04. Bồ tát hóa thân

06/06/201214:19(Xem: 12310)
04. Bồ tát hóa thân

BỒ TÁT HÓA THÂN

Huệ Trân

Hôm nay, chủ nhật 21 tháng 6 năm 2009, trường Hạ tại Phật Học Viện Quốc Tế, miền Nam California đã sinh hoạt được 6 ngày. Kim đồng hồ tích tắc đã nhích 8640 phút rất đều đặn, không hề nhanh hơn hay chậm đi, nhưng tâm thế gian, do vui hay buồn mà lại cảm thấy thời gian qua nhanh hoặc chậm.

Sáu ngày tại trường Hạ với một trăm năm mươi sáu Chư Tôn Đức Tăng Ni quy hội và hàng ngàn Phật tử khắp nơi tham dự, cùng tu học và luân phiên chấp tác, thể hiện trọn vẹn tinh thần lục hóa nên sáu ngày qua quá nhanh, tưởng như mới chỉ sáu giờ, sáu phút hay sáu giây; vì mỗi sát na nơi đây đều được xông ướp ngũ phần hương, làm rực sáng từng trang kinh ghi lại lời Phật dạy mà mỗi ngày Chư Tôn Đức đều ân cần, tận tụy chuyển đạt qua những giờ pháp thoại, pháp đàm, tụng kinh, kinh hành niệm Phật …

Riêng sáng hôm nay, ba hồi chuông trống Bát Nhã cung nghinh Chư Tôn Đại Lão Hòa Thượng quang lâm chánh điện, không chỉ là âm thanh trầm hùng của chuông, của trống mà âm thanh đó còn bùng lên ánh sáng rực rỡ của Lửa Từ Bi, ngọn lửa từng làm bàng hoàng lương tâm nhân loại bốn mươi sáu năm trước!

Đó là ngọn lửa nhiệm mầu phựt trên pháp thân vị Bồ Tát Vị Pháp Thiêu Thân!

Chúng con dập đầu, năm vóc sát đất, đảnh lễ trước di ảnh cố Hòa Thượng thượng Quảng hạ Đức. Chỉ với ngọn lửa hồng mà Ngài đã thức tỉnh muôn tỷ trái tim nhân loại khắp toàn cầu. Bao sức mạnh của vũ khí, của oai quyền, của mưu toan vùi dập và tiêu diệt Phật giáo Việt Nam thời điểm 1963 đã hoàn toàn sụp đổ khi ngọn lửa Bi Trí Dũng bùng lên:

“Lửa! Lửa cháy ngất tòa sen,

Tám chín phương nhục thể trần tâm hiện thành thơ,

Quỳ cả xuống

Hai vầng sáng rưng rưng

Đông Tây nhòa lệ ngọc

Chắp tay đón một mặt trời mới mọc

Ánh Đạo vàng phơi phới đang bừng lên,

Dâng lên…” (*)

Lành thay!

Lành thay!

Lành thay!

Một vị Bồ Tát đã thị hiện, độ thoát dân tộc Việt Nam vượt qua biển khổ trầm luân. Ngài đã hóa thân làm một vị sa môn, mặc phấn-tảo-y, ôm bình bát, ghé những nơi cùng khổ để nghe cho thấu suốt bao máu lệ của kiếp nhân sinh.

Nếu Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát từng hiện thân hành khất cứu giúp Đại lão Hòa Thượng Hư Vân trên hành trình gian khổ suốt ba năm thực hiện hạnh nguyện Tam Bộ Nhất Bái báo hiếu song thân, thì Bồ Tát Quảng Đức cũng đã đến với dân tộc Việt Nam qua bóng sắc một thầy tu. Tới đúng thời điểm cần độ, vị thầy tu đó đã ngồi xuống trong thế kiết già, giữa ngả đường ngược xuôi uế trược, rồi tự tẩm xăng trên y áo, tự bật lửa, và chắp tay, an nhiên tự tại …

“… Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc,

Lụa hay tre, nào khiến bút ai ghi

Chỗ người ngồi: một thiên thu tuyệt tác

Trong vô hình sáng chói nét từ bi …” (*)

Trưa chủ nhật 21 tháng 6 năm 2009, tại trường Hạ PHVQT, một trăm năm mươi sáu Chư Tôn Đức và hàng ngàn Phật tử đã trang nghiêm kính cẩn làm lễ tưởng niệm Bồ Tát Quảng Đức, vị sứ giả Như Lai đã để lại cho dân tộc Việt Nam, nói chung, và Phật giáo Việt Nam, nói riêng, một trang sử hoành tráng rực Lửa Từ Bi với Trái Tim Bất Diệt.

