Lời Tưởng Niệm (Giáo Hội)

24/09/201319:36(Xem: 12682)
Lời Tưởng Niệm (Giáo Hội)
HT_Thich_Chi_Tin

LỜI TƯỞNG NIỆM
GIÁC LINH TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH CHÍ TÍN

Của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch Chư Tôn Đức,

Trước khi cử hành lễ cung tống kim quan Trưởng lão Hòa thượng nhập Bảo tháp, nơi an nghỉ ngàn thu của trần thế, chúng tôi xin thay mặt Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Tăng Ni, Phật tử Việt Nam có đôi lời tưởng niệm.

Kính bạch Giác Linh Hòa thượng,

Từ Pháp giới duyên sinh vô tận, Hòa thượng hiện thân Đại sĩ, giữa phàm trần không nhiễm hồng trần. Nước sông Hương thao thao dòng diệu sử, núi Ngự Bình gió quyện mây lành, làng Hương Thủy sáng ngời tâm Phật, đất Thần kinh duyên lành kết trái. Xứ Trầm Hương thực hành Phật đạo, một đời thọ mạng, rồi an nghỉ ngàn thu nơi cõi tạm.

Hòa thượng vốn sẵn có duyên lành, nên đã sớm phát chí xuất trần, chốn Tổ Từ Hiếu xả tục cầu chơn nêu cao chí cả, được Hòa thượng Bổn sư thế độ xuất gia, ban Pháp danh Tâm Nhẫn, tự Hành Từ, pháp hiệu Chí Tín, nối pháp dòng Thiền Liễu Quán đời thứ 43. Kể từ đó, đường giải thoát lâng lâng nhẹ gót, giữa trần gian chẳng nhiễm sắc không, việc tham dục chẳng bận lòng người Thích tử, lẽ nhiệm mầu hiển hiện trong tâm.

Sau bao năm vun bồi cội phước, nỗ lực tu hành, rèn tâm luyện trí, rồi đến độ tâm hoa khai phát, theo luật Phật định kỳ, Hòa thượng đăng đàn thọ Đại giới, giới thể châu viên, chính thức dự vào hàng cập đệ, ngôi Tam Bảo tam tôn kế vị, đạo nghiệp từ đây phát tích, xứng danh con nhà họ Thích ngàn đời. Như Cổ đức đã nói:

“Nào ai biết được trời không ấy

Một dãy non xanh hiện đã lâu”

Với tinh thần vô ngã vị tha, đạo tâm trác thế, nêu cao truyền thống hòa hợp đoàn kết, quyết tâm xây dựng Đạo pháp và góp phần thống nhất Phật giáo Việt Nam, Hòa thượng đã cùng Tăng Ni, Phật tử Khánh Hòa tiếp nối dòng sinh mệnh 2000 năm lịch sử của Phật giáo Việt Nam, xây dựng thành công ngôi nhà Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tỉnh hội Phật giáo Phú Khánh và Khánh Hòa ngày nay. Trải qua nhiều nhiệm kỳ, với những cống hiến cao quý, Hòa thượng là một trong những vị Tôn túc được Tăng Ni, Phật tử tín nhiệm cung thỉnh vào ngôi vị tối cao Chứng minh Ban Trị sự Phật giáo tỉnh nhà, được Đại hội đại biểu phật giáo toàn quốc lần thứ IV (1997) cung thỉnh vào ngôi vị Thành viên Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho đến ngày về cõi Phật.

Gần một phần ba thế kỷ hoằng dương Chánh pháp, làm bậc đống lương trong Phật pháp, mô phạm chốn rừng thiền, Hòa thượng là hiện thân của giới luật, là thọ mạng của Phật pháp. Trên cương vị Luật sư, Giới sư của các Giới đàn, Hòa thượng đã khai thông giới thân huệ mạng cho nhiều thế hệ Tăng Ni, Phật tử. Qua đó, từng lớp, từng đàn giới tử, giới thể châu viên trang nghiêm dòng diệu thể, trở thành pháp khí Đại thừa truyền trì mạng mạch Phật pháp, Trưởng tử Như Lai, tiến tu giải thoát, lợi lạc hữu tình, tốt Đời đẹp Đạo, đã không ngừng đóng góp cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam ngày càng phát triển vững mạnh, trang nghiêm, hưng thịnh huy hoàng trong lòng dân tộc, để cho hoa đời hoa đạo đua nhau nở, mãi mãi ngàn sau tỏa ngát hương.

Trong ý nghĩa trang nghiêm ngôi Tam bảo, là trang nghiêm Tịnh độ tại nhân gian, Hòa thượng đã kiến tạo Kim thân Phật Tổ, Tôn tượng Phật nhập Niết bàn trang nghiêm, hùng vĩ, vẫn còn hiện hữu với thời gian vô cùng, không gian vô tận. Nhất là Hòa thượng đã cùng chư Tôn đức giá phẩm lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Khánh Hòa, Tăng Ni và Phật tử trùng tu ngôi phạm vũ Sắc Tứ Long Sơn trang nghiêm tú lệ, xứng đáng là cơ sở của Giáo hội tại địa phương.

