Nhớ lại ân xưa (T.Nguyên Siêu)

22/09/201306:59(Xem: 14127)
Nhớ lại ân xưa (T.Nguyên Siêu)
HT-Thich-Chi-Tin doc sach-760

Nhớ Lại Ân Xưa

Thành kính đảnh lễ
Giác Linh Hòa Thượng Bổn Sư thùy từ chứng giám

Bài của HT Nguyên Siêu, đệ tử của HT Thích Chí Tín

Do Tâm Tú diễn ngâm

Đồi Trại Thủy ngày buồn đêm thảm

Chùa Long Sơn ảm đạm màu tang

Thầy về lại chốn Lạc Bang

Đàn con trong cảnh bàng hoàng ngẩn ngơ.

Nhớ Giác Linh xưa

Từ thuở khai sơn

Chùa tranh vách đất

Nằm cạnh ven rừng

Linh địa chốn Già Lam

Rồi từ dạo đó

Thầy nuôi chí xuất trần thượng sĩ

Ngày muối dưa cơm hẩm thuở cơ hàn

Sớm công phu Lăng Nghiêm năm đệ từng hàng

Chiều bái sám mời nhơn thiên câu hội.

Phước duyên tích tụ làu làu

Trí tánh ngần soi tỏ tỏ

Hương thơm giới đức như vầng trăng soi ngõ

Từng bước chân thành Thạch Trụ Tòng Lâm.

Thầy không đi học

Chữ nghĩa thế trần

Làm loạn tâm tu mật hạnh

Khẩu từ chân chánh

Thân hiện oai nghi

Giữ mình giới đức

Bất khả tư nghì

Sạch như băng tuyết lưu ly,

Sáng ngời tâm Phật

Lúc đứng khi đi

Thầy là tàng cây đại thọ

Rợp mát một đời Tăng Ni

Kể từ thời Chùa xưa nho nhỏ

Cạnh cây Bồ Đề xanh um hứng gió

Thầy trồng từ thuở lên mười.

Nhưng giờ đây

Tàng cây Bồ Đề không còn nữa

Thầy buồn một thủa ai hay?

Sinh lòng thương xót

Như đóa sen đầy

Thầy cho hương thêm sắc

Như bấy lâu nay.

Người đi qua

Kẻ ở lại

Tâm Thầy luôn đong đầy.

Mặc cho đời áo mão cân đai.

Thầy luôn hiện tướng

Chiếc áo tràng đà chỉ xỏ một tay

Thầy ngồi nơi nhà Thiền

Phật tử sum vầy

Ngày Rằm mồng Một

Mỗi tháng lưng đầy

Có tịnh tài nuôi chúng Tăng ăn học.

Mà chẳng lo chi cho Thầy

Tay nải vơi đầy

Cam tươi sữa ngọt

Cỡi chiếc xe đạp đem ngay cho người

Chẳng giữ trong tay

Những gì Thầy có

Thầy học hạnh buông xả

Bềnh bồng như mây.

Thầy đi tìm hang kiến

Cho đồ ăn thật đầy

Cơm nguội bánh mì đường cát

Ấy là việc làm xưa nay.

Thầy thương loài vật

Thầy giúp người ngay

Thầy làm Bồ Tát hạnh

Trong cuộc đời này.

Nhưng bạch Thầy!

Thân Đại thọ đã ngả về Tây!

Đàn con ríu rít xé cay nát lòng.

Thầy đi như bóng thu không

Hình hài ẩn hiện lối mòn quạnh hiu.

Vách đá lưng trời

Chùa xưa vắng bóng

Bậc Ân sư muôn thuở nào phai.

Lời vàng thước ngọc

Thầy để lại hôm nay

Cho nghìn sau

Và mãi mãi nghìn sau

Như tấm thân già tứ đại

Hơn 30 năm ngày tháng qua

Thầy ngồi nơi đó!

Chiếc xích đu giờ như bỏ ngỏ.

Thầy đã đi và đi mãi không về

Đàn con buồn tái tê

Giọt sầu rơi xuống trăng thề đầu non.

Long Sơn! Long Sơn!

Tên Chùa Thầy đặt

Hôm nay vẫn còn

Dựa lưng vào vách đá

Trên đỉnh non ngự tọa Kim Thân.

Tâm Thầy như áng phù vân

Đến đi chẳng buộc ai vần chẳng lay.

Chúng con ở lại chốn này

Để học và học hạnh Thầy

Nghìn sau vẫn học thân này dù tan.

Kính nguyện Thầy Cao Đăng Thượng Phẩm

Lễ Nhập Kim Quan 20/9/2013

Đệ tử Nguyên Siêu

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/12/2010(Xem: 10926)
Hòa thượng Thích Quảng Thiệp (1928-1998)
25/11/2010(Xem: 38018)
Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Đây là 43 công án Vua đưa ra để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia. Thầy Làng Mai đã dịch những công án này ra tiếng Việt và tiếng Pháp năm 1968. Bản dịch tiếng Pháp xin xem ở phần phụ lục cuốn Clé Pour Le Zen, tác giả Nhất Hạnh, do nhà xuất bản JC Lattes ấn hành. Bản Hán Việt có trong Thơ Văn Lý Trần quyển II (Quyển thượng, trang 108-121), NXB Khoa Học Xã Hội.
24/11/2010(Xem: 15653)
Tiểu sử nhà văn Quách Tấn
15/11/2010(Xem: 10740)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11501)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 11094)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 17703)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 49357)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 10192)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).