16. Một Vinh Dự Trong Đời

05/06/201307:55(Xem: 10362)
16. Một Vinh Dự Trong Đời

Đại lễ 50 năm tưởng niệm triân
Bồ Tát Thích Quảng Đức
Chư Thánh Tử Đạo vị phápthiêu thân
Chư Phật Tử vị pháp vong thân
Để cho Phật Giáo được sốngcòn
Để ngọn cờ Phật Giáo đượctiếp tục tung bay
Để Phật Giáo tồn tại đến hômnay
Và truyền lưu đến tận tươnglai
Được tham dự
Đó là một vinh dự
Hãy trân trọng phủ phụcnghiêng mình
Tâm tâm niệm niệm tôn vinh
Như như nhất nhất nghiêm minh
Hòa cùng đại thể cung cung bái bái
Ngọn lửa thiêng bất tuyệt, như Diệu Cao đỉnh núi
Tim Bồ Tát bất tử, như chót ngọn Tu Di
Ân Chư Thánh Tử Đạo, bất khả tư nghì
Đức Chư Thánh Tử Đạo, trùm vô biên xứ
Ngân hà lặng thinh
Xuyến xao vũ trụ
Trăng sao vần vũ
Trầm lắng thái hư
50 năm trước, nửa thế kỷ ư
50 năm sau, lại tròn thế kỷ
Được tham dự
Đó là một vinh dự
Hãy bặt tâm bặt ý
Hãy bặt niệm vô ngôn
Hãy khép mình như cá thể quyện càn khôn
Chứ sao hỏi đứng ở đâu và làm gì trong đó
Nhỏ, thử nhìn hạt bụi li ti cho rõ
Lớn, thiên hà đại địa lọt bũm chân lông
Nhìn xem sắc sắc không không
Hỏi xem có có không không là gì
50 năm, là dấu ấn
Dấu ấn, nửa thế kỷ đi qua
Dấu ấn, 50 năm nhìn lại
Thời nào cũng qua
Thế nào cũng qua
Nhưng
Phật Pháp trường tồn
Pháp luân thường chuyển
Tăng Tín đồ tâm tâm nguyện nguyện
Người con Phật nhất nhất như như
Vô thỉ không dư
Vô chung không thiếu
Ngọn lửa thiêng thường hằng phổ chiếu
Thánh Tử Đạo vĩnh trụ ngưỡng tôn
Lửa thử vàng, vàng thật mới son
Tâm thử sức, tâm như bất hoại
Tri ân tưởng niệm Thánh Tử Đạo
Nếu có hỏi, phải hỏi
Đã đóng góp được gì và làm gì cho trọn
Đã cống hiến được gì và làm gì cho tròn
Chứ sao mang bọt bèo cặn bã phết son
Những hư vinh giả huyễn đẳng đeo phù thế
Hãy khép mình vào cùng đại thể
Hãy hòa cùng đại chúng ngưỡng tôn
Tay chung tay, lòng chung lòng
Tâm hiệp tâm, ý hiệp ý
Chư Thánh Tử Đạo, Tu Di đỉnhnúi
Gương Thánh Tử Đạo, bất tuyệtDiệu Cao
Năm mươi năm trước, rúng độngtrăng sao
Năm mươi năm sau, ngân hà xaoxuyến
Tâm nguyện lực, trùng trùnghóa chuyển
Đại đức ân, thế thế truyềnlưu
Hoa Đàm vĩnh trụ Vô Ưu
Ta Bà kham nhẫn, Phật từ độsanh.
1963 – 2013
T Nhật Tân
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/10/2010(Xem: 8559)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
23/10/2010(Xem: 8391)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự
23/10/2010(Xem: 7959)
Cư sĩ Mai Thọ Truyền sinh ngày 01-4-1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre trong một gia đình trung lưu. Thuở nhỏ ông được theo học tại trường Sơ học Pháp - Việt Bến Tre, rồi Trung học Mỹ Tho, và Chasseloup Laubat Saigon. Năm 1924, ông thi đậu Thư ký Hành chánh và được bổ đi làm việc tại Sài Gòn, Hà Tiên, Chợ Lớn. Năm 1931, ông thi đậu Tri huyện và đã tùng sự tại Sài Gòn, Trà Vinh, Long Xuyên và Sa Đéc. Hành nhiệm ở đâu cũng tỏ ra liêm khiết, chính trực và đức độ, không xu nịnh cấp trên, hà hiếp dân chúng, nên được quý mến.
23/10/2010(Xem: 12969)
Trong lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam, vương triều Trần (1226-1400) được tôn vinh là triều đại sáng chói nhất thể hiện qua những chiến công hiển hách thắng giặc ngoại xâm cũng như chính sách hộ quốc an dân đã tổng hợp được sức mạnh của toàn dân ta cùng với vua quan trong việc bảo vệ và phát triển đất nước vô cùng tốt đẹp.
23/10/2010(Xem: 21909)
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua, và vài năm sau trở thành một nhà sư và đã để lại một di sản Thiền Tông bây giờ vẫn còn phát triển để trở thành dòng Thiền lớn nhất tại Việt Nam. Ngài tên là Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của Nhà Trần và là vị sáng lập Dòng Thiền Trúc Lâm.
22/10/2010(Xem: 26673)
Vào khoảng các năm 1972–1974, Cố Hòa thượng Thích Trí Thủ, thường được Tăng Ni-Phật tử gọi cung kính gần gũi là “Ôn Già Lam”, đang trong thời gian dài hoằng pháp tại Nha Trang và các tỉnh miền Trung, Ôn tạm an trú trên chùa Hải Đức, nơi có Phật học viện Trung Phần, trên ngọn đồi Trại Thủy. Khoảnh vườn và thềm hiên phía trước tịnh thất của Ôn dần dà trở thành một hoa viên nho nhỏ với nhiều cây cảnh hoa lá đẹp lạ, là nhờ ở bàn tay chăm sóc thương yêu của một vị cao tăng đức độ nhân từ.
22/10/2010(Xem: 9225)
Chuông ngân chùa xẩm nắng Hương quyện áo tràng bay Trăm tám vì sao rạng Xoay tròn đôi 1óng tay Mười phương cây lặng gió Năm sắc hồ trôi mây Làn nước lên đầu núi Ánh vàng tràn đó đây.
21/10/2010(Xem: 10275)
Trong cõi nhân gian mịt mù tăm tối vì vô minh và phiền não, sự xuất hiện của một bậc chân tu đạo hạnh để dìu dắt con người trên đường tìm về giác ngộ và giải thoát, quả thật không khác gì một vì sao sáng trên bầu trời làm định hướng cho lữ hành trong đêm tối. Trong ý nghĩa này, Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn là một vì tinh tú sáng rực.
20/10/2010(Xem: 8131)
Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
19/10/2010(Xem: 14710)
Sáng ngày 22.01 Quý Tỵ (03.03.2013) tại Tổ đình Tường Vân, tổ 16, khu vực 5, phường Thủy Xuân, thành phố Huế, Chư Tôn đức Tăng Ni trong sơn môn pháp phái Tường Vân đã đã trang nghiêm trọng thể tổ chức Lễ Tưởng niệm 40 năm ngày Đức Trưởng lão Đệ Nhất Tăng thống Thích Tịnh Khiết viên tịch.