Những ngày xưa ấy

10/10/201316:50(Xem: 22075)
Những ngày xưa ấy

buigiangNHỮNG NGÀY XƯA ẤY...

1973, lúc chiến tranh còn phủ trùm khắp miền Nam, tuy loạn ly, nhưng phong trào văn học và văn nghệ Miền Nam khá phong phú, sung túc. Trong đó, phạm vi văn học nghệ thuật của Phật giáo được phát triển rầm rộ tại đại học Vạn Hạnh, cơ sở chính ở cầu Trương Minh Giảng cũ, nay là đường Lê Văn Sĩ.

Thế hệ trên 60 tuổi, sống tại Sài Gòn, nhất là trong giới sinh viên, trí thức, không ai là không từng nghe đến Phạm Thiên Thư, Phạm Công Thiện, Lê Mạnh Thát, Tuệ Sỹ, Phạm thế Mỹ, Trịnh Công Sơn, Nguyễn Đức Sơn, Bùi Giáng, Trí Hải...Ngay cả một số giáo sư, Linh Mục như Thanh Lãng, Linh Mục Thanh, Lm Kim Định...cũng ảnh hưởng trào lưu sống dậy của Đại học Vạn Hạnh lúc bấy giờ.

Bùi Giáng là một trong những nhân vật nổi cộm, một nhân vật không thể lẫn lộn bất cứ bóng dáng ai, từ hình thể, diện mạo, tài năng, tư chất...Những hiện tượng rộ lên như trăm hoa đua nở đã tạo một dấu ấn cho Phật giáo nói chung và Đại học Vạn Hạnh nói riêng, mà từ lâu, dưới cặp mắt của giới trí thức, xem Phật giáo như một tôn giáo lỗi thời. Những nhân vật kể trên, tuy mỗi người đóng góp một khía cạnh làm sáng giá tư tưởng triết học , văn học của Phật giáo, nhưng tài năng của họ -" mỗi người mỗi vẻ, mười phân vẹn mười".

Riêng Bùi Giáng, mãi đến bây giờ, vẫn có người thắc mắc, vấn nạn về một thiên tài điên, thi sĩ điên...có người bảo, Bùi Giáng rất tỉnh, tỉnh hơn cả người tỉnh. Có lẽ quá tỉnh, tỉnh hơn người tỉnh thành người điên trước con mắt người tình bình thường chăng?

Trong đêm giao lưu thơ Gùi Giáng tại chùa Phổ Quang, giáo sư Trần Hữu Tá (miền Bắc) bảo: - "trước 1975, những sách báo của miền Nam được đưa ra Bắc cho giới trí thức nghiên cứu, ông ta đánh giá Bùi giáng là môt hiện tượng lạ".

Thực ra miền Nam không chỉ riêng Bùi Giáng là một hiện tượng lạ, Bình Nguyên Lộc từng thách đố giới trí thức phía Bắc bác bỏ luận cứ của ông ta khi xuất bản cuốn sách " Mã Lai Á, nguồn gốc dân tộc Việt; Lúc bấy giờ, miền Bắc làm gì có những nhân vật như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát...chứ chưa nói đến Bùi Giáng.

Chiến tranh càng thúc bách, cuộc sống người dân Miền Nam càng chộn rộn dồn dập như yêu vội sống cuồng; do áp lực của sống chết trước vô thường, giới văn học nghệ thuật cũng bị thúc bón để cho ra những hoa trái được mùa; chính vì vậy miền Nam xuất hiện nhiều anh tài về thi ca, âm nhạc, hội họa, tư tưởng, dịch thuật...

Riêng Bùi Giáng, không chỉ là thiên tài trong thi ca mà ngay cả ngôn ngữ. Khi phong trào kiếm hiệp của Kim Dung phát triển, Bùi Giáng nằm tại Vạn Hạnh, tự học chữ Hoa trong 6 tháng, ông ta trực tiếp đọc sách Kim Dung bằng Hoa Ngữ. Trên đầu giường, một đống bánh mì khô cứng, mốc xanh để ông ta gặm, cuối chân giường là lồng chim cuốc ( phong trào chim cuốc lúc bấy giờ) đã bị quên cho ăn.

