Điếu Văn Tưởng niệm (TKN Giới Hương)

02/08/201310:25(Xem: 10932)
Điếu Văn Tưởng niệm (TKN Giới Hương)

Suba_HaiTrieuAm_5

ĐIẾU VĂN TƯỞNG NIỆM

Kính Dâng Tôn Sư Hải Triều Âm

Ngưỡng bạch Giác Linh Thầy,

Một sáng Dược Sư bặt tiếng kinh

Hải Triều Âm vọng chợt lặng thinh

Người rời cuộc huyễn về quê cũ

Kẽ lá cành cây thắm đượm tình.

Con ở phương xa nặng trĩu lòng

Thôi còn chi nữa để chờ mong?

Nhặt kỷ niệm xưa đan kết lại

Bóng người lồng lộng giữa sắc không.

Địa linh Bắc Việt, tỉnh Hà-Đông

Pháp-Việt tinh hoa phối hợp dòng

Thị Ni nhập thế, duyên định sẵn

Canh Thân xuất hiện một thần đồng.

Trí tuệ của người sớm nở nhanh

Cần mẫn sớm hôm việc học hành

Đậu Đíp-lô-ma người dạy học

Mồ côi, Dưỡng lão giúp quần sanh.

Tầm sư học đạo gặp duyên lành

Tuệ - Nhuận Pháp Sư giảng Lăng Nghiêm

Lãnh hội nhiệm mầu trong Phật pháp

Nghiên tầm, phân phát tập sách kinh.

Quy Y Tam Bảo thoát mê lầm

Tăng trưởng bồ đề dứt vọng tâm

Pháp Chủ Mật Ứng làm sư phụ

Pháp danh ban tặng Hải Triều Âm.

Mở hội Trưởng Lão, Thanh Thiếu Niên

Dẫn dắt mọi người kết thiện duyên

Tờ báo Bồ-đề công đóng góp

Người dùng bút hiệu Cát-Tường-Lan.

Hai chín (29 tuổi) xuân xanh chí thiết tha

Đến chùa Đồng Đắc xin xuất gia

Đức Nhuận Pháp Sư thương tế độ

Y chỉ thọ giới Tịnh Uyển Sư.

Lãnh giáo vào Nam năm năm tư (1954)

Nhập chúng sinh hoạt chùa Dược Sư

Vừa giảng giải kinh cho Phật tử

Vừa đáp tình thâm, dưỡng mẫu từ.

Cho đến sau khi Mẹ mãn phần

Nhập thất Vạn Đức suốt năm năm

Bảy năm niệm Phật Linh-Quang thất

Hồi hướng phước lành cho Mẫu thân.

Nhân duyên thuần thục về Đại Ninh

Quảng khai phương tiện độ chúng sanh

Tiếp chúng xuất gia tám trăm vị

Dẫn dắt tại gia đến hàng nghìn.

Thành lập Linh Quang với Ni Liên

Liên Hoa, Viên Thông và Lăng Nghiêm

Hương Sen, Dược Sư cùng Bát Nhã

Thâu nhận, độ trì kẻ hữu duyên.

Công trình giáo hóa suốt đêm ngày

Dạy đàn hậu học những điều hay

Chỉ bày thâm yếu, chân diệu pháp

Truyền đăng tục diệm tạo Ni Tài.

Vô trụ Kim Cang dạy lý huyền

Nhất tâm niệm Phật xả vạn duyên

Tứ niệm xứ quán không phóng dật

Phật tánh hiển bày qua Lăng Nghiêm.

A-hàm mưa pháp chuyển não phiền

Hoa Nghiêm tương tức kết vạn duyên

Cặn kẽ truyền trao Bồ Tát Giới

Niết bàn hiển thị tại hiện tiền.

Hải Triều lập nguyện cứu mê tình

Chư Phật Như Lai tác chứng minh

Danh hiệu A-Di-Đà phổ biến

Biển khổ thả thuyền vớt chúng sanh.

