Diễn văn Khai Mạc (TT Tâm Phương)

10/11/201313:19(Xem: 107684)
Diễn văn Khai Mạc (TT Tâm Phương)

tuvienquangduc_3


Diễn Văn Khai Mạc
Mừng Chu Niên 20 năm & Khánh Thành Bảo Tháp Tứ Ân

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Ngưỡng bạch hiện tiền Chư Tôn Hòa Thượng, Chư Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni.

Kính thưa chư liệt vị lãnh đạo Cộng Đồng, Hội Đoàn, Đoàn Thể, quí Cơ Quan Truyền Thông, Phát Thanh, Báo Chí, quí Thân Hào Nhân Sĩ, quí Ân Nhân Đồng Hương Phật tử xa gần thân mến.

Lời đầu tiên chúng con xin thành tâm đảnh lễ đón mừng sự quang lâm chứng minh của hiện tiền Chư Tôn Thiền Đức Tăng Ni.

Chúng tôi cũng hân hoan đón chào sự có mặt thâm tình của quí vị lãnh đạo Cộng Đồng, Hội Đoàn, Đoàn Thể, quí Cơ Quan Truyền Thông, Phát Thanh, Báo Chí, quí Thân Hào Nhân Sĩ, quí Ân Nhân, Thân Hữu, đồng kính quí Đồng Hương Phật tử đã vì thâm tình của người con Việt xa xứ, vì đạo tình dân tộc mà chư liệt vị đồng có mặt cùng với chúng tôi vui mừng buổi đại lễ hôm nay.

Kính thưa Chư Liệt Vị, 30 năm của những người con Việt lưu vong trên xứ người qua biến cố lịch sử của mùa xuân 1975. Lần lượt từng đoàn người tìm đường vượt biển vì lý tưởng tự do dân chủ, trong đó có nhiều Chư Tôn Thiền Đức Tăng Ni cũng đã ra đi. Trong số đó, chúng tôi là Tỳ kheo Thích Tâm Phương cũng cùng số phận với những con tàu lênh đênh trên biển Đông nhiều ngày để tìm về bến tự do.

Hồi tưởng lại, giữa mùa hè năm 1986, chúng tôi cùng 10 vị Tôn Đức kiết giới an cư tại Chùa Liên Hoa thuộc vùng kinh tế mới ở Hố Nai, Long Thành. Ngôi Chùa tranh vách đất nằm giữa miếng đất rộng hơn 20.000 mét vuông, chung quanh bao bọc với những luống mì xanh mướt của một vùng đất vừa khai hoang, hòa quyện cùng hàng cây bạch đàn dài hun hút hơn 200 mét dẫn vào sân chùa trơ trọi với cái giếng nước bằng đất có hai cây gỗ rừng gác ngang miệng giếng, mà ngày ngày quí Thầy đều ra đây đứng làm điểm tựa để xách lên từng gầu nước để nấu ăn, tắm rửa và tưới cây.

Xa xa bên kia đồi là một mái tranh cũng tỏa khói lam chiều mỗi khi hoàng hôn buông xuống, cũng từng nhịp mõ nhặt khoan của chú tiểu công phu chiều trong ngôi Bồ Đề Lan Nhã Tự.

Dọc theo ngọn đồi Lan Nhã Tự này là một con suối nhỏ chảy róc rách, dòng nước trong ngần dẫn tới bờ Diệu Pháp Tự, là một ngôi Chùa Ni do Sư Bà Diệu Không khai sơn rồi giao lại cho đệ tử là Ni Sư Hạnh Thân và những tỷ muội làm trụ trì với những nương lang, luống mì và những giồng khoai sắn.

Tất cả chúng tôi có ba ngôi chùa này được khai sơn và hòa nhập với cư dân vùng kinh tế mới Hố Nai. Hơn 20 Tăng Ni, ngày ngày 2 buổi công phu sớm chiều và rồi vui cùng nương rẫy củ khoai trái bắp, giây bí đỏ, bí đao xanh, đậu bắp v.v…Tất cả đều vươn lên mầm sống xanh mượt bằng những gánh nước nặng trĩu trên từng đôi vai của chúng tôi được lấy đi từ con suối nhỏ chảy dọc phía sau chùa, là những bước đi đầy kham nhẫn cho đạo pháp, dân tộc trường tồn trong từng tâm niệm, khí tiết trải nghiệm của quí Thầy và quí Sư Cô với bộ áo vạt khách nâu sòng loang lổ nhiều miếng vá đủ màu, đánh dấu những ngày tháng sống đầy ý nghĩa tại quê nhà.

Dù phải chịu muôn ngàn gian khổ

Con dốc lòng vì đạo hy sinh.

Kính thưa Chư Liệt Quí Vị, cũng từ nơi này một buổi chiều mùa hạ, mùa an cư cấm túc tu học trong 3 tháng đó, tôi được một nhóm Phật tử tại Sài Gòn lên báo một tin tốt lành là: “chúng con đã lo và tìm đường cho Thầy đã xong, chúng con mời Thầy về lên đường”.Tôi nhớ rất rõ một buổi chiều đầy thổn thức lo âu của một chuyến đi xa không mấy an toàn bắt đầu vây bủa. Tôi cùng một nhóm Phật tử ngồi trên chiếc xe Đasu cũ kỷ, vượt qua những đoạn đường ngặt nghèo đất đỏ phủ kín của vùng kinh tế mới, và cuối cùng chiếc xe đã về đến cầu Sài Gòn. Tôi ngồi trầm tư nhìn kỹ quan sát mọi thứ sinh hoạt của một buổi chiều hoàng hôn buông xuống trên quê hương tôi.

Nhưng không có gì đáng nhớ, mà tôi chỉ nhìn thấy hằn in trên từng nét mặt nỗi lo lắng tất bật khi thành phố đã lên đèn, như báo hiệu một ngày đã trôi qua, những tấm vé số vẫn còn đầy ấp trên tay em chưa bán hết, gánh khoai lang luộc và đậu hủ non còn nặng trĩu trên vai người phụ nữ trạc tuổi sáu mươi.

Tôi ngắm nhìn đâu đâu cái ăn, cái mặc, cái nợ nần đáo hạn, như vẫn còn vây bủa những người dân nghèo khó khốn cùng của một thành phố đã có một thời mệnh danh là hòn ngọc viễn Đông. Nhưng rồi tôi vẫn được nhìn thấy nét hân hoan thầm kín của mỗi người đằng sau nỗi lo âu tất bật kia, ai ai cũng cố gắng tìm về một bữa cơm chiều đầm ấm bên những người vợ hiền, con thơ hay cha mẹ đã già yếu, ngồi tựa hiên nhà miệng mỏm mẻm nhai trầu ngóng đợi những người con đi tìm mưu sinh trở về khi mặt trời vừa tắt nắng.

Bến bờ tự do đã đến, tôi giã biệt quê hương, giã biệt thành phố Nha Trang thân thương, giã biệt Chùa An Dưỡng tại làng quê Thái Thông, Vĩnh Thái, nơi đã sanh ra tôi và nuôi lớn bằng ruộng đồng bát ngát, giã biệt mẹ già và người thân, giã biệt Sư Phụ tôi cùng Tổ Đình Linh Sơn Pháp Bảo Cầu Dứa, nơi đã vun trồng sơ tâm bồ đề cho từng sứ giả của Như Lai.

Hòn đảo tỵ nạn Bi Đông, Malaysia vào ngày 15-7-1986 đã đón nhận chúng tôi cùng 41 người sau 5 ngày hành trình vất vả, lênh đênh trên biển. Lúc bấy giờ trên đảo có khoảng 11.000 người Việt tỵ nạn cùng 6 vị Tôn Đức như TT. Thiện Quang, TT. Minh Thông hiện đang ở Canada, chúng tôi cùng vài vị nữa. Ôi bút mực nào diễn tả cho hết những ngày tháng đầy ý nghĩa gian lao trên bước đường vượt biển và tỵ nạn, mà hầu hết chúng tôi cùng quí vị đang ngồi ở đây đã từng trải qua không ít gian nan thống khổ. Xin hẹn lại cùng quí vị tìm đọc trong kỷ yếu 20 năm của Tu Viện Quảng Đức sẽ phát hành vào năm tới.

Kính bạch Chư Tôn Thiền Đức Tăng Ni, kính thưa Chư Liệt Quí Vị thân mến,

Sau 6 tháng ở trên đảo Bi Đông, chúng tôi được Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan bảo lãnh qua Úc, lúc bấy giờ văn phòng của Giáo Hội đặt tại Chùa Phước Huệ, tiểu bang Sydney.

