Nhớ lại ân xưa (T.Nguyên Siêu)

22/09/201306:59(Xem: 14692)
Nhớ lại ân xưa (T.Nguyên Siêu)
HT-Thich-Chi-Tin doc sach-760

Nhớ Lại Ân Xưa

Thành kính đảnh lễ
Giác Linh Hòa Thượng Bổn Sư thùy từ chứng giám

Bài của HT Nguyên Siêu, đệ tử của HT Thích Chí Tín

Do Tâm Tú diễn ngâm

Đồi Trại Thủy ngày buồn đêm thảm

Chùa Long Sơn ảm đạm màu tang

Thầy về lại chốn Lạc Bang

Đàn con trong cảnh bàng hoàng ngẩn ngơ.

Nhớ Giác Linh xưa

Từ thuở khai sơn

Chùa tranh vách đất

Nằm cạnh ven rừng

Linh địa chốn Già Lam

Rồi từ dạo đó

Thầy nuôi chí xuất trần thượng sĩ

Ngày muối dưa cơm hẩm thuở cơ hàn

Sớm công phu Lăng Nghiêm năm đệ từng hàng

Chiều bái sám mời nhơn thiên câu hội.

Phước duyên tích tụ làu làu

Trí tánh ngần soi tỏ tỏ

Hương thơm giới đức như vầng trăng soi ngõ

Từng bước chân thành Thạch Trụ Tòng Lâm.

Thầy không đi học

Chữ nghĩa thế trần

Làm loạn tâm tu mật hạnh

Khẩu từ chân chánh

Thân hiện oai nghi

Giữ mình giới đức

Bất khả tư nghì

Sạch như băng tuyết lưu ly,

Sáng ngời tâm Phật

Lúc đứng khi đi

Thầy là tàng cây đại thọ

Rợp mát một đời Tăng Ni

Kể từ thời Chùa xưa nho nhỏ

Cạnh cây Bồ Đề xanh um hứng gió

Thầy trồng từ thuở lên mười.

Nhưng giờ đây

Tàng cây Bồ Đề không còn nữa

Thầy buồn một thủa ai hay?

Sinh lòng thương xót

Như đóa sen đầy

Thầy cho hương thêm sắc

Như bấy lâu nay.

Người đi qua

Kẻ ở lại

Tâm Thầy luôn đong đầy.

Mặc cho đời áo mão cân đai.

Thầy luôn hiện tướng

Chiếc áo tràng đà chỉ xỏ một tay

Thầy ngồi nơi nhà Thiền

Phật tử sum vầy

Ngày Rằm mồng Một

Mỗi tháng lưng đầy

Có tịnh tài nuôi chúng Tăng ăn học.

Mà chẳng lo chi cho Thầy

Tay nải vơi đầy

Cam tươi sữa ngọt

Cỡi chiếc xe đạp đem ngay cho người

Chẳng giữ trong tay

Những gì Thầy có

Thầy học hạnh buông xả

Bềnh bồng như mây.

Thầy đi tìm hang kiến

Cho đồ ăn thật đầy

Cơm nguội bánh mì đường cát

Ấy là việc làm xưa nay.

Thầy thương loài vật

Thầy giúp người ngay

Thầy làm Bồ Tát hạnh

Trong cuộc đời này.

Nhưng bạch Thầy!

Thân Đại thọ đã ngả về Tây!

Đàn con ríu rít xé cay nát lòng.

Thầy đi như bóng thu không

Hình hài ẩn hiện lối mòn quạnh hiu.

Vách đá lưng trời

Chùa xưa vắng bóng

Bậc Ân sư muôn thuở nào phai.

Lời vàng thước ngọc

Thầy để lại hôm nay

Cho nghìn sau

Và mãi mãi nghìn sau

Như tấm thân già tứ đại

Hơn 30 năm ngày tháng qua

Thầy ngồi nơi đó!

Chiếc xích đu giờ như bỏ ngỏ.

Thầy đã đi và đi mãi không về

Đàn con buồn tái tê

Giọt sầu rơi xuống trăng thề đầu non.

Long Sơn! Long Sơn!

Tên Chùa Thầy đặt

Hôm nay vẫn còn

Dựa lưng vào vách đá

Trên đỉnh non ngự tọa Kim Thân.

Tâm Thầy như áng phù vân

Đến đi chẳng buộc ai vần chẳng lay.