Phụng hành thệ nguyện Tứ hoằng thâm

Hoa sen thơm ngát đạo viên thành

Niệm Phật mới mong tiêu tội chướng

Chân thành sẽ tự chuyển tâm phàm.

Giới đức tinh nghiêm tánh từ hòa

Trọn đời phục vụ, hạnh vị tha

Vun xới mầm non cho Đạo Pháp

Chẳng quản ốm đau với tuổi già.

Đạo nghiệp kỳ vĩ khó ai bì

Duyên trần vừa mãn nhẹ bước đi

Con nhằm thuốc đắng cha biệt dạng (1)

Đất trời Đức Trọng chuyển lâm ly.

Tịnh thất từ đây vắng chơ vơ

Hương án lung linh khói nhang mờ

Tùng lâm thạch trụ đâu còn nữa?

Tứ chúng bàng hoàng nhớ Ân Sư.

Giờ phút chia ly ở phương xa

Vọng hướng kim quan chốn quê nhà

Cúi đầu đảnh lễ xin đưa tiễn

Tôn sư minh chứng dạ thiết tha.

Sông núi dẫu mai có chuyển dời

Ân tình thâm trọng chẳng thể vơi

Con nguyện khắc ghi lời dạy bảo

Làm gói hành trang suốt cuộc đời.

Tây phương Phật quốc cửu liên khai

Nguyện vẫn sắt son một bản hoài

Trở lại Ta Bà thương độ chúng

Chèo thuyền Bát Nhã vớt trần ai.

Nam Mô Kim Quang Tháp, Tào Động phái. Ma Ha Tỳ Kheo Ni Bồ Tát Giới pháp huý Hải Triều Âm, Tự Đại Thành, Hiệu Bác Tế Từ Hòa Tôn Sư Thiền Tọa hạ, Trưởng Lão Hòa thượng Ni Ân Sư Giác linh thùy từ chứng giám.

Thành kính khể thủ

Chùa Hương Sen, Hoa Kỳ, ngày 01 Tháng 08 năm 2013

Các Đệ Tử của thầy:

Thích Nữ Giới Hương (Thanh Hương) (Hoa Kỳ),

Thích Nữ Thanh Đức & TN Quảng Phương (Việt Nam),

Thích Nữ Thanh Lương (Hồng Phúc) (Pháp Quốc), và vv…




(1) Nghe tin Cha chết, cho nên các con phải tự lo uống thuốc (Phẩm 16 Như Lai Thọ Lượng, Kinh Pháp Hoa)

Note: Xin xem web http://chuahuongsen.com/Vietnamese/TuongNiemSBHaiTrieuAm.htm

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/11/2010(Xem: 10495)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11217)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 10546)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 15486)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 46879)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 9919)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).
23/10/2010(Xem: 8464)
Trong Cây Có Hoa Trong Đá Có Lửa Kính Dâng Hòa Thượng Thích Như Điển nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của Ngài và kỷ niệm 40 năm khai sơn Chùa Viên Giác tại Đức Quốc Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng “Trong Cây Có Hoa, Trong Đá Có Lửa” là lời pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên do Hòa Thượng Thích Như Điển nhắc lại trong thời giảng Pháp của Ngài mà tôi đã nghe được khi theo hầu Ngài trong chuyến đi Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ năm 2006. Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) là người Nhật, Ngài sinh năm 1200 và tịch năm 1253, thọ 53 tuổi. Ngài là Sáng Tổ của của Soto-Zen (Thiền Tào Động) của Nhật Bản, và là tác giả bộ sách nổi tiếng “Chánh Pháp Nhãn Tạng” “Ki no naka ni, hana ga aru (Trong cây có hoa), Ishi no naka ni, hi ga aru (Trong đá có lửa)” Đó là pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), được Hòa Thượng Như Điển dịch sang lời Việt. Lời thơ quá tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng dung chứa cả một kho tàng giáo lý về Nhân Duyên Quả của Đạo Phật.
23/10/2010(Xem: 8642)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.
23/10/2010(Xem: 8458)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
23/10/2010(Xem: 8294)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự