HT Thích Đạt Đạo (1951-2013)

14/09/201312:21(Xem: 27020)
HT Thích Đạt Đạo (1951-2013)
Le_Cung_Tong_Kim_Quan_HT_Dat_Dao_19_9_2013 (1)

LỄ TRUY NIỆM VÀ

CUNG TỐNG KIM QUAN CỐ HÒA THƯỢNG THÍCH ĐẠT ĐẠO

tại chùa Bát Nhã, quận Bình Thạnh

vào sáng ngày 19/9/2013

(ngày 15 tháng 8 năm Quý Tỵ, PL. 2557)

Chương trình

- Chư Tôn đức Tăng Ni và Phật tử vân tập tại chùa Bát Nhã.

- Giới thiệu chương trình, giới thiệu đại biểu.

- HT. Thích Giác Toàn tuyên đọc tiểu sử cố HT. Thích Đạt Đạo.

- HT. Thích Thiện Nhơn đọc lời tưởng niệm, truy tán công đức cố HT. Thích Đạt Đạo.

- HT. Thích Thiện Tánh đọc lời cảm tạ.

- Chư Tôn đức niêm hương tưởng niệm.

- HT. Thích Huệ Minh cử hành nghi thức phất trần.

- HT. Thích Phước Trí chủ sám và Ban Kinh Sư Tu viện Quảng Hương Già Lam thực hiện nghi lễ phụng tống kim quan.

- Nghi thức trà tỳ tại Trung tâm hỏa táng Bình Hưng Hòa.







HTThichDatDaot

Hoà thượng Thích Đạt Đạo

- Ủy viên Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam

- Phó trưởng ban Thường trực Ban Hướng dẫn Trung ương

- Phó trưởng ban Hoằng pháp Trung ương

- Phó Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh

- Ủy viên Thường trực Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam

- Trưởng ban Hướng dẫn Phật tử GHPGVN TP. Hồ Chí Minh

- Trụ trì chùa Bát Nhã, phường 13, quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh

I. Thân thế

Hòa thượng Thích Đạt Đạo, thế danh Huỳnh Văn Hà, sinh năm Tân Mão (1951) tại xã Hạnh Thông, Quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định, nay là Thành phố Hồ Chí Minh. Thân phụ là Cụ Ông Huỳnh Văn Chánh. Thân mẫu là Cụ Bà Lê Thị Kia, pháp danh Diệu Ca.

II. Thời kỳ xuất gia học Đạo

Vốn sinh ra trong một gia đình Phật tử thuần thành, nhiều đời tin kính Tam bảo, từ nhỏ Hòa thượng đã có thiện duyên với Phật pháp, được Cụ Ông, Cụ Bà thường xuyên dẫn đi chùa chiêm bái và lễ Phật. Năm 11 tuổi, Hòa thượng quy y năm giới với Hòa thượng Bổn sư thượng Đức hạ Chơn, pháp danh là Quảng Trí và sinh hoạt Gia đình Phật tử Quảng Hương. Với tâm nguyện muốn xuất gia học đạo, năm 13 tuổi (1964), Hòa thượng được Hòa thượng Bổn sư cho phép thế phát xuất gia và hành điệu tại chùa Long Huê, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, Hòa thượng vào tu học ở Tu viện Quảng Hương Già Lam, từ năm 1966 - 1968.

Qua một thời gian nhiệt tâm, tinh cần tu học, Hòa thượng được Cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Thủ chọn làm thị giả và cho phép ra Nha Trang nhập chúng tu học tại Phật học viện Hải Đức - Nha Trang từ năm 1968 – 1970, cùng với nhiều pháp hữu – ngày nay đã thành những vị giáo phẩm lãnh đạo trong GHPGVN. Từ năm 1970 - 1972, Hòa thượng ra Huế tu học tại Phật học viện Báo Quốc, học Bồ đề Hữu Ngạn và Quốc Học – Huế. Năm 22 tuổi (1973), Hòa thượng được Hòa thượng Bổn sư cho phép đăng đàn thọ Cụ túc giới tại Đại Giới đàn Phước Huệ, do Cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Phúc Hộ làm đường đầu, Cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Thủ - Giám đốc Phật học viện Nha Trang làm Chánh chủ đàn. Hòa thượng, được Hòa thượng Bổn sư ban pháp tự Pháp Không, hiệu Đạt Đạo. Sau đó, Hòa thượng trở vào Sài Gòn, ở tại Tu viện Quảng Hương Già Lam, theo học chương trình cử nhân Đại học Khoa học Sài Gòn và Đại học Vạn Hạnh tử năm 1973 - 1975.

Là tu sĩ luôn tâm niệm thực thi bổn nguyện lấy trí tuệ làm sự nghiệp, Hòa thượng không ngừng nỗ lực tu học, để mở mang kiến thức Phật học, cũng như kiến thức thế học. Sau ngày đất nước thống nhất 1975, GHPGVN thành lập vào tháng 11 năm 1981, Hòa thượng đã theo học Khóa Bồi dưỡng giảng sư đầu tiên do Văn phòng 2 Trung ương GHPGVN kết hợp Ban Trị sự Phật giáo TP. Hồ Chí Minh tổ chức vào năm 1985 và một những vị đạt giải giảng sư hạng giỏi. Bên cạnh đó, Hòa thượng còn tham gia và tốt nghiệp Khóa học Quản trị hành chánh Quốc gia vào năm 1990, Khóa học Báo chí do Hội nhà Báo TP. Hồ Chí Minh tổ chức vào năm 1991. Vào năm 1999, Hòa thượng tốt nghiệp thạc sĩ Quản lý Giáo dục tại trường Đại học Tennessee.

III. Thời kỳ hành đạo

Hòa thượng là người có duyên lành được tiếp cận các công tác Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngay từ những tháng ngày mới thành lập GHPGVN vào năm 1981. Trong vai trò là thị giả và thư ký riêng của Cố Trưởng lão Hòa thượng Chủ tịch HĐTS - GHPHVN nhiệm kỳ đầu tiên (theo QĐ Văn phòng Trung ương 2 ngày 30/4/1982), Hòa thượng là vị Tăng trẻ có nhiều thuận duyên hầu cận nhiều vị Tôn túc lãnh đạo Giáo hội thời bấy giờ ở trong nước, cũng như mỗi khi Cố Trưởng lão Hòa thượng Đệ nhất Chủ tịch HĐTS – GHPHVN đi thăm và làm việc với các nước Phật giáo thân hữu. Sau đó, trải qua các nhiệm kỳ của GHPGVN, với sự tích cực tham gia các hoạt động Phật sự của Giáo hội, Hòa thượng lần lượt được bổ nhiệm các chức vụ: Ủy viên thường trực Ban Trị sự GHPHVN thành phố Hồ Chí Minh, Ủy viên thường trực Hội đồng Trị sự GHPHVN nhiệm kỳ VII, vào năm 2012.

Đối với công tác Giáo dục Tăng Ni, vào năm 1984, Trường Cao cấp Phật học Việt Nam – Cơ sở II ra đời tại TP. Hồ Chí Minh, do Cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu làm Hiệu trưởng, Hòa thượng được đề cử vào chức vụ Phó văn phòng trường từ giữa Khóa II (1988 – 1992). Từ Khóa III (1993 – 1997) cho đến khóa V (2001- 2005), Hòa thượng được đảm nhiệm chức vụ Chánh văn phòng). Đến Khóa VI (2005 – 2009), Hòa thượng được Hội đồng Trị sự GHPGVN bổ nhiệm chức vụ Tổng thư ký Hội đồng Điều hành Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh. Vào năm 2008, Hòa thượng được Giáo hội bổ nhiệm chức vụ Phó Viện trưởng đặc trách tổ chức – Hành chánh Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh cho đến ngày viên tịch. Ngoài việc điều hành Học viện, Hòa thượng còn là Trưởng Khoa Hoằng pháp từ Khóa VII (2009 – 2013), giảng viên Trường Cao Trung Phật học TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Long An, Bình Dương… Với tất cả công đức đóng góp cho sự nghiệp đào tạo và giáo dục Tăng Ni, Hòa thượng được Giáo hội Phật giáo Việt Nam tặng Bằng tuyên dương công đức vào ngày 5 tháng 9 năm 2013.

Hướng dẫn Phật tử tu học là Phật sự được Hòa thượng ưu tư nhiều nhất, bởi vì đây là đối tượng hoằng pháp bao gồm nhiều hội chúng khác nhau: nam nữ cư sĩ tại gia và cả tổ chức Gia đình Phật tử. Theo Hòa thượng, khi làm tốt công tác này thì sẽ góp phần làm cho Phật giáo phát triển. Vốn xuất thân từ tổ chức Gia đình Phật tử khi còn nhỏ, rồi trở thành vị Tỳ kheo, Hòa thượng là Giảng sư tích cực tham gia các Khóa huấn luyện Gia Đình Phật Tử tại TP. Hồ Chí Minh, Long An, An Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang… và điều hành các công tác Phật sự Ngành Hướng dẫn Phật tử, cùng với nhiều chư Tôn đức lãnh đạo; sau đó Hòa thượng được bổ nhiệm làm Phó Trưởng ban Thường trực Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương, kiêm Trưởng Ban Hướng dẫn Phật tử Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh từ năm 2002 cho đến ngày xả báo thân.

Đối với công tác Hoằng pháp, Hòa thượng là vị Tăng giàu nhiệt huyết tham gia tích cực các Phật sự hoằng hóa độ sanh. Hòa thượng đã tham gia vào Ban Hoằng pháp Trung ương qua các nhiệm kỳ hoạt động của Giáo hội. Hòa thượng là gương mặt giảng sư được nhiều Hội chúng biết đến từ Thành phố Chí Minh cho đến các tỉnh thành lân cận ờ miền Nam, cũng như một số tỉnh ở miền Bắc qua những bài giảng thấm đẫm hương vị Phật pháp, dễ ứng dụng vào trong đời sống thực tiễn. Trong cương vị là Phó ban Hoằng pháp Trung ương, Hòa thượng cũng là giảng sư, giám khảo của 2 lớp Đào tạo Cao Trung cấp Giảng sư Ban Hoằng pháp Trung ương, giảng sư các Khóa an cư kiết hạ, Đạo tràng tu Bát Quan Trai, sáng chủ nhật hằng tuần do Ban Hoằng pháp Trung ương và Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh tổ chức.


ht thich dat dao

Song song với công tác hoằng pháp độ sinh, Hòa thượng cũng là thành viên của Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam. Điểm nổi bật là Hòa thượng là đã nghiên cứu và xuất bản Kinh An ban thủ ý lược giảivào năm 2004, Nghệthuật diễn giảng và xướng ngôn lễ hội Phật giáovào năm 2006 và có nhiều bài viết đã đăng trên báo Giác Ngộ từ 1988 đến nay. Bên cạnh đó, Hòa thượng còn tham dự hội thảo khoa học Hoằng pháp, Hành chánh. Vào năm 2005, Hòa thượng tham dự Hội nghị quốc tế ASEM tại Bali, Indonesia, Hội thảo về Bồ-tát Thích Quảng Đức tại Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Tp.HCM; Năm 2006, Hòa thượng tham dự Hội nghị quốc tế “Phật giáo trong thời đại mới: Cơ hội và thách thức” tổ chức tại Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam; Năm 2007, Hòa thượng tham dự Hội thảo quốc tế “Việt Nam trong truyền thống Phật giáo Đông Á” tại Học viện Phật giáo Việt Nam, Tp. HCM; Năm 2008, Hòa thượng tham dự Đại lễ Vesak tổ chức tại Hà Nội, trình bày bài tham luận với chủ đề Môi trường sinh thái; Năm 2009 Hòa thượng tham dự hội thảo Quốc tế tại Wuxi (China) – Taipei (Taiwan). Nhân dịp Đại lễ Vesak thế giới được tổ chức tại Thái Lan vào năm 2012, Hòa thượng được trường Đại học Mahachulalongkorn của Hoàng gia trao văn bằng Tiến sĩ Danh dự về Quản lý Giáo dục.

Một Phật sự trọng đại mà Hòa thượng quan tâm nhất là “Báo Phật ân đức, tiếp dẫn hậu lai”, do vậy, vào năm 1990, sau khi tiếp nhận sở đất ở phường 13, quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh do Đạo hữu Nguyễn Ký hỷ cúng, Hòa thượng đã đặt viên đá đầu tiên xây dựng ngôi Tam bảo. Từ nơi đồng không mông quạnh, trải qua biết bao năm tháng gian nan, nỗ lực kiến tạo, Hòa thượng đã khai sáng ngôi phạm vũ - chùa Bát Nhã ngày nay. Trong cương vị là Trú trì, Hòa thượng đã dày công giáo hóa đồ chúng xuất gia và cả tại gia. Đệ tử xuất gia hiện nay có nhiều vị đã thọ Tỷ kheo giới, tốt nghiệp thạc sĩ, cử nhân Phật học. Đệ tử tại gia của Hòa thượng rất đông và tham gia nhiều đạo tràng tu học như: Đạo tràng Tịnh Độ, Đạo tràng Bát quan trai… do chùa Bát Nhã tổ chức.