Khi Vạn Hạnh được phong trào sinh viên trí thức có khuynh hướng chính trị làm náo, Bùi Giáng rút lui về Nhà Bè, trú trong ngôi chùa lá Huyền Trang, cách căn cứ Đặc khu Rừng Sát hơn 500m. Tuy chưa trang sức lỉnh kỉnh những đồ phế thải như những năm tháng sau 1975, nhưng cách ăn mặc cũng cho mọi người thấy ông ta không bình thường. Tờ mờ, chưa kịp mời ăn sáng, ông ta đã la cà các quán nhậu ở mũi tàu Nhà Bè, chiều tối mới trở lại tá túc trong căn chòi lá phía sau chính điện. Ít khi nào nhà chùa được mời ông ta một bữa cơm. Ngày nào ông ta ăn thì chiều hôm đó ông ta mang về hủ chao, chai tương, bảo rằng ông nhặt được hoặc bảo ai đó cho ông ta. Chứng tỏ ông ta không muốn nợ nhà chùa. Có hôm, bị bọn lưu manh móc túi đánh ông bầm mắt, tôi phải đưa ông ta xuống gặp Thiếu Tá Cảnh,(cháu gọi Thiếu Tướng Đổ Mậu bằng cậu). Thiếu Tá Cảnh là đại đội trưởng tiếp vận, viết vài giòng giới thiệu:" Đây là nhà thơ Bùi Giáng, yêu cầu anh em đừng hành hung làm khó" Thế là thi sĩ nhà ta đem ép nhựa tấm giấy đeo trước ngực làm bùa hộ mạng.
Buigiang-chandung

Ông ta lựa quán nào nghèo nhất,vào ngồi uống bia như uống nước lã, trẻ con nào vào mua hàng, ông ta xuất tiền trả thế và còn cho tiền chúng. Những cô gái không được lính ở căn cứ đặc khu Nhà Bè chiếu cố,vì quá xấu, ông ta vờ say xỉn, để lòi tiền cho họ móc. Ông ta xài tiền vô tội vạ không phải phóng đảng mà ông không muốn bị ràng buộc bởi tiền bạc và dùng nó để giúp kẻ khác một cách tế nhị như thế. Nhà xuất bản Võ Tánh là một trong ít nhà xuất bản kén chọn, luôn in sách của Bùi Giáng; biết tánh họ Bùi, ít khi nào họ giao hết tiền cho ông ta một lượt, cho dù bao nhiêu cũng chỉ chóng sạch trong một hai ngày.

Từ Nhà Bè về Sai Gòn hơn 15km, chở bằng xe Honda, phải mất nửa ngày. chạy một chốc, nhìn thấy quán nào thích, cứ bảo dừng xe, tấp vào cho ông ta uống bia. Không dừng theo ý thì ngồi sau ông ta nắm cổ áo nhật bình lôi lại như lôi giây cương ngựa. Nhiều lần không chịu nổi, buộc lòng thả ông ta muốn đi đâu tùy ý.

Một đêm trăng sáng, chùa Huyền Trang xa khu dân cư, ba bề sông rạch, lá dừa nước bao phủ trở thành một ốc đảo huyền ảo, gió rì rào từ sông lớn băng qua cánh đồng lúa, luồn vào rặng dừa nước. trên chiếc võng dưới chái lá hông chùa, Bùi Giáng tâm sự (có lẽ lúc đó nhà thơ tỉnh táo nhất) khi hỏi về thân thế của ông trong quá khứ, ông ta cho biết: -"ngày xưa dạy học ở Huế, trọ một nhà dân, có hai chị em nữ sinh dễ coi, Bùi Giáng thầm kín yêu cô em, không bao lâu, cô em lên xe hoa, hoảng quá, ông ta đành cưới đại cô chị. Thời gian ngắn khi con đầu lòng bị bệnh qua đời, cô vợ cũng quá vãng. Bùi Giáng bị khủng hoảng, bỏ dạy, về lại xứ Quảng. Cuộc vô thường đã nâng hồn họ Bùi lên tầng mây triết lý thi ca, từ đó Bùi Giáng thâm nhập triết học và suối thơ len lách sỏi đá cuộc đời , trổi dậy, nâng hồn thơ bềnh bồng trên tầng không siêu thực.

Cuộc định mệnh đưa Bùi Giáng qua những đâu, khó mà nối kết khi cuộc đời bãng lãng bềnh bồng đưa thi sĩ lên đỉnh trùng dương, tiếp giáp với sương khói mây ngàn cho đến ngày vĩnh biệt mà nhân thế chỉ biết chiêm ngưỡng, không đủ khả năng thẩm định tiếp xúc một ảo ảnh hư hư thực thực như Bùi Giáng.

