6. Bổn sư Thiện Thọ

05/06/201112:01(Xem: 10352)
6. Bổn sư Thiện Thọ

BÓNG ÁO NÂU
TẬP SÁCH VỀ CUỘC ĐỜI THƯỢNG TỌA THÍCH CHƠN THANH

Phần II: Truyện ký Bóng áo nâu
Đồng tác giả:
Thu Nguyệt - Đỗ Thiền Đăng - Thiện Bảo

Bổn sư Thiện Thọ

Thầy là người quê Đồng Tháp. Xuất gia năm bảy tuổi. Người dong dỏng cao, gầy gò, gương mặt nghiêm trang, cương nghị. Thầy chủ trương thu đệ tử là những chú nhỏ cùng quê để dễ hiểu tính tình, dễ thông cảm, dạy dỗ. Thầy dạy đệ tử rất nghiêm. Từng cách đi dáng đứng, từng cử chỉ oai nghi đều được thầy chi li giảng giải và áp dụng thực hành nghiêm nhặt, sai là phạt không nương tay. Thầy dạy kỹ càng từ việc nhỏ đến việc lớn, từng động tác tụng kinh, gõ mõ: khi đánh mõ lắc tay ra sao cho tiếng kêu chắc gọn, dứt khoác; đánh chuông thế nào cho tiếng ngân vang xa mà chuông không bị lắc lư. Ở tuổi ăn tuổi ngủ, tuổi hồn nhiên vô tư, các chú điệu đánh mõ mà để mõ “đi” khỏi tầm tay, dùi gõ xuống nền gạch là chuyện bình thường; chuông nhỏ nhỏ thì đánh lật cả chuông là chuyện không lạ. Thầy thường đem những trường hợp như vậy ra “rao” trước, ai phạm phải sẽ bị hình phạt như thế nào. Bao giờ cũng vậy, khi dạy đệ tử, thầy luôn dẫn chứng những tình huống có thể xảy ra để học trò biết và tránh trước. Cách dạy dỗ của thầy sâu sát chi li, thực tế. Thầy không quản khó nhọc. Có lần, thầy gập người, chịu cho muỗi cắn, núp cả dưới gầm bệ Phật nghe đệ tử tụng kinh, để xem khi không có mặt thầy, các đệ tử có đọc tụng rõ ràng không. Thầy lắng nghe rất kỹ, ai đọc sai, đọc lệch, đọc lướt một chữ là thầy đều biết. Sau buổi tụng kinh, ai phát âm không chính xác từ nào, thầy bắt đứng đọc lại hoài mỗi chữ năm phút. Thầy rất thẳng tính, nghiêm khắc. Sai đâu là sửa đó liền, không cho qua, dễ dãi. Ở chùa, ngày thường thầy không để phật tử vào chùa nấu cơm. Mấy chú thay nhau làm trị nhật. Khi mấy chú bận học, thầy đích thân xuống bếp nấu cho cả chùa ăn. Đối với mấy chú điệu, thầy phân công một chú phụ trách phần ghi chép báo cáo tất cả những “hoạt động” của các “tiểu hòa thượng”. Người ghi báo cáo mà ghi không đủ, giấu diếm là bị phạt nặng. Ghi người, không ghi mình bị phạt còn nặng hơn. Chơn Hậu là người được thầy chỉ định cho công việc ghi chép báo cáo. Dẫu rất sợ thầy, sợ bị phạt nhưng lứa tuổi mà ngoài đời gọi là “nhất quỉ nhì ma...” thì có hình phạt nào ngăn cản được dài lâu những trò tinh nghịch. Chơn Hậu không hề vì “địa vị” của mình mà kém nhiệt tình với các trò chơi, chú cũng bày trò không kém ai. Do vậy, đôi khi ghi chép cũng biết “châm chước”, biết “quên” những chi tiết không nhớ xuể. Vì thế nên thầy “anh minh” phái thêm một “đạo hữu” ngoài chùa, đó là thằng bé Quân trong xóm. Tên điệp viên này rất lợi hại. Sau một trò chơi có nó tham gia, nếu nó hài lòng thì thôi, nếu các chú ỷ đông, phe nhà...chùa có ăn gian chút đỉnh thì y như rằng sau khi “tòa” xử, nó còn khiếu kiện bổ sung. Không bao giờ thầy thưởng kẹo bánh cho nó ngay sau khi nó méc, sau