Sau 10 ngày ở tại văn phòng của Giáo Hội, chúng tôi được Giáo Hội bổ nhiệm về Trụ Trì Chùa Quang Minh tại 177 Morris St, vùng Sunshine. Sau gần 3 năm làm việc tại đây chúng tôi đã mua cho Giáo Hội cũng như Chùa Quang Minh miếng đất rộng hơn 30 ngàn mét vuông của thời điểm năm 1989 với số tiền $ 305.000 Úc Kim. Một miếng đất rộng đẹp mà về sau đã trở thành chốn tòng lâm cho ngôi Chùa Quang Minh.

Sau khi mua đất xong vì lý do sức khỏe nên tôi xin từ chức trụ trì chùa Quang Minh và về xin tịnh dưỡng một thời gian gần 5 năm tại vùng Broadmeadows, một ngôi chùa nhỏ do chúng tôi khai sơn tại nơi đây. Năm năm tại vùng Broadmeadows là một chặng đường khó khăn, từ một ngôi nhà nhỏ cải gia vi tự, gặp phải sự phiền lòng của người láng giềng bản xứ. Đây cũng là những kinh nghiệm “vạn sự khởi đầu nan” của chư Tôn Đức Tăng Ni đang sinh hoạt và phụng sự đạo Pháp trên xứ người.

Kính bạch Chư Tôn Thiền Đức, kính thưa Chư Liệt Quí Vị,

Sau 5 năm khó khăn tại ngôi nhà cải gia vi tự, những người con Phật tại đạo tràng Tu Viện Quảng Đức đã được thuyên chuyển về vùng Fawkner này… Nhìn lại chặng đường đã đi qua, từ ngày khai sơn 20.6.1990 đến hôm nay 24.10.2010 là tròn đủ 20 năm 4 tháng. Chúng tôi không thể nào nhớ hết những người con Phật đầu tiên đã chắc chiu từng đồng trong những lon tiết kiệm, đã giúp tôi bán từng ly nước mía, từng cái bánh bao trong những lần hội chợ của Cộng Đồng, trong số những người giúp tôi ngay từ những ngày đầu, bây giờ có những người đã về với Phật như bác Minh Đức, cô Tâm Đức và vài người nữa. Nhìn lại một chặng đường của 20 năm trên con đường phụng sự đạo Pháp trên xứ người, những người con Phật cả hai hàng đệ tử, xuất gia và tại gia chịu không ít sự thăng trầm vinh nhục khó khăn gian khổ.

Hai mươi năm, một chặng đường của Tu Viện Quảng Đức, luôn sống và thực hiện theo đúng con đường Chánh Pháp của Như Lai, Tổ Tổ Tương Truyền, theo giòng phái Đại Thừa Lâm Tế Liễu Quán, công phu sớm chiều, độ sanh, quan hôn, tang chế, và luôn thực hiện theo đúng chí nguyện “Thượng Cầu Phật Đạo, Hạ Hóa Chúng Sanh”.

Hai mươi năm, một chặng đường Tu Viện Quảng Đức luôn luôn đứng trong lòng của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Hải Ngoại tại Úc Châu, và sinh hoạt hướng dẫn Phật tử tu học theo đường hướng chung của Giáo Hội đề ra.

Kính thưa quí vị, những gì hiện có của Tu Viện Quảng Đức mà quí vị đã nhìn thấy đó là biểu hiện sự kham nhẫn, thăng trầm trải nghiệm 20 năm qua của người con dân nước Việt nói chung và nói riêng cho những người con Phật tại đây.

Vườn hoa Giác Ngộ dưới cội Bồ Đề, ngôi già Lam Quảng Đức được phần nào thành tựu trang nghiêm khiêm tốn qua nhiều bàn tay, trái tim và khối óc.

Vì dân tộc và đạo pháp, mà những người con nước Việt đã ngày đêm thao thức, nỗ lực bằng tất cả tài sức, mồ hôi và nước mắt, tâm đức và chí nguyện để nuôi lớn hoài bão, thực hành tâm nguyện của mình, để đóng góp vào nước Úc, xứ sở đa văn hóa này một nền văn hóa Việt, một nền văn hóa Phật Giáo Việt Nam trên xứ người.

Kính thưa quí vị, bước ngoặc hơn 35 năm qua của Cộng Đồng Việt Nam, cũng như 20 năm sự có mặt của Tu Viện Quảng Đức và nhiều cơ sở Tự Viện khác trên toàn Liên Bang Úc Châu, chúng ta có thể khẳng định là chúng ta đã sánh vai cùng các sắc tộc khác đã đến đây trước chúng ta như cộng đồng Ý Đại Lợi, Thổ Nhĩ Kỳ, Lebanon v.v… Chúng ta đã khẳng định vị trí của cộng đồng người Việt Tự Do trên xứ người.

