Điếu văn tưởng niệm (GH Úc Châu)

24/08/201317:47(Xem: 22285)
Điếu văn tưởng niệm (GH Úc Châu)
ThichMinhTam

ĐIẾU VĂN
của GHPGVNTN Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi – Tân Tây Lan

tưởng niệm Hòa Thượng Thích Minh Tâm, Chủ tịch HĐĐHGHPGVNTN Âu Châu

Kính bạch giác linh Hòa Thượng,

Từ Úc Châu hướng về Pháp quốc

Thật vô vàn cảm xúc mến thương

Ngài Minh Tâm đãm đương Phật sự

Xã báo thân nguyện dự Tây Phương.

Chỉ còn thời gian ngắn ngủi trước khi cử hành lễ cung tống kim quang Hòa Thượng nhập bảo tháp trong khuôn viên đại tự Khánh Anh tại Evry, chúng tôi được mạn phép thay mặt Hội Đồng Giáo Phẩm, Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTN Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi – Tân Tây Lan, xin có lời tưởng niệm.

Nhớ giác linh xưa, sanh chốn quê nghèo Tuy Phong – Bình Thuận của miền Trung nước Việt, rồi trưởng thành học hành và theo ngành giáo dục; xuất gia từ thuở đồng chơn, vượt bao trở ngại chướng duyên của thời buổi khó khăn, xuất dương Nhật Bản du học cho tới khi hoàn tất bằng tự lực cánh sinh, như kẻ xuất trần khí tiết, chí quyết xông pha. Sống nơi đất Phù Tang, Ngài luôn tích cực phục vụ Giáo Hội quê nhà trong vai trò Chi Bộ Trưởng nhiệm kỳ đầu tiên (1968 – 1973); lại một lần nữa khi đất nước qua phân tìm đường di dân sang Pháp quốc. Dừng chân nơi đất khách xa lạ không ai quen thuộc, nhưng chí hướng sẵn sàng, tấm lòng vì đạo - đời thừa nung đúc, thiết lập đạo tràng Khánh Anh, mở rộng cửa KHÔNG, kết nạp những mảnh đời tỵ nạn rời rạc, bơ vơ mất điểm tựa tinh thần buổi ban đầu bằng các Hội Phật giáo tại khắp các quốc gia trong vùng Âu Châu.

Hòa thượng là mẫu người tận lực

Nơi nào cần sẵn sàng góp sức

Lễ Hội gọi tay nãi lên đường

Không nề khó kể chi sức vóc

Bấy nhiêu đó để người theo học

Hạnh lợi tha bảo học chu toàn

Tâm ngài vững chắc như kim cương

Giữ mối giềng làm gương đại chúng

Quả thật vậy,

Ngài là chất keo bền vững nối kết giữa Tăng Ni Phật tử, giữa đạo và đời đưa về một mối trong ánh đạo vàng từ bi, giải thoát; cương quyết miệt mài Phật sự cho tới giờ phút chót. Bậc nhẫn trí mọi chuyện thị phi đều gác để ngoài tai lo phần hành trọng trách, mặc người chỉ trích chê khen. Trong lúc Giáo Hội Phật Giáo VNTN Hải ngoại do nội ngoại chướng hầu như ngữa nghiêng rả tán, Hòa Thượng là động lực hàng đầu sẵn sàng chung vai thích cánh, đứng mũi chịu sào tìm phương án thích hợp để tự tồn. Nhờ đó năm 2008 thế liên châu có cơ vực dậy, pháp lữ huynh đệ tương trợ lẫn nhau; tổ chức lễ hiệp kỵ lịch đại Tổ sư thông qua ngày Về Nguồn lần thứ hai đến nay lần thứ bảy. Con thuyền Giáo Hội vừa tạm vững thì Ngài lại từ bỏ chúng tôi về Tây Phương diệu vợi.

Ôi thôi!

Hành đạo đời ngũ trược thật khó

Bậc đại sĩ như lá mùa thu

Người ra đi quảy dép Tây du

Kẻ ở lại xuân thu ngậm ngùi!

Nhưng biết sao hơn

Chư pháp lữ gạt lệ chia phôi

Chúc người sớm đáo hồi thế gian

Để tiếp thừa sứ mạng lợi sanh

Mong hạnh nguyện viên thành quang rạng.

Việc ra đi đột ngột của Hòa Thượng là một sự mất mát quá lớn lao đối với Giáo Hội PGVNTN Âu Châu nói riêng, và chung cho toàn Giáo Hội liên châu; nhất là với hàng pháp quyến tứ chúng đại tự Khánh Anh. Lần ra đi vĩnh viễn này, chúng tôi mất một thành viên Hội Đồng Chứng Minh, làm sao tìm lại được mẫu người bình dị, kiên quyết và thẳng thắn của một bậc Thượng sĩ vì Giáo Hội, vì hạnh nguyện lợi sanh của Phật Giáo Việt Nam hải ngoại.

Than ôi!

Giữa tiết hè lòng người se lạnh

Tiễn đưa Ngài thốn chạnh niềm đau

Kể từ đây chia tay vĩnh viễn

Về Khánh Anh lưu luyến ảnh Thầy.

Thế nhưng hành trạng Ngài còn đó, chùa Khánh Anh mái vút vươn cao, và đệ huynh xa gần vẫn còn đây, cho dù thời gian và không gian thay đổi; chí nguyện của Hòa Thượng suốt cuộc đời hiến dâng cho Đạo Pháp và Dân tộc cùng nhân loại chúng sanh vẫn còn sống mãi trong tâm tư của người con Phật, nhất là đạo tình giữa các pháp lữ không hề phai mờ.

Người đi tâm nguyện chưa tròn

Nhắn cùng huynh đệ sắt son giữ gìn

Tông phong tổ ấn lưu truyền

Xuôi miền Cực Lạc pháp thuyền thẳng dong.

htbaolac_doc_dieuvan

HT Bảo Bạc, đại diện Giáo Hội Úc Châu đọc điếu văn tưởng niệm tại Lễ Tang

Hôm nay, trong giờ phút thiêng liêng này chúng tôi một lần nữa thay mặt Giáo hội xin đốt nén tâm hương tưởng niệm và nguyện cầu giác linh Hòa Thượng: bất từ bi nguyện, xả báo thân chứng nhập pháp thân, rời uế độ siêu sanh Tịnh độ, gia hộ cho Giáo Hội liên châu đầy đủ nghị lực, đầy đủ sức gia trì, hòa hợp đoàn kết thương nhau để tiếp tục sứ mạng: sứ giả Như Lai, thừa hành trọng trách hoằng dương giáo pháp Như Lai để đền báo bốn ân trong muôn một.

Linh thứu đạo tràng xưa

Dáng cha lành còn đó

Chẳng quản ngại nắng mưa

Dõi theo gương hạnh Ngài

Cà sa ba cánh mỏng

Tháng ngày nhẹ lâng lâng

Đạo tình xin thiết thân gắn bó

Ân từ phụ công khó khắc ghi

Đông phương bừng lên bao tươi sáng

Đạo pháp soi rạng quyện trời Tây…

Xin kính chúc Hòa Thượng an nhiên tự tại!

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại UĐL – TTL.