đó vài ngày thầy mới kêu nó lại cho. Thầy làm như vậy là có chủ ý, thầy không thưởng cho nó vì chuyện mách lẻo, mà “trả lương” cho nó vì công tác làm gián điệp. Thầy không dạy dỗ ra miệng, nhưng trong mỗi hành xử, thầy đều có hàm ý giáo dục. Cách mách lẻo của thằng Quân cũng rất đặc biệt. Thường là nó lựa khi thầy đang nằm trên võng, nó mon men lại nằm phía dưới bộ ván, đưa võng nhè nhẹ cho thầy. Cái bàn tay nhem nhuốc đất cát của nó ban đầu thì nắm đầu võng chỗ chân thầy, sau vài lượt đưa, bàn tay nó lần lần nắm xuống gần chân thầy hơn, cho đến khi đụng chân thầy thì nó khều nhẹ nhẹ vào ngón cái rồi bắt đầu ngồi dậy nói, bao giờ cũng điệp khúc câu hỏi lung khởi mào đầu: “Thầy, thầy biết... tại sao... ai... cái đó?...” Những chi tiết bổ sung của nó đều được thầy thẩm tra và ghi vào cáo trạng, lần sau tái phạm là giở “tiền án” ra mà nghị tội cộng thêm vô. Có lần, sau khi sư huynh Chơn An kể chuyện Tề Thiên, như thường lệ, cả đám liền tổ chức một phái đoàn đi thỉnh kinh. Chơn Đạt và Chơn Tâm nhỏ nhứt đám, lần nào cả đám bày trò chơi thì hai chú cũng bị phân công canh gác, thấy thầy về tới là báo động. Cũng có hôm Chơn Thanh tự nguyện gát thay để hai chú nhỏ có dịp được chơi. Hôm ấy hai chú “biểu tình” đòi chơi, nhưng không ai chịu ra gác thay, Chơn Thanh mắc làm Tam Tạng, không thể đi gác thay cho hai chú. Vai Tam tạng không ai đóng được vì tiêu chuẩn “tư cách đạo đức” gắt gao, chỉ có Chơn Thanh là được mọi người tạm hài lòng đồng ý cho làm Tam Tạng bởi tính tình chú rất nhu hòa,hiền lành, lại thông minh học giỏi, không bao giờ gây gổ bạn bè. Chú lại là người đạt danh hiệu người có thân hình “sạch sẽ” nhất (ít có lằn roi dọc roi ngang) nên đóng Tam Tạng là oai nghi nhất. Hôm đó Chơn Đạt và Chơn Tâm phụng phịu ra gác, hai chú tức mình, tự đóng làm yêu quái với Tề Thiên. Tề Thiên rượt yêu quái chạy xa tuốt trong xóm, quên luôn nhiệm vụ canh gác. Thầy về, không ai báo động, cả đám vãn hát không kịp, bị bắt tại trận đang như đám giặc chòm inh ỏi cả chùa. Thế là thiết bảng của Tề Thiên quay lại đánh luôn cả Tề Thiên. “Hậu Tây Du” kết thúc, cả đoàn đi Tây Trúc - dù xuất thân Đại Đường nhưng đều trở thành “Đại Mông” (sưng đít) hết! Vậy mà thằng Quân còn chưa hả dạ, mấy lần trước chơi trò này nó luôn bị phân vai đóng tiểu yêu, ma quỉ, đối tượng để Tề Thiên đánh đấm tha hồ. Đôi khi nó “bức xúc” quá, nổi loạn xin đổi vai đóng làm Tam Tạng, được cỡi ngựa một chút, nhưng mấy chú cắc cớ bảo nó phải cạo đầu thì mới cho làm. Nó ức lắm, ôm mối căm hờn nhưng không thể méc thầy vì nó vẫn muốn duy trì trò chơi, dẫu toàn bị đóng vai chịu đòn nhưng ít ra thỉnh thoảng cũng phản công ngoài lề được vài cái, đỡ hơn lộ ra, thầy không cho chơi nữa thì cũng buồn. Lần này lộ rồi, nó thả giàn luôn, chuyến này cho thầy quánh cả đám một trận “tốc xả mê đồ” luôn! Nó chờ thầy lên nằm trên võng, liền bắt đầu điệp khúc:

- Thầy, thầy... thầy có thấy cái Y của thầy bị dơ không?