Tu Viện Quảng Đức rồi đây sẽ đi vào cổ kính, tường phủ rêu xanh, chúng tôi cùng tất cả quí vị, rồi đây chúng ta cũng sẽ da mồi tóc bạc, chấp nhận định luật Vô Thường để ra đi vĩnh cửu… nhưng chúng tôi cũng như quí vị, khi sống với đời, chúng ta cần mẫn làm việc để lại cho đời và cho xã hội những hiện vật, dù ít hay nhiều; chúng ta cũng đã tạo tác thành thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp… mà đức Phật đã từng dạy sự đau khổ hay hạnh phúc, sự ràng buộc hay giải thoát, đều bắt nguồn từ các hạnh nghiệp Thiện hay Ác, Xấu hay Tốt của chính thân và tâm mình.

Xin chân thành tri ân, tạc dạ ghi ơn những người con nước Việt lưu lạc trên xứ người xa gần nơi hải ngoại, hồi hướng công đức đến những người Phật tử xa gần đã cùng với chúng tôi chuyển lăn bánh xe chánh Pháp của đức Phật trên xứ người, để cứu mình giúp đời thêm hòa bình an lạc.

Hồi hướng công đức đến tất cả quí Phật tử tại đạo tràng Tu Viện Quảng Đức đã nhiều năm cộng khổ, và nhất là vài tháng gần đây quí vị đã đổ nhiều công lao, tiền của cho công việc Phật sự chung được thành tựu viên mãn.

Cho dù Ban Trị Sự, Ban Tổ Chức Đại Lễ tại Tu Viện Quảng Đức có cố gắng đến đâu thì sự thiếu sót không thể nào tránh khỏi.

Ngưỡng niệm Chư Tôn Thiền Đức Tăng Ni, cùng toàn thể quí vị niệm tình thứ lỗi cho. Nguyện cầu mười phương Chư Phật, Chư Vị Bồ Tát chứng minh gia hộ.

Nhân Danh Viện Chủ Khai Sơn Tu Viện Quảng Đức chính thức tuyên bố khai mạc buổi Đại Lễ Khánh Thành Bảo Tháp Tứ Ân và Mừng Chu Niên 20 Năm Thành Lập Tu Viện Quảng Đức.

