Cảm niệm Ân Sư (T. Tịnh Phước)

19/11/201308:00(Xem: 22438)
Cảm niệm Ân Sư (T. Tịnh Phước)
Le_Bach_Nhat_On_Minh_Tam (1)



Cảm Niệm Ân Sư



Kính bạch chư tôn Hòa thượng, chư Thượng tọa, chư Ni trưởng, Ni sư, chư tôn Đại đức tăng, Đại đức ni!
Kính thưa quý thiện hữu, nhân sĩ trí thức.
Chỉ còn vài giờ đồng hồ nữa thôi là huyễn thân tứ đại của Thầy chúng con sẽ chỉ còn ” ray rứt bụi tro bay ”! Trong khoảnh khắc ngắn ngủi còn lại này, xin phép quý Ngài cho chúng con có vài lời hoài niệm về Thầy của chúng con!



Kính bạch Giác linh Thầy!
Than Ôi!
Nhà thiền Khánh Anh từ đây vắng bóng
Giáo hội Âu châu mãi mãi bặt âm.
Đèn thiền xao gió.
Trăng giới lờ mây!
Nét bước tượng vương nơi cửa Pháp, trước mắt mơ màng;
Tiếng kêu sư tử lối rừng Thìền, bên tai văng vẳng.
Chúng con dẫu biết, sắc tướng huyễn hư, sương mai, điện chớp, cây bờ, mộng mị;
Nhưng ngặt vì nỗi, Thầy trò nghĩa nặng, dù trời Tứ không mà vẫn còn khóc cảnh Song lâm!
Đức hạnh của Thầy:
Gương sáng trong ngần, sóng tình lặn bặt
Sớm rời cửa tục, xuất gia thuở tuổi còn xanh.
Sâu tỏ màu thiền, giảng sư, Hiệu trưởng khi vừa Cụ túc.
Xuất dương du học, phát túc siêu phương
Âu châu hoằng pháp, chấn nhiếp ma quân.
Buộc ràng sáu ngựa, chơi nhởi ba xe
Trăm nét vuông tròn, một niềm trong sạch
Mảnh chơn tướng dễ lờ nước thủy,
Điểm không hoa chẳng dính bụi trần.
Chúng con mừng cho thân phận chúng con
May đặng gặp Thầy, theo mà học đạo
Trừ tội chướng một dao xuống tóc
Phủ phước điền ba lớp truyền y.
Đạo đức say sưa, Thầy trò hủ hỉ
Lý kinh, nghĩa luật,
Giọng pháp âm hằng bữa lọt vào tai.
Đức của Thầy như thế.
Danh của Thầy như thế.
Cũng ngỡ rằng:
Cái gót tùy duyên chưa vội trở,
Bánh xe cửu trụ hãy còn ngừng,
Nào hay đâu:
Gậy tích xa bay,
Đường huyền sớm tách,
Chiếc dép hữu tình rơi lại đó
Con thuyền vô để ngự đi đâu?
Có lẽ giờ này.
Chín phẩm sen vàng, Thầy an vui trên miền thất bảo
Một vành trăng bạc, trò ngẩn ngơ vừa lúc tam đông!
Cảnh tình này, sâu dài tưởng ngắn.
Ôi, thôi thôi!
Tấm áo ca sa sương lạnh ngắt
Cành hoa Bát nhã gió buồn thiu!
Khi nào, Thầy thăng tọa, trò niêm chùy, lắm lúc sum vầy nơi pháp hội.
Bây giờ: trò Ta bà, Thầy Cực lạc, xiết bao sùi sụt suy tư!
Ôi thôi! sữa pháp mất rồi,
Lòng con đói mãi.
Biết cậy ai, ngày la đêm nhắc
Biết nương ai, sớm dắt tối dìu
Biết hỏi ai mở trí nguyên thần,
Biết nhờ ai nuôi thân huệ mạng?
Lơ láo một mình nơi tha hương
Đớn đau buồn vì sự mất cha
Đi về ngàn dặm lối tha phương
Thẩn thơ nghĩa, mong chừng gặp mẹ.
Phận con ngậm ngùi nhớ mãi
Duyên gặp Thầy trong khóa tu học Phật pháp Khánh Anh lần thứ hai
Ai ngờ đâu mùi thiền xông ướp, một bước xuất gia, lạy Thầy tế độ
Đấng phụ thân có lần tỏ lộ thiên cơ
Rằng bổn sư con vốn cốt cách xuất trần Đại sĩ
Con còn nhớ:
Năm mười ba tuổi lạy Đức Quán Âm xin làm đệ tử
Khi xuất gia, phụ thân mộng thấy Quán Âm đến nhà.
Ba năm làm Sa-di biết bao chướng duyên ngăn trở
Vẫn một lòng đảnh lễ Quán Thế Âm,
Thầy liền đến ban vài lời pháp nhũ
Mọi chướng duyên ngăn trở đều tiêu tan.
Rồi trên đường hoằng pháp mở mang
Dẫu khó khăn, sóng gió muôn vàn
Nhưng hễ làm việc gì mà Thầy hoan hỷ
Thì y như rằng sóng gió bặt tăm.
Kính lạy giác linh Thầy!
Tận trong sâu thẳm tâm con
Thầy là hóa thân của Bồ tát Quán Thế Âm!
Giờ này,
Hương ngũ phần ba cây
Nước bát công một chén.
Cơm hương tích dám khoe mùi thượng vị,
Rau Tào khê kính biếu dạ thâm tình
Trước đài sen ngước mặt dâng lên,
Dưới chiếu cỏ cúi đầu lạy xuống.
Xin thầy chứng giám,
Cho chút lòng con
Một bức ai văn
Hòa nam bái bạch!
Kính lạy giác linh Thầy!


Thích Tịnh Phước thay lời chúng xuất gia, đọc trước kim quan Hòa Thượng Bổn Sư Thích Minh Tâm vào đêm 20 tháng 8 năm 2013 nhằm ngày 14 tháng 7 âm lịch năm Qúy Tỵ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 12024)
Căn cứ theo tài liệu nghiên cứu của Thiền sư Mật Thể trong cuốn Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, thì dưới triều chúa Nguyễn ở đàng Trong, phong trào phát triển Phật giáo nói chung và Thiền phái Lâm Tế nói riêng bành trướng rất mạnh mẽ ; đồng thời, đã lưu lại cho nền văn học Phật giáo nhiều kiến trúc mỹ thuật, hội họa rất nổi tiếng. Tuy nhiên, khi nhà Tây Sơn thống nhất đất nước, kéo quân từ Nam ra diệt Nguyễn thì đoàn quân lính nầy đã hủy diệt đi những công trình quý báu đó. Bi ký, chứng liệu bị thất tung.
10/04/2013(Xem: 9528)
Hôm nay dưới bóng mát thiền lâm Thiên Thai pháp phái, trước giây phút thiêng liêng tỏa ngát hương đàm, chúng con đang qui tụ về đây, nơi vùng đất Thánh, nơi đã ghi đậm nét lịch sử một đời người xuất thị nhập sơn, tầm rong độ nhật, nơi Ngài đã thể hiện công án thoại đàu, luôn luôn quấn quýt đeo đẳng tâm tư với những tháng năm dài chẻ chia suy cứu- Thiền pháp trầm tịch nhưng hưng suy, trừng thanh nhưng hoạt diễm ấy đến nay vẫn còn phong khí nức hương
10/04/2013(Xem: 11795)
Nhận được tin từ cố đô Huế, Việt Nam, Trưởng Lão Ni, Sư Cụ Thích Nữ Diệu Trí, thế danh Hồ thị Trâm Anh, Húy thượng Trừng hạ Khương, Đạo hiệu Liễu Nhiên, đời thứ 42 dòng Thiền Lâm Tế, Viện chủ chùa Diệu Đức, Trú Trì chùa Diệu Nghiêm, thành phố Huế, đã xã báo thân, an nhiên thâu thần thị tịch vào lúc 19 giờ 05 phút ngày 23 tháng 3 năm 2010 (nhằm ngày mùng 8 tháng 2 năm Canh Dần), trụ thế 103 năm, với 78 tuổi đạo.
10/04/2013(Xem: 10906)
Truyện của tôi không đáng gì mà phải ghi. Chỉ vì truyện ấy, hơn vài thập kỷ trước thập kỷ 2530 (1975-1985), có liên quan đến Phật giáo VN, lại bị hư cấu truyện và phim sai quá nên phải ghi. Nhưng ghi như dưới đây thì chỉ là có còn hơn không mà thôi.
10/04/2013(Xem: 9781)
Lễ Giỗ Tổ Nguyên Thiều tại Tu Viện Nguyên Thiều, Sydney, Úc Châu ngày thứ hai, 26-11-2007