- Đâu? Sao vậy? – thầy bật ngồi dậy hỏi.

Hồi nảy... - thằng Quân nhìn trước nhìn sau, chợt nó thấy sư huynh Chơn An vừa bưng thuốc vô cho thầy, nó khôn ngoan lấp liếm, nói lớn: - Hồi nảy sư huynh có la rồi, chú Chơn Hậu đem vô trả lại mà làm rớt xuống đất, chỗ gần lu nước nên bị dơ...

Sư huynh Chơn An nghe vậy, vội nói đỡ:

- Dạ, thưa thầy, hồi nảy mấy chú có lấy Y của thầy ra để làm cà sa cho Tam Tạng, nhưng vừa lấy ra, con thấy, đã rầy mấy chú rồi, Mấy chú sợ lắm, đem vô trả lại nhưng lỡ tay làm rớt nên bị dơ chút xíu, con định lát nữa sẽ đem giặt...

Thầy nóng nảy quát:

- Hết biết tụi con rồi! Dám đem Y của thầy ra mà chơi. Kêu hết mấy đứa vô đây!

Chơn An quay qua liếc thằng Quân, nó lấm lét tụt xuống khỏi bộ ván chạy ù về nhà. Mấy lần trước, sau khi báo cáo thành tích gián điệp, nó thường được thầy nhìn và gật đầu: “ừa,ừa..” rồi biểu nó đi chơi đi, vậy thôi, thầy ghi sổ đó, lần sau mới cộng tội. Thầy rất khéo trong việc “dùng người”, thầy biết tánh trẻ con mau quên, thầy không muốn cho nó cũng như cả mấy chú thấy được “hậu quả” của việc nó mách lẻo, để không ai giận nó, nhờ vậy nên nó mới còn cơ hội chơi chung với “quân ta” mà tiếp tục hành nghề. Thế mà không hiểu sao lần này thầy giận dữ vậy. Nó hối hận quá, vừa chạy vừa lo.

- Thầy ơi, thầy uống thuốc đi rồi hãy nói...

Chơn An bưng chén thuốc Bắc lên, hai tay đưa cho thầy. Thầy bị bệnh tim và bệnh gan nên tính dễ xúc động và nóng nảy. Biết là chuyện nghiêm trọng nên Chơn An lo lắm, sợ mấy chú nhỏ lại bị đòn nặng.

- Các con nghe cho kỹ đây – Thầy bắt đầu nói khi cả đám xếp hàng quì gối vòng tay trước mặt thầy – Y Hậu không phải là cái có thể đem ra chơi được. Y Hậu là vật góp phần làm nên oai nghi của một thầy tu. Chỉ được đắp y khi hành lễ trước Phật, trước Bồ Tát. Tăng chúng đi đâu xa chùa qua đêm phải đem theo Y Hậu, đó là vật rất quan trọng trong đời sống Tăng Già....

Thầy nói nhiều, nhiều lắm nhưng các chú không thể nhớ hết, chỉ lơ mơ hiểu rằng đó là điều rất quan trọng. Tự dưng chưa bị đánh mà theo từng lời nói của thầy, cả đám cùng khóc hết. Có lẽ nhìn những gương mặt non nớt đang tỏ ra lo sợ, hối hận thực sự, dù chưa hiểu hết nhưng cũng ý thức được lỗi lầm của mình, thầy cảm thấy nguôi giận. Cả đám được tha sau khi lên chánh điện lễ lạy sám hối thành khẩn.