Chúng con ở lại chốn này

Để học và học hạnh Thầy

Nghìn sau vẫn học thân này dù tan.

Kính nguyện Thầy Cao Đăng Thượng Phẩm

Lễ Nhập Kim Quan 20/9/2013

Đệ tử Nguyên Siêu

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/10/2014(Xem: 10622)
Phật Giáo Việt Nam thời cận đại đã viết lên trang lịch sử bằng máu, xương của Chư Tôn Đức Tăng Ni và Phật tử. Dòng lịch sử ấy đã nêu cao tấm gương hy sinh bất khuất trước những đàn áp, bạo lực, súng đạn, nhà tù và lựu đạn. Phải chăng đây là một chặng đường lịch sử oai hùng mà Phật Giáo Việt Nam đã biểu tỏ tinh thần Đại hùng, Đại lực, Đại Từ Bi để vực dậy một nền văn hóa đã bị sụp đổ bởi một chế độ tha hóa, ngoại lai xâm nhập vào quê hương Việt Nam.
01/10/2014(Xem: 12661)
Trên dòng lịch sử Phật giáo Việt Nam thời cận đại của những thập niên 30-40 có bậc Tôn túc của Ni giới xuất hiện, đồng hành với chư Tăng để xiển dương Phật pháp, đào tạo Tăng tài, xây dựng tự viện, giữ gìn giềng mối đạo pháp được bền vững. Bậc Tôn túc của Ni giới ấy là SB Diệu Không, người đã hy hiến cả đời mình cho đời lẫn đạo, SB đã lưu lại cho hậu thế một hành trạng sáng ngời cho đàn hậu học noi gương.
09/09/2014(Xem: 17145)
Hòa Thượng Thích Giác Thông, tục danh Đổ Văn Bé, sinh ngày 18 tháng 2 năm 1939 tại Mỹ Hòa Hưng, Huyện Châu Thành, An Giang, Long Xuyên. Trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân Phụ là Cụ Ông Đổ Nhựt Thăng, Thân Mẫu là Cụ Bà Nguyễn Thị Khiên, Hòa Thuợng là người anh cả trong số 6 anh em ( 3 trai, 3 gái ), được nuôi dưỡng trong một gia đình nông dân hiền lành, có truyền thống đạo đức, nên từ nhỏ Hòa Thượng đã là người sớm có tư chất hiền lương, có tâm thương người mến vật, là con có hiếu với ông bà cha mẹ.
06/09/2014(Xem: 10965)
Không biết đây là lá thư thứ mấy con đã viết mà không bao giờ gởi đi, bởi vì con biết thư có vượt ngàn dặm trùng dương bay về thì Thầy cũng vẫn không cầm đọc được, chứng bịnh Parkinson đã làm cho hai tay Thầy run nhiều quá nhưng nhân mùa Phật Đản nhớ đến Thầy, con lại muốn viết. Thời gian sau này, con vẫn theo dõi thường xuyên sức khỏe của Thầy, con buồn vô cùng, Thầy đã bị bịnh, không thoát khỏi qui luật sinh, lão, bịnh mà con thì ở xa quá, không thăm viếng cận kề Thầy được như ngày xưa nữa !
05/09/2014(Xem: 25709)
Còn đây của báu trong nhà Không là ngọc bảo, không là hoàng kim Bình thường chiếc áo tràng lam Mà sao quý vượt muôn ngàn ngọc châu! Những năm cầu thực dãi dầu Sớm mai tụng niệm, đêm thâu mật trì Dòng đời mãi cuốn con đi Về nương chốn tịnh có Thầy, có Ôn… Kinh truyền ban phát khuyên lơn
02/09/2014(Xem: 15423)
“Đầu lông trùm cả càn khôn thảy Hạt cải bao gồm nhật nguyệt trong” Thiền sư Khánh Hỷ (1067–1142) thuộc dòng thứ 14, thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Sư họ Nguyễn, quê ở Cổ Giao, huyện Long Biên, thuộc dòng tịnh hạnh, từng được vua Lý Thần Tông phong chức Tăng Thống. Sách Thiền Uyển Tập Anh (Anh Tú Vườn Thiền) ghi lại cuộc đối thoại giữa ngài với Thiền Sư Bản Tịch ở chùa Chúc Thánh, nhân dịp ngài cùng với thiền sư đến nhà đàn việt để thọ trai, trên đường đi sư hỏi: Thế nào là ý chỉ của Tổ Sư? Sao thầy lại nghe theo nhân gian làm những chuyện đồng cốt mê hoặc? Bản Tịch đáp: Lời nói ấy đâu phải là không do đồng cốt giáng thần? Sư thưa: Chẳng phải là Hòa Thượng đùa bỡn con hay sao? Bản Tịch đáp: Ta chẳng hề đùa bỡn tí nào! Sư không nắm được ý chỉ của thầy bèn cáo biệt ra đi.
12/08/2014(Xem: 20757)
Cô là 1 nữ sinh trẻ nhất của Sài Gòn đã anh dũng ngã xuống trước họng súng của quân thù tàn bạo trong 1 buổi sáng mùa thu năm 1963 trước cửa chợ Bến Thành, với hàng ngàn sinh viên, học sinh và nhân dân phật tử trước cửa chợ Bến Thành. Và ngay sau đó, Thành hội sinh viên học sinh Sài Gòn đã quyên góp vận động ủng hộ xây bức tượng thờ người nữ học sinh anh hùng tuổi 15 đặt ngay công trường Diên Hồng trước cửa chính chợ Bến Thành ngày nay với sự chứng kiến của hàng ngàn người dân, phật tử thành phố và sinh viên, học sinh.
09/08/2014(Xem: 15574)
Hòa thượng Họ Đinh, húy Văn Nam, là đệ tử của cố Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Đệ nhất Tăng thống GHPGVNTN, pháp danh Tâm Trí, tự Minh Châu, pháp hiệu Viên Dung, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1918 (Mậu Ngọ) tại làng Kim Thành (Quảng Nam); nguyên quán làng Kim Khê, xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Thân phụ là cụ ông Đinh Văn Chấp và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Đạt. Gia đình Hòa thượng có 11 người anh em, Hòa thượng là con trai thứ tư trong gia đình. Vốn sinh trưởng trong gia đình vọng tộc Nho gia, thân sinh của Hòa thượng đỗ tiến sĩ Hoàng giáp năm 21 tuổi (khoa Quý Sửu 1913, niên hiệu Duy Tân thứ 7). Nhờ ảnh hưởng sâu đậm nền giáo dục của cụ ông từ bé, vì vậy Hòa thượng rất cần mẫn đèn sách, chăm chỉ học hành, trí tuệ phát triển sớm. Năm 1939, Hòa thượng đỗ bằng cao đẳng tiểu học Đông Dương; năm 1940 Hòa thượng đỗ tú tài toàn phần tại Trường Khải Định - Huế (nay là Trường Quốc Học); và cùng thời gian này, Ngài được bổ làm Thư ký Tòa Khâm sứ tỉnh Thừa Thiên. Sau một năm
03/08/2014(Xem: 9031)
Lễ nhập quan được cử hành tại Bình Quang Ni tự vào lúc 18g00 cùng ngày. Lễ phúng viếng bắt đầu từ 8g00 ngày 9-7 Giáp Ngọ (4-8-2014). Lễ truy niệm được cử hành vào lúc 4g00 sáng nay, 12-7 Giáp Ngọ (7-8-2014); lễ phụng tống kim quan vào lúc 6g00 sáng cùng ngày. Nhục thân cố Ni trưởng tới đài hỏa táng núi Dinh, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu làm lễ trà-tỳ. Tro cốt của Ni trưởng sẽ được nhập bảo tháp tại Bình Quang Ni tự. Được biết, cố NT.Thích nữ Huyền Tông thế danh Dương Thị Ngọc Cúc, sinh năm 1918 tại P.Đức Thắng, TP.Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Vì sớm giác ngộ lý vô thường, nên năm 17 tuổi (1936), Ni trưởng cùng người cô của mình là cố Ni trưởng Huyền Học quyết tâm vào Sài Gòn xuất gia với cố Ni trưởng Diệu Tịnh tại chùa Hải Ấn. Đến năm 1940, Ni trưởng được thọ giới Cụ túc tại Giới đàn chùa Vạn An (tỉnh Sa Đéc). Suốt hơn 2/3 thế kỷ tu học và hành đạo, Ni trưởng đã tham gia vào phong trào đấu tranh yêu nước trong cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1945, đấu tranh đòi quyền bình đẳng tô
31/07/2014(Xem: 21586)
An Cư Kiết Đông đã qua, Nhưng lời thuyết pháp đậm đà vẫn vương Thích Ca tái thế tình thương Thầy về giảng Pháp con nương nơi Thầy