Sau một năm trú tại chùa Huyền Trang ( nay biến thành nghĩa trang). Thi sĩ họ Bùi lang bạt về khu vực Bình Thạnh. Từ đó, chùa Già Lam, Trung Tâm Tịnh Xá, chùa Đồng Hiệp, Trương Minh Giảng cũ và một vài nơi thường thấy Bùi Giáng xuất hiện như kẻ không nhà.

Lúc còn làm chủ bút nội san Bát Nhã ở Thanh Minh Thiền Viện, mỗi khi muốn xin thơ của họ Bùi, phải đạp xe chạy quanh thanh phố như truy tìm một báu vật vô hình, đem theo xị rượu và món nhâm nhi nào đó. chịu khó ngồi vỉa hè với ông ta, gợi chuyện bên xị đế, nguồn cảm hứng từ con tim và hốc mắt sâu thẳm của Bùi Giang bắt đầu xuất hiện; vừa viết tốc ký, vừa lắng nghe những tràng giang đại hải do ngẫu hứng họ Bùi, không dám ngắt ngang hay hỏi bất cứ cái gì khi lão Bùi đang hứng. Đặc biệt, cho dù ông nói huyên thuyên, nhưng không bao giờ lệch ý ban đầu; có giao tiếp mới thấy trình độ uyên thâm văn học và triết lý cũng như sự tỉnh táo ẩn tàng trong bộ dạng người điên.
buigiang3

Sau 1978, suốt thời gian dài không được gặp con người vĩ đại ấy bởi hoạn nạn lao lý, khi biết họ Bùi thanh thản ra đi để lại sự quý kính cho đàn hậu học, cho giới thi ca văn học, và nền văn học Việt Nam đương đại, hân hạnh được tham dự đêm thơ kỷ niệm 15 năm vắng bóng của người, có thêm một vài kỷ niệm, nhận định về Bùi Giáng từ HT Giác Toàn, những thắc mắc về tỉnh và điên của nhà thơ họ Bùi mà hầu hết mọi người mãi cật vấn, giờ đây, người từng hân hạnh sống một năm với nhà thơ tại Nhà Bè năm xưa, từng giao tiếp hàn huyên thì biết rằng: " Bùi Giáng điên vì không ai hiểu Bùi Giáng, Bùi giáng quá Tỉnh vì chúng ta quá Điên chỉ nhìn nhau qua hình thức. Bùi Giáng muốn thể hiện sự tự do tuyệt đối bởi sự giam hảm của tập quán con người qua tính nhị nguyên thường tình. vì vậy nhà thơ can đảm sống theo cái mà không ai dám sống, dám lăn lộn với bụi đời, dám bươi rác tìm cái ăn. Mọi hình thái Bùi Giáng làm đều muốn vượt qua sự giam hảm của ý thức phân biệt thường tình như ngôn ngữ thi ca của họ Bùi vượt khỏi định tính xã hội. Phải chăng sự vượt thoát trước thời đại nên mọi người cảm thấy Bùi Giáng điên chăng?

Nếu Bùi Giáng thực sự điên thì không có những hồn thơ, lời thơ siêu thuyệt, vượt thoát, nhuốm màu triết lý như thế

Nếu Bùi Giáng điên thì không có cung cách tế nhị giúp người, bù đắp tương chao khi ăn cơm Tam Bảo.

Nếu Bùi Giáng điên, sao biết đeo tấm bản của Thiếu tá Cảnh để bảo vệ mình khỏi bọn du đảng quấy rầy lúc bấy giờ.

Nếu Bùi Giáng điên thì làm sao biết nhờ HT Giác Toàn đến thăm mẹ mình khi nghe mẹ bệnh?....

Nếu nhìn hình thức và hành động bên ngoài thì khó mà xác định mật hạnh của một vị Bồ Tát, chắc gì Bùi Giáng không là một Bồ Tát mật hạnh???

Nếu Bùi Giáng là một Bồ Tát mật hạnh thì chắc gì Bùi Giáng Điên hay Tỉnh? Vì Tỉnh và Điên chỉ là trạng thái đối đãi thường tình, chưa vượt thoát đến chân trời tự do tuyệt đối của tâm thức.