Huệ Trân

(Tháng 6/2009 – Trường Hạ PHVQT)

(*) Thi phẩm Lửa Từ Bi của Vũ Hoàng Chương

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/06/2011(Xem: 12636)
Trong sáu thập niên qua, TIME đã không ngừng ghi chép lại những vinh quang cùng khổ nhọc của Á châu. Trong số đặc biệt kỷ niệm thường niên hôm nay, chúng tôi muốn bày tỏ lòng kính trọng của mình đến những nhân vật nổi bật đã góp phần vào việc hình thành nên thời đại chúng ta. Những thập niên xáo động nhất của một lục địa đông dân nhất trên trái đất này đã sản sinh ra hàng loạt những nhân vật kiệt xuất. Trong sáu mươi năm qua, kể từ khi TIME bắt đầu cho xuất bản ấn bản Á Châu, chúng tôi đã có cái đặc ân là được gặp gỡ đa số những nhân vật ngoại hạng này –theo dấu cuộc vận động hay trên chiến trường, trong phòng hội hay trong phòng thí nghiệm, tại cơ sở sản xuất hay tại phim trường.
16/06/2011(Xem: 7914)
Tôi có duyên lành gặp được ngài một lần khi ngài đến thăm Hòa thượng chùa Đông Hưng, bổn sư của tôi, cũng là y chỉ sư của Hòa thượng Quảng Thạc, một để tử xuất gia của ngài khi còn ở đất Bắc. Cung cách khiêm cung, ngài cùng Hòa thượng tôi đàm đạo về quá trình tu tập cũng như Phật học, hai ngài đã rất tâm đắc về chí nguyện giải thoát và cùng nhau kết luận một câu nói để đời : “Mục đích tu hành không phải để làm chính trị”. Cũng câu nói này, khi chia tay chư tăng miền Nam, ngài đã phát biểu với hàng pháp lữ Tăng ni đưa tiễn. Khi sưu tập tư liệu về cuộc đời của ngài, tôi may mắn gặp được các bậc tri thức cao đồ của ngài kể lại. Nay, nhân có cuộc hội thảo về phong trào chấn hưng Phật giáo miền Bắc và công hạnh của ngài, tôi xin được góp thêm đôi điều.
14/06/2011(Xem: 9211)
Thiền sư PHÁP THUẬN (Bính Tý 918): Thiền sư đời Tiền Lê, thuộc dòng thiền Tỳ-Ni-Đa-Lưu Chi, không rõ gốc gác quê quán và tên thật, chỉ biết rằng Sư họ Đỗ, xuất gia từ thuở nhỏ ở chùa Cổ Sơn (Thanh Hóa), sau theo học đạo Thiền sư Phù Trì ở chùa Long Thọ, nổi tiếng là uyên thâm đức độ. Tương truyền rằng chính Sư đã dùng nghệ thuật phù sấm, làm cố vấn giúp vua Lê Đại Hành nắm quyền bính, dẹp yên được hỗn loạn trong triều cuối đời nhà Đinh, được vua Lê vô cùng trọng vọng. Năm 990 niên hiệu Hưng Thống thứ 2, Sư không bệnh mà viên tịch, thọ 76 tuổi, để lại cho đời các tác phẩm: “Bồ Tát sám hối văn”, “Thơ tiếp Lý Giác”, và một bài kệ.
14/06/2011(Xem: 9239)
• Thiền sư Chân Không(Bính Tuất -1046): Sư họVương, thế danh Hải Thiềm, quê quán ở làng Phù Đổng (nay là Tiên Sơn-Bắc Ninh), xuất thân trong một gia đình quý tộc. Lúc thân mẫu của ông mang thai, cha ông nằm mộng thấy một vị tăng Ấn Độ trao cho cây tích trượng, sau đó thì ông ra đời. Mồ côi cha mẹ từ thuở niên thiếu, ông siêng chăm đọc sách không màng đến những chuyện vui chơi. Năm 20 tuổi ông xuất gia, rồi đi ngao du khắp nơi để tìm nơi tu học Phật Pháp. Nhân duyên đưa đẩy cho Sư đến chùa Tĩnh Lự ở núi Đông Cứu (Gia Lương-Hà Bắc), nghe Thiền sư Thảo Nhất giảng kinh Pháp Hoa mà ngộ đạo, được nhận làm đệ tử, sớm tối tham cứu thiền học, và được sư thầy truyền tâm ấn, thuộc dòng thiền Tì-ni-đa Lưu -chi, thế hệ thứ 16. Sau, Sư lên núi Phả Lại, trại Phù Lan (nay thuộc huyện Mỹ Văn-Hưng Yên) làm trụ trì chùa Chúc Thánh, ở suốt 20 năm không xuống núi để chuyên trì giới luật, tiếng thơm đồn xa đến cả tai vua.