IV. Thời kỳ viên tịch

Sau bao nhiêu năm tham gia các hoạt động Phật sự đóng góp cho Giáo hội, cho công tác Giáo dục Tăng Ni, cũng như công tác hoằng pháp độ sanh, tiếp dẫn đồ chúng, giữa năm 2013, Hòa thượng nhận thấy sức khỏe ngày càng giảm sút, Hòa thượng đã nhiều lần trình bày tâm nguyện của mình với chư Tôn đức Giáo phẩm lãnh đạo Giáo hội cũng như chia sẻ Phật sự với các cộng sự thân hữu, nhất là sắp sếp công việc điều hành ngôi Bổn tự và dặn dò các đệ tử xuất gia và tại gia hãy nỗ lực tinh cần tu học, để báo đáp thâm ân chư Phật.

Thế rồi, theo duyên tan họp, Hòa thượng đã thuận thế vô thường, thu thần viên tịch vào lúc 16 giờ 20 phút ngày 13 tháng 9 năm 2013, nhằm ngày 9 tháng 8 năm Quý Tỵ tại chùa Bát Nhã phường 13, quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh. Trụ thế 63 năm, Hạ lạp 41 năm.

Hòa thượng đã tùy tâm mãn nguyện, hóa duyên cõi Ta-bà, trở về thế giới Niết-bàn vô tung bất diệt, nhưng công đức và đạo nghiệp của Hòa thượng vẫn còn sống mãi trong tâm tư ký ức của người con Phật.






Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/07/2024(Xem: 5102)
Giáo sư Cao Huy Thuần - tác giả nhiều sách như "Thấy Phật", "Nắng và hoa", "Khi tựa gối khi cúi đầu" - mất ở tuổi 87, tại Paris, Pháp. Ông Cao Huy Hóa, em trai Giáo sư Cao Huy Thuần, thông báo ông mất lúc 5h ngày 8/7 (giờ Hà Nội). Hòa thượng Thích Hải Ấn - Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế - cho biết chờ thông tin từ gia đình, sau đó sẽ tổ chức buổi tưởng niệm giáo sư. Ông từng thỉnh giảng một số chuyên đề tại học viện.
28/06/2024(Xem: 3766)
Cung trời cũ, Thầy ung dung dạo bước, Chốn Hồng Trần, xin tạm gác niềm thương. Như Huyền nhiệm, đến đi trong tự tại. Diệt tang bồng, soi ảnh độ Tây phương. Thầy lặng lẽ, như hành thâm đại nguyện. Pháp Đại Bi, mật trú dạ Huân tu. Trong thiền thất, Thầy an nhiên thiền tọa. Thở và cười, chốn Bát Nhã Chơn như.
24/06/2024(Xem: 3609)
Đúng vậy! Tôn Sư Trưởng lão Hòa Thượng thượng NHƯ hạ HUỆ, Nguyên Hội Chủ và Chứng Minh Đạo Sư GHPGVNTNHN UDL-TTL, Phương trượng Chùa Pháp Hoa SA. Với 70 năm tu tập, 60 phục vụ PGVNTN tại quê nhà và hải ngoại, đã giáo dục, đạo tạo nên nhiều Tăng Ni và Phật tử tài giỏi, biết hy sinh bản thân để cống hiến cho đạo Pháp và dân tộc cũng như hết lòng phụng sự chúng sanh. Nhờ tấm lòng từ bi, với đức tánh hài hòa, nhẫn nại, bao dung rồi thâm nhập Phật Pháp. Từ nền móng đó, Phật giáo đồ và Giáo hội ở Úc đã nhiều nhiệm kỳ cung thỉnh Ngài làm Hội Chủ, đã giáo dưỡng nên nhiều đệ tử biết rõ cuộc đời là vô thường, khổ, để không chạy theo sự sanh diệt của thế gian, lánh xa ngũ dục, tìm cách diệt khổ vươn lên và phụng sự đắc lực cho cuộc đời, tạo vô vàn Phước Đức.
22/06/2024(Xem: 3825)
Có người, khi thấy tôi thường nhắc nhở, ca ngợi Hoà Thượng Thích Như Điển, cho rằng, tôi…nịnh Hoà Thượng. Trời, nếu hiểu theo nghĩa “nịnh” thì mục đích để cầu danh hay lợi gì đó. Muốn có danh đâu phải dễ. Giữa hai hạt, kim cương và hòn sỏi đặt dưới bóng đèn sẽ soi rõ bản chất của nó, không thể nhờ chiếu sáng mà sỏi thành ra kim cương được. Con người cũng thế thôi, bản thân chẳng ra gì có đứng bên người tỏa hào quang thì vẫn thấy cái dở của người đó. Còn lợi thì càng buồn cười hơn. Người tu vốn vào cửa...không, Phật tử phải đắp cho...có. Ở đó mà cầu lợi.
01/06/2024(Xem: 6102)
Từ khi mở đất, khai hoang, lập ấp vùng đất mới, Doãn Quốc Công Nguyễn Hoàng (1558-1613) đã để ý đến việc lập chùa và lấy Phật giáo làm nơi nương tựa tinh thần cho việc lập quốc của dòng họ Nguyễn. Theo truyền thống đó, các chúa Nguyễn đều sùng thượng đạo Phật và mời các vị danh tăng Trung Quốc đến Đàng Trong hay vùng Nam Bộ ngày nay để hoằng hóa. Thế kỷ XVII ghi nhận có mặt của các Thiền sư Trung Hoa (Nguyễn Lang 2008):
31/05/2024(Xem: 5757)
Sa môn Endo Mitsunaga (Giáo thọ A-xà-lê Quang Vĩnh Viên Đạo, 光永圓道阿闍梨), sinh năm năm Ất Mão (1975) tại Kyoto. Năm Canh Ngọ (1990), thiếu niên tuổi 15, Ngài xuất gia thụ giới Sa di tại Myoo-do Hall ở Mudojidani, Mt. Hiei. Năm 1997 Ngài tốt nghiệp chuyên khoa Phật học tại Đại học Hanazono (花園大学).
28/05/2024(Xem: 7092)
Huế thường được mệnh danh là “Kinh đô Phật giáo” chẳng phải vì cảm hứng nghệ thuật hay cường điệu vẽ vời mà chính vì Huế có tới 332 ngôi chùa và niệm phật đường lớn nhỏ, trong đó có khoảng 100 ngôi cổ tự. Các ngôi chùa ngày nay hầu như đều được trùng tu nhưng vẫn giữ được nét kiến trúc cổ kính, căn bản mang đậm màu sắc văn hóa Phật giáo. Dẫu là dấu tích truyền thống của tôn giáo nhưng những ngôi chùa cổ của Huế vẫn tiềm tàng những giá trị tâm linh, văn hóa, lịch sử của vùng đất cố đô.
09/05/2024(Xem: 6238)
Nhị vị canh cánh bên nhau suốt cả cuộc đời. Nhị vị cùng tòng học với Ngài BÍCH LIÊN ( Bình Định) rồi nhị vị dấn thân ĐEM ĐẠO VÀO ĐỜI , mỗi vị mỗi phong cách, mỗi vị một vị thế khác nhau, nhưng mỗi vị đều trung trinh lý tưởng : Coi việc phụng sự Phật pháp như là việc Nhà ( Hoằng Pháp vi gia vụ ) Nhị vị trọn đời trung trinh “ Thượng cầu Phật Đạo, hạ hóa chúng sanh.
07/05/2024(Xem: 4753)
Hòa Thượng thế danh NGUYỄN HƯỚNG, pháp danh TÂM HOÀN tự GIẢI QUY, hiệu HUỆ LONG, thuộc dòng thiền phái Lâm Tế đời thứ 43. Hòa Thượng sinh ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tý (1924) trong một gia đình môn phong Nho giáo tại làng Phú Thành, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Giòng họ Nguyễn Phúc định cư dưới chân đồi Phốc Lốc tính đến đời Ngài đã trải qua 7 đời.Thân phụ là cụ ông Nguyễn Phúc Trì tự Tung pháp danh Không Đảnh, đích mẫu là cụ bà Trần Thị Kiện mất sớm, thân mẫu là cụ bà Lê Thị Chiếu pháp danh Không Chiêu, ông bà đều là đệ tử quy y với Quốc Sư Phước Huệ trú trì Tổ Đình Thập Tháp Di Đà. Thân phụ Ngài là một Hương chức trong làng, một vị đồ Nho giỏi văn chương thi phú, tín ngưỡng tôn sùng Phật giáo, ông bà sống rất phúc đức nhân hậu với mọi người. Gia đình Hòa Thượng có mười anh em(5 anh em trai, 5 chị em gái) Ngài là con thứ tám. Người anh cả của Hòa Thượng tục danh Nguyễn Cao theo Pháp Sư Phổ Huệ vào Nam, sau đó ở lại định cư lập nghiệp tại Vĩnh Long, người anh th
13/04/2024(Xem: 3582)
Trang nghiêm Đức Trí châu viên Thậm thâm Bát Nhã bên triền KHỔ KHÔNG Hành vô hành hạnh quán thông LỜI VÀNG KINH PHẬT trãi dòng Chân Như Niết bàn tịnh cảnh vô dư Nhập Như lai tạng như NHƯ LAI về Nhân gian mát bóng Bồ Đề Ma ha Bát Nhã quy về diệu âm.