Nhớ lại ân xưa (T.Nguyên Siêu)

22/09/201306:59(Xem: 14193)
Nhớ lại ân xưa (T.Nguyên Siêu)
HT-Thich-Chi-Tin doc sach-760

Nhớ Lại Ân Xưa

Thành kính đảnh lễ
Giác Linh Hòa Thượng Bổn Sư thùy từ chứng giám

Bài của HT Nguyên Siêu, đệ tử của HT Thích Chí Tín

Do Tâm Tú diễn ngâm

Đồi Trại Thủy ngày buồn đêm thảm

Chùa Long Sơn ảm đạm màu tang

Thầy về lại chốn Lạc Bang

Đàn con trong cảnh bàng hoàng ngẩn ngơ.

Nhớ Giác Linh xưa

Từ thuở khai sơn

Chùa tranh vách đất

Nằm cạnh ven rừng

Linh địa chốn Già Lam

Rồi từ dạo đó

Thầy nuôi chí xuất trần thượng sĩ

Ngày muối dưa cơm hẩm thuở cơ hàn

Sớm công phu Lăng Nghiêm năm đệ từng hàng

Chiều bái sám mời nhơn thiên câu hội.

Phước duyên tích tụ làu làu

Trí tánh ngần soi tỏ tỏ

Hương thơm giới đức như vầng trăng soi ngõ

Từng bước chân thành Thạch Trụ Tòng Lâm.

Thầy không đi học

Chữ nghĩa thế trần

Làm loạn tâm tu mật hạnh

Khẩu từ chân chánh

Thân hiện oai nghi

Giữ mình giới đức

Bất khả tư nghì

Sạch như băng tuyết lưu ly,

Sáng ngời tâm Phật

Lúc đứng khi đi

Thầy là tàng cây đại thọ

Rợp mát một đời Tăng Ni

Kể từ thời Chùa xưa nho nhỏ

Cạnh cây Bồ Đề xanh um hứng gió

Thầy trồng từ thuở lên mười.

Nhưng giờ đây

Tàng cây Bồ Đề không còn nữa

Thầy buồn một thủa ai hay?

Sinh lòng thương xót

Như đóa sen đầy

Thầy cho hương thêm sắc

Như bấy lâu nay.

Người đi qua

Kẻ ở lại

Tâm Thầy luôn đong đầy.

Mặc cho đời áo mão cân đai.

Thầy luôn hiện tướng

Chiếc áo tràng đà chỉ xỏ một tay

Thầy ngồi nơi nhà Thiền

Phật tử sum vầy

Ngày Rằm mồng Một

Mỗi tháng lưng đầy

Có tịnh tài nuôi chúng Tăng ăn học.

Mà chẳng lo chi cho Thầy

Tay nải vơi đầy

Cam tươi sữa ngọt

Cỡi chiếc xe đạp đem ngay cho người

Chẳng giữ trong tay

Những gì Thầy có

Thầy học hạnh buông xả

Bềnh bồng như mây.

Thầy đi tìm hang kiến

Cho đồ ăn thật đầy

Cơm nguội bánh mì đường cát

Ấy là việc làm xưa nay.

Thầy thương loài vật

Thầy giúp người ngay

Thầy làm Bồ Tát hạnh

Trong cuộc đời này.

Nhưng bạch Thầy!

Thân Đại thọ đã ngả về Tây!

Đàn con ríu rít xé cay nát lòng.

Thầy đi như bóng thu không

Hình hài ẩn hiện lối mòn quạnh hiu.

Vách đá lưng trời

Chùa xưa vắng bóng

Bậc Ân sư muôn thuở nào phai.

Lời vàng thước ngọc

Thầy để lại hôm nay

Cho nghìn sau

Và mãi mãi nghìn sau

Như tấm thân già tứ đại

Hơn 30 năm ngày tháng qua

Thầy ngồi nơi đó!

Chiếc xích đu giờ như bỏ ngỏ.

Thầy đã đi và đi mãi không về

Đàn con buồn tái tê

Giọt sầu rơi xuống trăng thề đầu non.

Long Sơn! Long Sơn!

Tên Chùa Thầy đặt

Hôm nay vẫn còn

Dựa lưng vào vách đá

Trên đỉnh non ngự tọa Kim Thân.

Tâm Thầy như áng phù vân

Đến đi chẳng buộc ai vần chẳng lay.

Chúng con ở lại chốn này

Để học và học hạnh Thầy

Nghìn sau vẫn học thân này dù tan.