Bằng hạnh nguyện khứ lai vô ngại, tự tại tùy duyên, làm Phật sự như không hoa, độ chúng sinh như huyễn hóa, với chín ba năm hiện thế, sáu tám năm thực hành Bồ tát đạo, Đức Trưởng lão Hòa thượng đã cống hiến trọn đời cho Đạo pháp và Dân tộc, để rồi khi hạnh nguyện tròn xong, Ta bà quả mãn, Hòa thượng an nhiên thu thần viên tịch, trở về thế giới Niết bàn vô tung bất diệt.

Song công đức và đạo hạnh của Hòa thượng vẫn còn lưu lại thế gian, trong lòng người con Phật Việt Nam và trang sử muôn màu của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại. Quả thật: “Trăm năm trước thì ta chưa có, trăm năm sau có cũng hoàn không. Cuộc đời sắc sắc không không, chỉ còn lưu lại tấm lòng Từ bi. Giáo hội kính ghi công đạo hạnh, thế gian còn nhớ mãi bóng Chân nhân”.

Hôm nay, trong giờ phút nghìn thu vĩnh biệt này, Cố Hòa thượng hóa duyên đã mãn, trong pháp giới vô biên, Hòa thượng đã thong dong tự tại, vận thần thông đoan ngự cửu liên đài, xả Báo thân, chứng nhập Pháp thân, siêu Tịnh độ không rời uế độ. Giờ đây, trước Giác linh Hòa thượng, chúng tôi trong Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự, Giáo hội Phật giáo tỉnh Khánh Hòa là những người bạn đồng hành, đồng sự pháp lữ Đại thừa trong Chánh pháp, xin thắp nén huơng lòng, tưởng niệm Giác linh Hòa thượng. Nguyện cùng nhau chung lưng đâu cật để xây dựng và phát triển ngôi nhà Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Khánh Hòa ngày càng hưng thịnh, trang nghiêm vững mạnh trong lòng dân tộc. Như Cổ đức đã nói:“Một mai thân xác tiêu tan. Danh thơm vẫn ở thế gian muôn đời. Pháp thân lồng lộng tuyệt vời. Chiếu soi Pháp giới, rạng ngời sử xanh”. Để từ đó, Hoa đời Hoa đạo đua nhau nở, mãi mãi ngàn sau vẫn ngát hương.

Thôi, nơi thế giới Niết bàn vô tung bất diệt, Giác linh Hòa thượng hãy an nhiên tự tại. Nơi Bảo tháp Sắc Tứ Long Sơn uy nghiêm, nhục thân Hòa thượng hãy an nghỉ để ngàn thu in bóng, mãnh hình hài lồng lộng tựa hư không, sẽ sống mãi trong lòng pháp lữ, trong tư duy cùng pháp giới Chân như.

Xin bái biệt Hòa thượng !

NAM MÔ CHỨNG MINH SƯ BỒ TÁT MA HA TÁT.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 15353)
Thuở nhỏ lòng ưa cửa Ðạo, mến chuộng nếp áo phước điền, ngưỡng trông tịnh xá Kỳ Viên, tha thiết lòng cầu xuất tục. 16 tuổi, xuất gia học đạo chùa Tây An, Châu Ðốc trước tiên, gần quý Thầy hiền, trau dồi Phật tuệ, bang sài vận thủy, tu sửa đạo tràng; 27 tuổi, cầu thọ tam đàn. Kể từ đó tinh chuyên tu niệm.
09/04/2013(Xem: 9799)
Đại lão hòa thượng Thích Trí Nhãn thế danh là Đoàn Thảo, pháp danh Như Truyện, tự Giải Lệ, hiệu Thích Trí Nhãn. Ngài sinh ngày 10 tháng giêng năm Kỷ Dậu tức vào năm 1909 dương lịch, tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, Xã Thanh Hà, nay thuộc thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, Thị Xã Hội An.
09/04/2013(Xem: 17822)
Xuất thân trong một gia đình gia giáo có thân phụ là Chánh Tổng nên Hòa Thượng đã sớm hấp thụ Nho học và Tây học từ thuở ấu niên. Vì thế, Hòa Thượng đã thông thạo cả Hán văn lẫn Pháp văn, kết hợp và dung hòa được cả hai truyền thống văn hóa Đông – Tây.
09/04/2013(Xem: 15657)
Hòa Thượng thượng Tâm hạ Thành. Thế danh là Nguyễn Ðức Huân sinh năm 1930 tại làng Trà Bắc, Phủ Xuân Trường, Tỉnh Nam Ðịnh, Miền Bắc Việt Nam. Năm 1942 khi vừa tròn 12 tuổi, Ngài ngộ lý vô thường và xuất gia học đạo với Sư Tổ Thượng Chính Hạ Ðĩnh tại chùa Yên Cư, Phủ Xuân Trường, Thuc Sơn Môn Trà Bắc. (Sơn môn Trà Bắc, Trà Trung và Trà Ðông thuc Tổng Trà Lũ, là hậu thân của Sơn môn Yên Tử). Ngài được Bổn Sư ban Pháp danh là Ngọc Tiểu Pháp hiệu Tâm Thành.
09/04/2013(Xem: 13270)
Mỗi lần đi Huế lòng tôi lại nao nao khôn tả. Huế là đạo, là thơ, là nghĩa tình ý vị, là tinh hoa văn hóa của ba miền đất Việt, nhưng cũng là mảnh đất khô cằn của đói nghèo khốn khổ “mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu cơm” đã hứng chịu nhiều thiên tai nhân họa. Huế được phong phú về mặt văn hóa, tâm linh là nhờ hình ảnh những vị đại lão hòa thượng nơi đây đã sống, hành đạo và xả báo thân. Dù đã viên tịch, dư hương các ngài vẫn như còn phảng phất nơi các ngôi tổ đình tĩnh lặng và những rừng thông bạt ngàn.
09/04/2013(Xem: 8570)
Giờ phút Thầy an nhiên xả báo thân, thì bên này hơn nữa đêm. Một Phật tử của Thầy ở miền Đông nước Mỹ, giọng đầm đìa nước mắt, khấp báo cho tôi tin Thầy đã từ biệt, lệ tiếc thương như tràn ngập, khắp đó khấp đây. Rồi Tuệ Sỹ, một hậu tấn, kẻ đồng tâm dễ thương của Thầy, mà tôi thường ví như một hạt kim cương hiếm hoi lẫn trong đá sỏi của Phật Giáo Việt Nam ngày nay, trong nổi cô quạnh bao la vừa sau một mất mát lớn lao đã ai tín cho tôi bằng lá thư không niêm mà tôi biết mỗi chữ cũng trĩu nặng nổi lòng.
09/04/2013(Xem: 5796)
Cho phép con thành tâm kính cẩn chia buồn với quí ngài về nỗi mất mát lớn lao không sao tìm lại được. Ðối với kẻ hậu học, làm sao con không khỏi bồi hồi, luyến tiếc khi hay tin sự ra đi của cố Hoà thượng Thích Ðức Nhuận, người đã hiến trọn đời mình cho đạo pháp và dân tộc. Trong giờ phút này, nơi phương xa, một người đệ tử đã có nhân duyên muộn hầu cận, học hỏi nơi cố Hoà thượng khi còn ở Việt Nam, xin đảnh lễ chư tôn đức trong Tổ đình và xin quí ngài cho con có đôi lời bộc bạch với giác linh của cố Hoà thượng. Ngưỡng bạch giác linh Hoà thượng chứng giám.
09/04/2013(Xem: 9427)
Hòa Thượng Thích Thiện Trì thế danh Nguyễn Văn Hiến, Pháp danh Như Phụng, Pháp tự Thiện Trì, Pháp hiệu Ấn Ðạo thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ bốn mươi hai, Ngài sanh ngày 19 tháng 02 năm 1934 tại xã Nhơn Khánh, quận An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh. Ngài xuất thân từ một gia đình thuần túy Phật Giáo, thân phụ của Ngài là cụ ông Nguyễn Hàn, Pháp danh Như Ðà. Thân mẫu của Ngài là cụ bà Bùi Thị Thiệp, Pháp danh Như Cảnh. Ngài có tất cả 10 anh em, 5 trai và năm gái.
09/04/2013(Xem: 27522)
Để ghi lại những công –tác Hoằng-pháp và Giáo-dục trong niên-khóa vừa qua, chúng tôi đã thuyết-pháp và giảng-giải các lớp ở Ấn-Quang cho hàng Phật-Tử tại gia, cũng như tại Viện Đại Học Vạn-Hạnh cho sinh-viên Phật-khoa năm thứ IV (73-74) về môn các tác phẩm Trung-Hoa. Và cũng thể theo lời yêu cầu của đa-số Phật-tử muốn có tài-liệu để học-tập và nghiên-cứu, nên chúng tôi gom góp các bài đã biên-soạn, đúc kết thành một tập sách với nhan đề: “GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA”.
09/04/2013(Xem: 13430)
hế danh của Sư Bà cũng chính là Ðạo Hiệu hiện tại. Song Thân khó nuôi con, nên lúc 2 tuổi hai Cụ đã đem vào chùa cúng cho Sư Bà Ðàm Soạn, Trú trì chùa Cự Ðà và được Sư Cụ đặt tên là Ðàm Lựu. Phụ thân của Sư Bà là Cụ Ông Ðặng Văn Cán và Mẫu thân là Cụ Bà Nguyễn Thị Cả. Sư Bà sanh vào ngày 13 tháng 6 năm Quý Dậu, 4.811 Quốc Lịch; nhằm ngày 04 tháng 08 năm 1933 Tây lịch; tại làng Tam Xá, xã Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Ðông, Bắc Việt Nam.