Kỷ niệm 15 năm ngày vắng nhà thơ họ Bùi- cẩn bái

MINH MẪN

10/10/2013

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/08/2014(Xem: 15052)
Hòa thượng Họ Đinh, húy Văn Nam, là đệ tử của cố Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Đệ nhất Tăng thống GHPGVNTN, pháp danh Tâm Trí, tự Minh Châu, pháp hiệu Viên Dung, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1918 (Mậu Ngọ) tại làng Kim Thành (Quảng Nam); nguyên quán làng Kim Khê, xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Thân phụ là cụ ông Đinh Văn Chấp và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Đạt. Gia đình Hòa thượng có 11 người anh em, Hòa thượng là con trai thứ tư trong gia đình. Vốn sinh trưởng trong gia đình vọng tộc Nho gia, thân sinh của Hòa thượng đỗ tiến sĩ Hoàng giáp năm 21 tuổi (khoa Quý Sửu 1913, niên hiệu Duy Tân thứ 7). Nhờ ảnh hưởng sâu đậm nền giáo dục của cụ ông từ bé, vì vậy Hòa thượng rất cần mẫn đèn sách, chăm chỉ học hành, trí tuệ phát triển sớm. Năm 1939, Hòa thượng đỗ bằng cao đẳng tiểu học Đông Dương; năm 1940 Hòa thượng đỗ tú tài toàn phần tại Trường Khải Định - Huế (nay là Trường Quốc Học); và cùng thời gian này, Ngài được bổ làm Thư ký Tòa Khâm sứ tỉnh Thừa Thiên. Sau một năm
03/08/2014(Xem: 8758)
Lễ nhập quan được cử hành tại Bình Quang Ni tự vào lúc 18g00 cùng ngày. Lễ phúng viếng bắt đầu từ 8g00 ngày 9-7 Giáp Ngọ (4-8-2014). Lễ truy niệm được cử hành vào lúc 4g00 sáng nay, 12-7 Giáp Ngọ (7-8-2014); lễ phụng tống kim quan vào lúc 6g00 sáng cùng ngày. Nhục thân cố Ni trưởng tới đài hỏa táng núi Dinh, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu làm lễ trà-tỳ. Tro cốt của Ni trưởng sẽ được nhập bảo tháp tại Bình Quang Ni tự. Được biết, cố NT.Thích nữ Huyền Tông thế danh Dương Thị Ngọc Cúc, sinh năm 1918 tại P.Đức Thắng, TP.Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Vì sớm giác ngộ lý vô thường, nên năm 17 tuổi (1936), Ni trưởng cùng người cô của mình là cố Ni trưởng Huyền Học quyết tâm vào Sài Gòn xuất gia với cố Ni trưởng Diệu Tịnh tại chùa Hải Ấn. Đến năm 1940, Ni trưởng được thọ giới Cụ túc tại Giới đàn chùa Vạn An (tỉnh Sa Đéc). Suốt hơn 2/3 thế kỷ tu học và hành đạo, Ni trưởng đã tham gia vào phong trào đấu tranh yêu nước trong cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1945, đấu tranh đòi quyền bình đẳng tô
31/07/2014(Xem: 20595)
An Cư Kiết Đông đã qua, Nhưng lời thuyết pháp đậm đà vẫn vương Thích Ca tái thế tình thương Thầy về giảng Pháp con nương nơi Thầy
27/07/2014(Xem: 10003)
Con đang ở lại trần gian trong bầu không khí Đạo pháp hơn 2000 năm. Nhưng kinh sách thiên vạn quyển cũng không bằng được sống bên bậc danh Tăng thạc đức trong ngôi nhà Vạn Hạnh. Tình thương yêu của Ôn luôn tưới tẩm và lan tỏa trong toàn thân con mỗi ngày khi được sống bên Ôn.
24/07/2014(Xem: 15897)
Mới đó mà một năm sắp trôi qua và hai năm cũng sẽ đến ngày viên tịch của cố Hòa Thượng Thích Minh Tâm, Viện Chủ chùa Khánh Anh kiêm Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu. Giáo Hội Âu Châu mong mỏi thực hiện một Kỷ Yếu nhân lễ Đại Tường (2015) nên đã giao phần gom góp và biên tập bài vở cũng như trang trí quyển Kỷ Yếu nầy cho Hòa Thượng Thích Như Điển (Đức), Hòa Thượng Thích Nguyên Siêu (Hoa Kỳ) và Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng (Úc Châu) thực hiện. Lâu nay chúng ta đã có một số bài tiêu biểu đã được đăng trên các trang nhà như : quangduc.com, viengiac.de, hoavouu.com và một số trang nhà khác.