Kính nguyện Thầy Cao Đăng Thượng Phẩm

Lễ Nhập Kim Quan 20/9/2013

Đệ tử Nguyên Siêu

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 12069)
Căn cứ theo tài liệu nghiên cứu của Thiền sư Mật Thể trong cuốn Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, thì dưới triều chúa Nguyễn ở đàng Trong, phong trào phát triển Phật giáo nói chung và Thiền phái Lâm Tế nói riêng bành trướng rất mạnh mẽ ; đồng thời, đã lưu lại cho nền văn học Phật giáo nhiều kiến trúc mỹ thuật, hội họa rất nổi tiếng. Tuy nhiên, khi nhà Tây Sơn thống nhất đất nước, kéo quân từ Nam ra diệt Nguyễn thì đoàn quân lính nầy đã hủy diệt đi những công trình quý báu đó. Bi ký, chứng liệu bị thất tung.
10/04/2013(Xem: 9562)
Hôm nay dưới bóng mát thiền lâm Thiên Thai pháp phái, trước giây phút thiêng liêng tỏa ngát hương đàm, chúng con đang qui tụ về đây, nơi vùng đất Thánh, nơi đã ghi đậm nét lịch sử một đời người xuất thị nhập sơn, tầm rong độ nhật, nơi Ngài đã thể hiện công án thoại đàu, luôn luôn quấn quýt đeo đẳng tâm tư với những tháng năm dài chẻ chia suy cứu- Thiền pháp trầm tịch nhưng hưng suy, trừng thanh nhưng hoạt diễm ấy đến nay vẫn còn phong khí nức hương
10/04/2013(Xem: 11860)
Nhận được tin từ cố đô Huế, Việt Nam, Trưởng Lão Ni, Sư Cụ Thích Nữ Diệu Trí, thế danh Hồ thị Trâm Anh, Húy thượng Trừng hạ Khương, Đạo hiệu Liễu Nhiên, đời thứ 42 dòng Thiền Lâm Tế, Viện chủ chùa Diệu Đức, Trú Trì chùa Diệu Nghiêm, thành phố Huế, đã xã báo thân, an nhiên thâu thần thị tịch vào lúc 19 giờ 05 phút ngày 23 tháng 3 năm 2010 (nhằm ngày mùng 8 tháng 2 năm Canh Dần), trụ thế 103 năm, với 78 tuổi đạo.
10/04/2013(Xem: 10967)
Truyện của tôi không đáng gì mà phải ghi. Chỉ vì truyện ấy, hơn vài thập kỷ trước thập kỷ 2530 (1975-1985), có liên quan đến Phật giáo VN, lại bị hư cấu truyện và phim sai quá nên phải ghi. Nhưng ghi như dưới đây thì chỉ là có còn hơn không mà thôi.
10/04/2013(Xem: 9822)
Lễ Giỗ Tổ Nguyên Thiều tại Tu Viện Nguyên Thiều, Sydney, Úc Châu ngày thứ hai, 26-11-2007
10/04/2013(Xem: 11813)
Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, thế danh Nguyễn Văn Bình, sinh ngày 02 tháng 09 năm Đinh Tỵ (17-l0-1917), tại làng Mỹ An Hưng ( Cái Tàu Thượng) huyện Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (Đồng Tháp). Thân phụ là ông Nguyễn văn Cân và thân mẫu là Cụ bà Nguyễn Thị Truyện. Cụ Ông qua đời lúc H.T lên ba, Cụ Bà cũng theo Ông lúc Ngài vừa lên bảy.
09/04/2013(Xem: 10517)
Nước ta từ sau ngày Doãn Quốc Công Nguyễn Hoàng (1558 - 1613) vào trấn thủ đất Thuận Quảng, dần dần biến thành một vùng cai trị riêng cắt đứt liên hệ với vua Lê ở miền Bắc, lấy sông Danh làm ranh giới chia cắt Việt Nam thành hai mà sử gọi là Đàng Trong và Đàng Ngoài.
09/04/2013(Xem: 14528)
Hòa Thượng Pháp danh thượng Tâm hạ Ba, tự Nhựt Quang, hiệu Bửu Huệ thuộc đời 41 dòng Lâm Tế (chữ Nhựt) và đời 43 thuộc phái Thiên Thai (chữ Tâm). Húy danh: Nguyễn Văn Ba, sanh năm Giáp Dần (1941), tại Xã Tân Hương, huyện Bến Tranh, Tỉnh Ðịnh Tường (Nay là Tỉnh Tiền Giang). Thân phụ là Ông Ðặng Văn Cử, thân mẫu là Bà Nguyễn Thị Thu. Hòa Thượng theo họ mẹ, cũng là người con thứ ba trong gia đình gồm hai anh em.
09/04/2013(Xem: 10369)
Ôn Từ Đàm (Hòa thuọng Thích Thiện Siêu) với tôi vốn không có duyên nghĩa thầy trò; mặc dù, vào đầu thập niên 1960, Ôn là Giáo thọ tại Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang trong khi tôi là một học tăng ở đó. Những tháng năm này, tôi là nguòi được theo học trường Võ Tánh nên thời khóa sinh hoạt của tôi không bị câu thúc chặt chẽ; và vì vậy, ít có cơ hội gần gũi với các bậc thầy lớn như Ôn.
09/04/2013(Xem: 8758)
Trúc Lâm Đại sĩ là vua thứ tư nhà Trần, con của Thánh Tông, lên ngôi ngày 12 tháng 2 năm Mậu dần (1278). Trước khi Đại sĩ ra đời, Nguyên Thánh Hoàng Thái hậu nằm mộng thấy thần nhân đưa cho hai lưỡi kiếm bảo : "Có lệnh của Thượng giới, cho phép ngươi được chọn lấy". Bỗng nhiên được kiếm, Thái hậu bất giác rất vui, nhân đó có thai. Những tháng dưỡng thai, nhà bếp dâng thức gì Thái hậu cứ dùng như thường, chẳng cần kiêng cử mà thai cũng chẳng sao.