Sư Ông trong lòng chúng con

05/08/201114:29(Xem: 8207)
Sư Ông trong lòng chúng con

“Sư Ông trong lòng chúng con”


Kính bạch Sư Ông,
Trước Giác Linh của Sư Ông, chúng con nghẹn ngào không biết nói sao cho hết niềm thương kính người!
Sư Ông là người Thầy kính yêu đã thương yêu và bảo bọc anh chị em GĐPT chúng con trong suốt 10 năm qua. Tình thương của Sư Ông đã đến với chúng con từ những ngày chúng con còn lang thang ngoài công viên, rồi đến ngày chùa thành hình và chúng con được về nương tựa ngôi Tam Bảo. Từ một bãi đậu xe xiêu vẹo, Sư Ông đã từ từ biến nó thành một đòan quán ấm cúng cho chúng con hôm nay. Tình thương của Sư Ông rất chất phát và đơn giản, nhưng rất đậm đà và hiếm quý. Chúng con nhớ đến những đêm giao thừa, Sư Ông luôn ra nhắc nhở chúng con đã đến giờ Lễ Phật đêm giao thừa để vun bồi công đức hạnh trong cái tâm hồn trẻ. Văn nghệ múa Lân, tụng kinh giao thừa xong là đến giờ lãnh lộc. Sư Ông chúng con nổi tiếng là lì xì “tiền tươi”. Chúng con xếp hàng trong chánh điện hớn hở nhìn Sư Ông tươi cười phát lì xì với những tờ $1 mới. Nghịch ngợm, chúng con lại trốn vào xếp hàng lần thứ 2, Sư Ông biết nhưng vẫn vui vẻ lì xì chúng con một lần nữa, và chỉ xoa đầu nói “mi lãnh rồi phải không!” Chùa Phổ Đà tuy nhỏ nhưng thật là ấm cúng!


Điều mà chúng con nhớ nhất về Sư Ông là sự khiêm cung và đơn giản của người. Sư Ông là người Việt Namnhưng lại rất đúng giờ. Chúng con đều biết đi Lễ ở chùa Phổ Đà thì không thể đi trễ vì Sư Ông luôn hành lễ rất đúng giờ! Trong tất cả các buổi lễ lớn của chùa, Sư Ông cũng chỉ đơn giản một bộ y vàng cũ với cây gậy đi khắp chùa, gieo duyên với tất cả đàn con: già, trẻ, lớn, bé qua những câu nói tiếp xúc gần gũi. Sư Ông dù là trụ trì hay Đại Lão Hòa Thượng, nhưng người không bao giờ đặt mình vào những chỗ nổi bật. Ngay cả Lễ Khánh Thọ của Sư Ông mà chúng con còn tưởng rằng là Lễ chúc thọ của một Hòa Thượng khác, vì Sư Ông đã nhường chỗ và ngồi ngoài bìa của sân khấu!
Nay Sư Ông đi rồi, còn ai lì xì chúng con khi xuân về, còn ai thưởng cho chúng con sau mỗi lần văn nghệ cúng dường dù hay hay dở, còn ai đi quanh chùa vui dạy chúng con những câu nói đơn giản nhưng đầy đạo vị.
Sư Ông ơi! Đàn con sau này rồi sẽ ra sao? Sư Ông xa chúng con rồi, nhưng tình thương của Sư Ông vẫn sống mãi trong lòng chúng con!
Các con - GĐPT Phổ Đà

NamMô A Di Đà Phật
We are here today to mourn the death of our master or as we are known to call him thầy. we have come to show love and respect to thầy. he was always my favorite monk. I remember that when I was a little girl he would walk pass me and I would bow down and say “Nam Mô A Di Đà Phật”. and he would say that I’m a good girl and would pat me gently on my head. But now seeing him in a casket makes me really sad because I won’t get to see him walking pass by anymore.
I wish that your eternal life is filled with happiness in Buddha’s world.
NamMô A Di Đà Phật.
Tina Nguyễn


NAMMÔ A DI ĐÀ PHẬT
Hôm nay chúng con về đây để tưởng niệm Sư Ông của chúng con, người mà hàng ngày chúng con thường gọi là “Thầy”.
Chúng con đến đây để tỏ lòng thương mến và lòng tôn kính đến Sư Ông. Ngài là người mà con luôn thương mến và kính trọng.
Con nhớ từ khi còn nhỏ, mỗi khi gặp Sư Ông, con chắp tay và cửa miệng niệm Nam Mô A Di Đà Phật.
Mỗi lần như vậy, Sư Ông luôn xoa đầu và khen con ngoan.
Đứng trước Kim Quan Sư Ông hôm nay, lòng con vô cùng xúc động vì từ nay, hình bóng Sư Ông không còn dạo quanh sân chùa để con được chắp tay xá, Nam Mô A Di Đà Phật.
Con cầu chúc Sư Ông mãi an vui bên Chư Phật.
NamMô A Di Đà Phật.
Tina Nguyen

GĐPT Phổ Đà đọc trong lễ thọ tang và tưởng niệm tối ngày 3 tháng 8

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/12/2010(Xem: 10926)
Hòa thượng Thích Quảng Thiệp (1928-1998)
25/11/2010(Xem: 38020)
Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Đây là 43 công án Vua đưa ra để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia. Thầy Làng Mai đã dịch những công án này ra tiếng Việt và tiếng Pháp năm 1968. Bản dịch tiếng Pháp xin xem ở phần phụ lục cuốn Clé Pour Le Zen, tác giả Nhất Hạnh, do nhà xuất bản JC Lattes ấn hành. Bản Hán Việt có trong Thơ Văn Lý Trần quyển II (Quyển thượng, trang 108-121), NXB Khoa Học Xã Hội.
24/11/2010(Xem: 15654)
Tiểu sử nhà văn Quách Tấn
15/11/2010(Xem: 10742)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11503)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 11099)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 17703)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 49360)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 10192)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).