Thầy là vậy. Rất nghiêm khắc nhưng tất cả cũng vì muốn đệ tử trưởng thành, Mỗi lần sau khi mấy chú bị đòn đau, thầy thường cho kẹo bánh, hoặc đích thân xuống bếp nấu nướng, làm bánh cho cả chùa ăn. Thương yêu nhưng không nuông chiều, Phương pháp dạy dỗ của thầy có phần hơi nặng nhưng thầy nói: làm người tu phải kinh qua gian khổ, phải tập tính kiên nhẫn, chịu đựng. Cũng như con cá chép, muốn vượt vũ môn hóa rồng phải qua bao gian nan, thân thể gầy ốm nhưng chắc khoẻ mới tung mình nhảy nổi, con cá mập mạp lừ đừ nuôi trong chậu cảnh không thể làm nào làm được việc gì! Cả chùa đứa nào đứa nấy ốm nhom, mỗi lần chuẩn bị dẫn các chú về thăm gia đình là trước đó cả tháng thầy mua thuốc “Đại bổ ngũ tạng tinh” của nhà thuốc La Vạn Linh cho cả đàn nhóc uống, “tân trang” chu đáo trước khi cho về. Sắp về thăm nhà, đứa nào cũng cố gắng ngoan, không dám nghịch phá, vì hễ phá, bị phạt đánh đòn có dấu roi là thầy không cho về, sợ người nhà thấy, xót ruột. Thầy nói: Người đời không thấu lẽ thiệt hơn, dễ nhìn hình thức mà xét nội dung, thầy không lừa dối gia đình các con nhưng các con muốn trở thành một thầy tu tốt thì không thể giáo dục theo kiểu gia đình được. Đại chúng không thể hiểu như một đại gia đình. Đại gia đình tuy cùng chung tổ tiên giòng tộc, nhưng cái tôi được tôn trọng, mỗi người một chí hướng, một mục tiêu phấn đấu, quan niệm sống khác nhau. Đại chúng thì ngược lại: cái tôi phải biến mất, tất cả cùng chung một chí hướng, một mục tiêu tu hành, một cách sống như nhau. Đại gia đình một trăm người là một trăm người, không ai đại diện cho ai được. Đại chúng trăm người là một, một là một trăm. Tóm lại, hai từ “xuất gia” mang ý nghĩa vô cùng sâu xa là vậy. Không thể đem tiêu chuẩn dạy dỗ kiểu gia đình áp dụng vào nhà chùa được. Do vậy, các bậc cha mẹ thương con thiếu trí tuệ sẽ không hiểu được cách dạy dỗ của thầy, sẽ phiền trách, làm chao đảo tâm các con, vì thế, có những chuyện riêng tư ở chùa tuyệt đối không đứa nào được kể lại cho gia đình biết.

Thầy chuẩn bị, làm công tác tư tưởng và dặn dò kỹ lưỡng như thế mỗi lần đưa đệ tử về thăm nhà. Các chú cũng rất ngoan, rất quí thương thầy, và có lẽ trên hết là cái duyên với đạo khiến những cánh chim non nớt ấy vẫn chập chững bay lên cho đến ngày có thể sải cánh tự tin trên bầu trời cao rộng.

Khi các chú lớn lên, đi học ở chùa Phổ Quang, mỗi lần về thăm chùa, thăm bổn sư là thầy hỏi han rất kỹ việc học tập. Học đến đâu, học thế nào, học những gì? Có điều gì chưa rõ, trình kiến giải thầy nghe để kịp thời chỉnh lý. Rồi thầy đứng ra tổ chức những buổi thực tập diễn giảng cho mấy chú thực tập dạy thử, tổ chức rất chu đáo chớ không qua loa. Thầy quan tâm dõi theo từng bước trưởng thành của đệ tử, kịp thời uốn nắn ngay những biểu hiện sai lệch. Khích lệ, động viên, mở lối cho những ước mơ làm tốt đạo đẹp đời. Lúc còn nhỏ, thầy nghiêm khắc dạy dỗ cứng rắn là thế, nhưng khi lớn lên thầy lại nhẹ nhàng thân cận gần gũi, khiến đệ tử nào khi có vấn đề gì cũng tâm sự, giải trình với thầy. Thầy chia sẻ với đệ tử tất cả tâm nguyện của mình và đặt hết kỳ vọng vào đệ tử.

Sau này, khi thầy sắp tịch, thầy gọi tất cả đệ tử về. Dù thân mang trọng bệnh, thầy cũng ráng cho người dìu ra chánh điện, để được tận mắt lần cuối nhìn thấy hàng đệ tử của mình Y Hậu nghiêm trang tụng kinh lễ Phật. Thầy khẻ nở nụ cười nhìn các đệ tử giờ đã trưởng thành. Thầy tin chắc rằng trong đội ngũ ấy, rồi sẽ có người không phụ công dạy dỗ của thầy, tiếp tục thay thầy hoằng dương chánh pháp.