10/04/2013(Xem: 11766)
Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, thế danh Nguyễn Văn Bình, sinh ngày 02 tháng 09 năm Đinh Tỵ (17-l0-1917), tại làng Mỹ An Hưng ( Cái Tàu Thượng) huyện Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (Đồng Tháp). Thân phụ là ông Nguyễn văn Cân và thân mẫu là Cụ bà Nguyễn Thị Truyện. Cụ Ông qua đời lúc H.T lên ba, Cụ Bà cũng theo Ông lúc Ngài vừa lên bảy.
09/04/2013(Xem: 10465)
Nước ta từ sau ngày Doãn Quốc Công Nguyễn Hoàng (1558 - 1613) vào trấn thủ đất Thuận Quảng, dần dần biến thành một vùng cai trị riêng cắt đứt liên hệ với vua Lê ở miền Bắc, lấy sông Danh làm ranh giới chia cắt Việt Nam thành hai mà sử gọi là Đàng Trong và Đàng Ngoài.
09/04/2013(Xem: 14326)
Hòa Thượng Pháp danh thượng Tâm hạ Ba, tự Nhựt Quang, hiệu Bửu Huệ thuộc đời 41 dòng Lâm Tế (chữ Nhựt) và đời 43 thuộc phái Thiên Thai (chữ Tâm). Húy danh: Nguyễn Văn Ba, sanh năm Giáp Dần (1941), tại Xã Tân Hương, huyện Bến Tranh, Tỉnh Ðịnh Tường (Nay là Tỉnh Tiền Giang). Thân phụ là Ông Ðặng Văn Cử, thân mẫu là Bà Nguyễn Thị Thu. Hòa Thượng theo họ mẹ, cũng là người con thứ ba trong gia đình gồm hai anh em.
09/04/2013(Xem: 10343)
Ôn Từ Đàm (Hòa thuọng Thích Thiện Siêu) với tôi vốn không có duyên nghĩa thầy trò; mặc dù, vào đầu thập niên 1960, Ôn là Giáo thọ tại Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang trong khi tôi là một học tăng ở đó. Những tháng năm này, tôi là nguòi được theo học trường Võ Tánh nên thời khóa sinh hoạt của tôi không bị câu thúc chặt chẽ; và vì vậy, ít có cơ hội gần gũi với các bậc thầy lớn như Ôn.
09/04/2013(Xem: 8698)
Trúc Lâm Đại sĩ là vua thứ tư nhà Trần, con của Thánh Tông, lên ngôi ngày 12 tháng 2 năm Mậu dần (1278). Trước khi Đại sĩ ra đời, Nguyên Thánh Hoàng Thái hậu nằm mộng thấy thần nhân đưa cho hai lưỡi kiếm bảo : "Có lệnh của Thượng giới, cho phép ngươi được chọn lấy". Bỗng nhiên được kiếm, Thái hậu bất giác rất vui, nhân đó có thai. Những tháng dưỡng thai, nhà bếp dâng thức gì Thái hậu cứ dùng như thường, chẳng cần kiêng cử mà thai cũng chẳng sao.