22/07/2014(Xem: 39337)
Ngôi tu viện Phật giáo vùng Tây Bắc của tiểu bang Victoria được Thượng tọa Thích Tâm Phương khai sơn từ năm 1990. Ban đầu tu viện tọa lạc ở vùng Broadmeadows. Đến năm 1995, tu viện vận động mua lại ngôi trường tiểu học Fawkner cũ có diện tích 8.000 m2 và xây dựng thành ngôi phạm vũ trang nghiêm mang tên Bồ tát Thích Quảng Đức từ năm 1997 đến năm 2003. Công trình xây dựng do kiến trúc sư Nguyễn Kiển Thành thiết kế, kiến lập theo kiểu chữ “Công” mang dáng dấp kiến trúc cổ kính Á Đông. Đại lễ khánh thành được tu viện tổ chức trọng thể vào các ngày 10, 11 và 12-10-2003. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm thờ tôn tượng đồng đức Phật Thích Ca thiền định. Tượng cao 2,50m, nặng khoảng 1,5 tấn. Phía trước và hai bên, tu viện đặt thờ nhiều tượng Phật, Bồ tát, Hộ Pháp Già Lam. Đến năm 2008, tu viện xây Tăng xá và Bảo tháp Tứ Ân. Bảo tháp 4 tầng, cao 14m, rộng 5m, trên nóc tôn trí tượng đức Phật A Di Đà cao 1,2m. Trong bảo tháp tôn thờ Xá Lợi Phật, tượng chư Phật, Bồ tát và linh cốt của Phật tử q
12/07/2014(Xem: 9960)
Thời gian mãi trôi qua, không gian chưa bao giờ ngừng sự chuyển động và con người cũng phải già thêm, vì không thể cưỡng lại định luật vô thường vốn tự có. Ngày xưa khi Đức Phật còn tại thế Ngài hay dạy cho các vị đệ tử rằng: Phàm những gì có hình tướng thì tất cả đều bị chi phối bởi sự vô thường, mà đã vô thường thì nguyên nhân chính của nó là khổ, nhưng thật ra cái khổ nó cũng không có thật tướng, vì bản thể của mọi hiện tượng đều là không. Sở dĩ có, vì có ái và thủ chấp hữu, nên mới có những tướng sanh diệt. Khi nào không duyên vào bất cứ một hiện tượng hay hình thức nào bên ngoài, thì lúc ấy chúng ta sẽ chứng được thực tướng của Niết Bàn vô sanh vô diệt.
05/07/2014(Xem: 8427)
Hôm nay, dẫu Ni trưởng Thích nữ Viên Minh duyên trần đã mãn nhưng tâm hạnh và sự nghiệp tu tập của Người mãi là kho tàng vô giá, là ngọn Hải đăng cho Ni chúng Thừa Thiên Huế nói riêng và cả nước nói chung đồng tôn ngưỡng hướng về. Ni trưởng thế danh Nguyễn Thị Khiêm Tốn, húy thượng Tâm hạ Huệ, tự Viên Minh, hiệu Trí Uyên, sinh năm Giáp Dần (1914) tại thôn Động Giả, xã Đỗ Động, huyện Thanh Oai, Hà Nội (tức tỉnh Hà Đông).
01/07/2014(Xem: 11197)
Ni sư Thích nữ Hải Triều Hạnh, Pháp Hiệu Hoằng Hạnh, Tự Liễu Như, thế danh Trần Duy Hạnh. Sinh năm Ất Mùi 1955 tại Gia Định sài gòn. Ni Sư sinh trưởng trong 1 gia đình gia giáo. Thân phụ là cụ ông Trần Duy Ninh PD: Hoằng Ninh, vốn là em kết nghĩa của Thầy Hải Triều Âm là một y sĩ cùng làm chung một sở y tế với Thầy, khi Thầy chưa xuất gia cụ ông luôn theo Thầy làm trưởng đoàn công tác từ thiện xã hội và Thân Mẫu là Cụ Bà Nguyễn thị Hoa Truật, pháp danh Mỹ Dung, sau Hòa Thượng Pháp Chủ đổi tên là Cát Tường vốn là vị hộ pháp thân tín trong thời gian Thầy xuất gia, nhập thất và suốt chặng đường hoằng Pháp của Thầy.