13/06/2011(Xem: 18578)
Ôi, trong giáo pháp Phật đà của ta, việc trọng đại nhất là gì ? Con người sinh ra không từ cửa tử mà đến, chết không vào cửa tử mà đi. Thế nên người nằm non ở tổ, bỏ ngủ quên ăn, chẳng tiếc thân mạng, đều vì việc lớn sinh tử. Ở thời giáo suy pháp mạt này mà có người vì việc lớn sinh tử như Hòa thượng Liễu Quán, thật là hy hữu.
05/06/2011(Xem: 18573)
Ngôi chùa nhỏ nằm khiêm tốn trong khoảng đất rộng đầy cây trái. Buổi tối, mùi nhang tỏa ra từ chánh điện hòa với mùi thơm trái chín đâu đó trong vườn.
01/06/2011(Xem: 9522)
Cuộc đời và sự nghiệp của Khương Tăng Hội, ta hiểu biết qua hai bản tiểu sử xưa nhất, một của Tăng Hựu (446 - 511) trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 96a29-97a 17 và một của Huệ Hạo trong Cao Tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 325a13-326b13. Bản của Huệ Hạo thực ra là một sao bản của bản Tăng Hựu với hai thêm thắt. Đó là việc nhét tiểu sử của Chi Khiêm ở đoạn đầu và việc ghi ảnh hưởng của Khương Tăng Hội đối với Tô Tuấn và Tôn Xước ở đoạn sau, cùng lời bình về sai sót của một số tư liệu. Việc nhét thêm tiểu sử của Chi Khiêm xuất phát từ yêu cầu phải ghi lại cuộc đời đóng góp to lớn của Khiên đối với lịch sử truyền bá Phật giáo của Trung Quốc, nhưng vì Khiêm là một cư sĩ và Cao Tăng truyện vốn chỉ ghi chép về các Cao Tăng, nên không thể dành riêng ra một mục, như Tăng Hựu đã làm trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 97b13-c18, cho Khiêm.
31/05/2011(Xem: 27610)
Quy ẩn, thế thôi ! (Viết để thương một vị Thầy, mỗi lần gặp nhau thường nói “mình có bạn rồi” dù chỉtrong một thời gian rất ngắn. Khi Thầy và tôi cách biệt, thỉnh thoảng còn gọi điệnthoại thăm nhau) Hôm nay Thầy đã đi rồi Sắc không hai nẻo xa xôi muôn ngàn Ai đem lay ánh trăng vàng Để cho bóng nguyệt nhẹ nhàng lung linh Vô thường khép mở tử sinh Rong chơi phù thế bóng hình bụi bay Bảo rằng, bản thể xưa nay Chơn như hằng viễn tỏ bày mà chi
27/05/2011(Xem: 12965)
Vào năm 247, một vài năm sau khi Chi Khiêm rời khỏi kinh đô Kiến Nghiệp, Khương Tăng Hội, một vị cao tăng gốc miền Trung Á, đã đến đây. Ngài đến từ Giao Chỉ, thủ phủ của Giao Châu ở miền cực Nam của đế quốc Trung Hoa (gần Hà nội ngày nay). Gia đình của Ngài đã sinh sống ở Ấn độ trải qua nhiều thế hệ; thân phụ của Ngài, một thương gia, đến định cư ở thành phố thương mại quan trọng này.
25/05/2011(Xem: 7263)
Đại lão Hòa Thượng Thích Đồng Huy HT. Thích Đồng Huy - Thành viên HĐCM, Ủy viên HĐTSTW GHPGVN, Trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Trưởng ban Quản trị Đại Tòng Lâm, Viện chủ Tu viện Vạn Hạnh.