NamMô Chứng Minh Sư Bồ Tát Ma Ha Tát, Tác Đại Chứng Minh

Tỳ Kheo Thích Tâm Phương

dienvankhaimac-vndienvankhaimac-vn2
dienvankhaimac-vn3dienvankhaimac-en
dienvankhaimac-en2
dienvankhaimac-en3
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/06/2010(Xem: 8542)
Hòa Thượng Thích Bích Nguyên là một trong những bậc cao Tăng thạc đức của Phật giáo Lâm Đồng. Ngài họ Nguyễn, húy là Tùng, sinh năm 1898 tại làng Duy Hòa, xã Triệu Hòa, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Thuở nhỏ, bẩm chất thông minh, đĩnh ngộ. Thời tráng niên, lập nghiệp ở Lào, Hòa Thượng nhân đọc báo Từ Bi Âm mà ngộ đạo, thấy rõ cuộc đời vô thường, nuôi chí xuất gia. Đến năm 29 tuổi (1927), Hòa Thượng mới có đủ nhân duyên đầu sư thọ giáo với Hòa Thượng PHƯỚC HUỆ, Trú trì chùa Hải Đức, Huế và đắc giới Sa di năm 1934. Năm 1936, ngài thọ Cụ túc giới với pháp hiệu BÍCH NGUYÊN, rồi theo học ở các lớp Phật học tại các Phật học viện Hải Đức, Bảo Quốc và Ấn Quang.
15/05/2010(Xem: 8208)
Thiền sư Khánh Hòa sinh năm 1877 tại làng Phú Lễ tỉnh bến Tre, xuất gia năm 19 tuổi tại chùa Khải Tường. Chí nguyện chấn hưng Phật giáo của ông phát sinh vào khoảng năm ông được bốn mươi tuổi. Ông du hành khắp các tổ đình và Nam Kỳ để gây ý thức chấn hưng và kêu gọi sự hợp tác của các bậc tôn túc.
19/03/2010(Xem: 10329)
Một cặp kính trắng với sợi dây vòng ra sau cổ, năm ba con khỉ nhảy tung tăng trên vai, trên đầu, tóc tai rối rắm, áo quần cái dài, cái ngắn, kiểu đàn ông, đàn bà, đầy màu sắc sặc sỡ …đây là dáng người anh Bùi Giáng chúng ta thường gặp trên những nẽo đường Sài Gòn năm 1975 … Sau năm 1975 , anh Bùi Giáng về ở chung với chúng tôi trong nội xá viện Đại học Vạn Hạnh cũ (222 Trương Minh Giảng, nay là Lê Văn Sĩ). Vào thời điểm này, Đại học Vạn Hạnh không còn hoạt động, nên nội xá chỉ còn một số ít người ở lại với Hòa thượng Viện trưởng Thích Minh Châu. Chúng tôi quản lý chung, chú Chơn Thuần đi chợ và thị giả cho Hòa thượng Viện trưởng, anh Trần Châu phụ trách an ninh, anh Bùi Giáng thì nhận nhiệm vụ đi mua lương thực.
10/03/2010(Xem: 9012)
Bản thân tôi (Tín Nghĩa), rất ít có dịp thân cận với Ôn Già Lam. Điều dễ hiểu, vì tôi không xuất thân từ Phật Học Viện. Vả lại, mỗi lần Ôn về Huế (Bảo Quốc), thường vào dịp đầu xuân, thì đa phần Ôn hay đàm luận Phật sự với quý Ôn lớn như Ôn Linh Mụ, Ôn Trúc Lâm, Ôn Linh Quang, Ôn Từ Đàm và Ôn Bảo Quốc, . . . Đầu năm, Ôn thường hay nghe Đại luật (tức là dạy luật Tứ phần) cho hai chúng Tỳ kheo và Tỳ kheo ni, thì tôi đạp xe ra học rồi về lại chùa. Vả lại, bổn phận của tôi ở chúng Trúc Lâm cũng tương đối bề bộn. Tuy thế, chính tôi lại có với Ôn ba kỷ niệm khó quên.
10/03/2010(Xem: 12187)
Bây giờ là những ngày cuối năm âm lịch. Thiên hạ cùng viết về Xuân, Tết. Tôi muốn viết về Ôn Già Lam và Tu viện Quảng Hương Già Lam. Ôn Già Lam là cách gọi tôn kính của những môn đệ và phật-tử hướng về Đại lão Hòa thượng Thích Trí Thủ, vị viện chủ sáng lập tu viện. Trong tu viện, tăng chúng khi nói về ngài thì chỉ dùng chữ “Ôn” một cách gần gũi. Còn tu viện Quảng Hương Già Lam thì vẫn thường được gọi với cái tên thật ngắn: chùa Già Lam.
10/03/2010(Xem: 9674)
Ôn Già Lam, chỉ ba tiếng ấy thôi cũng đủ làm ấm lòng bao lớp Tăng sinh của các Phật Học Viện: Báo Quốc - Huế, Phổ Đà - Đà Nẵng, Hải Đức - Nha Trang, Già Lam - Sài Gòn. Ba tiếng nói ấy như trái tim của Mẹ ấp ủ đàn con qua suốt quãng đời dãi dầu mưa nắng. Ôn Già Lam, người đã hy sinh suốt đời mình để phụng sự cho Phật pháp, đào tạo Tăng tài qua nhiều thế hệ. Ôn đã khai phóng tinh thần thế học cho Tăng sinh các Phật Học Viện.
10/03/2010(Xem: 15997)
Sau năm 75 các Phật Học Viện đều đóng cửa. Các tăng sinh tại các Phật Học Viện đều trở về chùa cũ của Thầy Tổ để sinh sống và tu học. Thật tế, tu thì có mà học thì hầu như không. Có chăng là Thầy dạy đệ tử trong chùa. Những chùa có ruộng đất thì thầy trò tự túc canh tác để sinh sống. Sinh hoạt giáo dục và đào tạo tăng ni trẻ đã không còn.
05/12/2008(Xem: 12083)
Hình ảnh Mừng Sinh Nhật Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng Ngày 5-12-2008 tại Cao Hùng , Đài Loan tại Nhà Hàng 200 Món Đồ Chay Do Đạo Hữu Tony và quý Phật tử trong phái đoàn Hành Hương Chiêm Bái Phật Tích Ấn Độ tổ chức