xiết, hôm nay trước giây phút ly biệt với gia đình vợ con, em cháu, bà con, bạn bè em chắc rằng lòng anh sẽ không còn phải thắc mắc hối tiếc vì khi sống anh đã làm đúng những điều tốt đẹp, anh thanh thảng ra đi và biết đâu bên kia thế giới anh sẽ gặp lại Ôn Mệ, bà con, bạn bè thân yêu.
Chị Ngự và các cháu thân mến,
Đức Phật cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm đã thấy được một thế giới bình an bên kia và ngày nay khoa học đã có chứng minh điều đó là sự thật, vậy thì cái chết chỉ là một sự tiếp nối cuả cuộc sống ở một thể giới bên kia mà em, chú tin chắc rằng anh và ba cuả các cháu sẽ được hưởng sự an lạc đó.
Nhân tiện đây em cũng nhắc lại nguyện ước của anh khi còn khoẻ mạnh là: " các con cháu cuả giòng họ Nguyễn Thụ hãy luôn luôn giử lấy gia phong, đừng vì hư danh hay lợi lộc bất chính để đánh mất để đánh mất đi cái đạo phong quí giá mà Ôn Mệ đã dày công vun xới. Nếu được như vậy, thì dòng họ sẽ mãi mãi trường tồn và mãi mãi xứng đáng đứng trong lòng của tất cả mọi người..."
Nguyện cầu hương linh anh sớm về cỏi bình an cực lạc.
Vô cùng thương mến.
Em của anh.

Nguyễn An và gia đình.
Pháp quốc, ngày 29tháng Chạp năm Giáp Tý.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/11/2010(Xem: 19210)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 51319)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 10585)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).
23/10/2010(Xem: 9262)
Trong Cây Có Hoa Trong Đá Có Lửa Kính Dâng Hòa Thượng Thích Như Điển nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của Ngài và kỷ niệm 40 năm khai sơn Chùa Viên Giác tại Đức Quốc Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng “Trong Cây Có Hoa, Trong Đá Có Lửa” là lời pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên do Hòa Thượng Thích Như Điển nhắc lại trong thời giảng Pháp của Ngài mà tôi đã nghe được khi theo hầu Ngài trong chuyến đi Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ năm 2006. Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) là người Nhật, Ngài sinh năm 1200 và tịch năm 1253, thọ 53 tuổi. Ngài là Sáng Tổ của của Soto-Zen (Thiền Tào Động) của Nhật Bản, và là tác giả bộ sách nổi tiếng “Chánh Pháp Nhãn Tạng” “Ki no naka ni, hana ga aru (Trong cây có hoa), Ishi no naka ni, hi ga aru (Trong đá có lửa)” Đó là pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), được Hòa Thượng Như Điển dịch sang lời Việt. Lời thơ quá tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng dung chứa cả một kho tàng giáo lý về Nhân Duyên Quả của Đạo Phật.
23/10/2010(Xem: 9067)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.
23/10/2010(Xem: 8875)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
23/10/2010(Xem: 8627)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự
23/10/2010(Xem: 8134)
Cư sĩ Mai Thọ Truyền sinh ngày 01-4-1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre trong một gia đình trung lưu. Thuở nhỏ ông được theo học tại trường Sơ học Pháp - Việt Bến Tre, rồi Trung học Mỹ Tho, và Chasseloup Laubat Saigon. Năm 1924, ông thi đậu Thư ký Hành chánh và được bổ đi làm việc tại Sài Gòn, Hà Tiên, Chợ Lớn. Năm 1931, ông thi đậu Tri huyện và đã tùng sự tại Sài Gòn, Trà Vinh, Long Xuyên và Sa Đéc. Hành nhiệm ở đâu cũng tỏ ra liêm khiết, chính trực và đức độ, không xu nịnh cấp trên, hà hiếp dân chúng, nên được quý mến.
23/10/2010(Xem: 13174)
Trong lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam, vương triều Trần (1226-1400) được tôn vinh là triều đại sáng chói nhất thể hiện qua những chiến công hiển hách thắng giặc ngoại xâm cũng như chính sách hộ quốc an dân đã tổng hợp được sức mạnh của toàn dân ta cùng với vua quan trong việc bảo vệ và phát triển đất nước vô cùng tốt đẹp.
23/10/2010(Xem: 22479)
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua, và vài năm sau trở thành một nhà sư và đã để lại một di sản Thiền Tông bây giờ vẫn còn phát triển để trở thành dòng Thiền lớn nhất tại Việt Nam. Ngài tên là Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của Nhà Trần và là vị sáng lập Dòng Thiền Trúc Lâm.