(Đọc trong lễ Tang HT Thích Minh Tâm, Chùa Khánh Anh – Pháp Quốc)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/10/2010(Xem: 8876)
Trong Cây Có Hoa Trong Đá Có Lửa Kính Dâng Hòa Thượng Thích Như Điển nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của Ngài và kỷ niệm 40 năm khai sơn Chùa Viên Giác tại Đức Quốc Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng “Trong Cây Có Hoa, Trong Đá Có Lửa” là lời pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên do Hòa Thượng Thích Như Điển nhắc lại trong thời giảng Pháp của Ngài mà tôi đã nghe được khi theo hầu Ngài trong chuyến đi Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ năm 2006. Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) là người Nhật, Ngài sinh năm 1200 và tịch năm 1253, thọ 53 tuổi. Ngài là Sáng Tổ của của Soto-Zen (Thiền Tào Động) của Nhật Bản, và là tác giả bộ sách nổi tiếng “Chánh Pháp Nhãn Tạng” “Ki no naka ni, hana ga aru (Trong cây có hoa), Ishi no naka ni, hi ga aru (Trong đá có lửa)” Đó là pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), được Hòa Thượng Như Điển dịch sang lời Việt. Lời thơ quá tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng dung chứa cả một kho tàng giáo lý về Nhân Duyên Quả của Đạo Phật.
23/10/2010(Xem: 8772)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.
23/10/2010(Xem: 8585)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
23/10/2010(Xem: 8402)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự
23/10/2010(Xem: 7965)
Cư sĩ Mai Thọ Truyền sinh ngày 01-4-1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre trong một gia đình trung lưu. Thuở nhỏ ông được theo học tại trường Sơ học Pháp - Việt Bến Tre, rồi Trung học Mỹ Tho, và Chasseloup Laubat Saigon. Năm 1924, ông thi đậu Thư ký Hành chánh và được bổ đi làm việc tại Sài Gòn, Hà Tiên, Chợ Lớn. Năm 1931, ông thi đậu Tri huyện và đã tùng sự tại Sài Gòn, Trà Vinh, Long Xuyên và Sa Đéc. Hành nhiệm ở đâu cũng tỏ ra liêm khiết, chính trực và đức độ, không xu nịnh cấp trên, hà hiếp dân chúng, nên được quý mến.
23/10/2010(Xem: 12988)
Trong lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam, vương triều Trần (1226-1400) được tôn vinh là triều đại sáng chói nhất thể hiện qua những chiến công hiển hách thắng giặc ngoại xâm cũng như chính sách hộ quốc an dân đã tổng hợp được sức mạnh của toàn dân ta cùng với vua quan trong việc bảo vệ và phát triển đất nước vô cùng tốt đẹp.
23/10/2010(Xem: 21955)
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua, và vài năm sau trở thành một nhà sư và đã để lại một di sản Thiền Tông bây giờ vẫn còn phát triển để trở thành dòng Thiền lớn nhất tại Việt Nam. Ngài tên là Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của Nhà Trần và là vị sáng lập Dòng Thiền Trúc Lâm.
22/10/2010(Xem: 26716)
Vào khoảng các năm 1972–1974, Cố Hòa thượng Thích Trí Thủ, thường được Tăng Ni-Phật tử gọi cung kính gần gũi là “Ôn Già Lam”, đang trong thời gian dài hoằng pháp tại Nha Trang và các tỉnh miền Trung, Ôn tạm an trú trên chùa Hải Đức, nơi có Phật học viện Trung Phần, trên ngọn đồi Trại Thủy. Khoảnh vườn và thềm hiên phía trước tịnh thất của Ôn dần dà trở thành một hoa viên nho nhỏ với nhiều cây cảnh hoa lá đẹp lạ, là nhờ ở bàn tay chăm sóc thương yêu của một vị cao tăng đức độ nhân từ.
22/10/2010(Xem: 9316)
Chuông ngân chùa xẩm nắng Hương quyện áo tràng bay Trăm tám vì sao rạng Xoay tròn đôi 1óng tay Mười phương cây lặng gió Năm sắc hồ trôi mây Làn nước lên đầu núi Ánh vàng tràn đó đây.
21/10/2010(Xem: 10326)
Trong cõi nhân gian mịt mù tăm tối vì vô minh và phiền não, sự xuất hiện của một bậc chân tu đạo hạnh để dìu dắt con người trên đường tìm về giác ngộ và giải thoát, quả thật không khác gì một vì sao sáng trên bầu trời làm định hướng cho lữ hành trong đêm tối. Trong ý nghĩa này, Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn là một vì tinh tú sáng rực.