An cư kiết hạ

nguồn sinh lực của tăng già

An cư kiết hạ là một thông lệ từ lâu của các đạo sĩ Ấn Độ khi tăng đoàn Phật giáo hãy còn chưa xuất hiện. Thời tiết Ấn Độ có vẻ khác hơn Việt Nam hay Trung Quốc cũng như các quốc gia khác: Từ tháng một đến tháng tư là mùa xuân, từ tháng chín đến tháng mười hai là mùa đông. Ấn Độ không có mùa thu. Một năm chia làm ba mùa rõ rệt như thế, nên các đạo sĩ qui định vào những tháng mưa gió nên an trú một nơi nhất định để bảo tồn sức khoẻ và tăng cường đạo lực. Giáo đoàn Phật giáo hợp thức hoá thông lệ này bắt đầu từ Lục quần Tỳ kheo (sáu thầy tỳ kheo chuyên gia khai duyên cho Phật chế giới). Suốt mấy tháng mùa mưa, nhóm sáu thầy tỳ kheo này lang thang du hoá khắp nơi không kể gì mưa gió, đạp dẫm lên hoa cỏ mùa màng mới đâm chồi hay những loài côn trùng vừa sanh nở. Cư sĩ chê trách hàng sa môn Thích tử thật quá đáng, các đạo sĩ khác vẫn có những tháng sống cố định, ngay đến loài cầm thú vẫn có mùa trú ẩn của nó, còn các vị hành đạo này thì luông tuồng không biết nghỉ chân vào mùa nào cả. Lúc ấy, đức Phật ở tại nước Xá Vệ, trong thành Cấp Cô Độc, biết được sự việc xảy ra liền ban hành quyết định cấm túc an cư cho toàn thể tăng đoàn trong các tháng đầu mùa mưa, tức từ mồng một trăng tròn của tháng A-sa-đà đến hết trăng tròn của tháng A-thấp-phược-đê-xà (Theo ngài Huyền Trang là nhằm 16 tháng 5 của Trung Quốc, sau vì muốn lấy ngày rằm tháng bảy Vu Lan làm ngày Tự tứ nên chọn ngày An cư là 16 tháng 4). Phật giáo Việt Nam cũng tuân theo nguyên tắc này nhưng thời gian có khác một chút. Nghĩa là thời tiết Việt Nam tuy thể hiện rõ rệt chỉ có hai mùa nắng và mùa mưa, nhưng vẫn qui định theo bốn mùa như Trung Quốc: xuân, hạ, thu, đông. Như vậy thời điểm để tu sĩ Phật giáo Việt Nam an cư là bắt đầu từ ngày rằm tháng 4 đến rằm tháng 7 (mùa hạ), đó gọi là tiền an cư. Hậu an cư là dành cho trường hợp đặc biệt, có duyên sự khẩn thiết thì có thể bắt đầu an cư từ 17 - 4 cho đến 17 - 5, và kết thúc dĩ nhiên cũng phải đủ 90 ngày như tiền an cư (cùng làm lễ Tự tứ, nhưng phải ở lại cho đủ số ngày). Riêng hệ phái Nguyên Thuỷ chọn thời điểm kiết hạ vào ngày rằm tháng 6 cho đến ngày rằm tháng 9. Tuỳ theo quốc độ, địa phương mà có những mùa an cư không hoàn toàn giống nhau, ở Việt Nam, một vài nơi còn có thêm kiết đông bắt đầu từ rằm tháng 9 đến rằm tháng 12 là dựa theo tinh thần của Luật Bồ Tát.

Vì sao lại phát sinnh thêm kiết đông thay vì chỉ có kiết hạ? Có phải an cư là thời gian để tăng già tích luỹ nguốn sinh lực hay không?

Hàng xuất gia trong giáo đoàn Phật giáo bao giờ cũng tâm niệm hai nhiệm vụ cần phải sớm thành tựu: thượng cầu Phật đạo và hạ hóa chúng sanh. Song lộ trình tiến đến quả vị Phật hay Thánh quả thật gian truân cách trở, không phải là vấn đề một sớm một chiều hay một kiếp. Vì vậy việc tự lợi là một nhu cầu cần thiết cho bất cứ một hành giả nào còn vương mang pháp hữu lậu, chưa có phần dự vào dòng Thánh. Nếu như thời gian dành cho việc đi lại bên ngoài quá nhiều, mà căn bản phiền não vẫn còn sâu kín bên trong thì kết quả hoàn toàn sai với tinh thần hóa độ của đức Phật. Người bị trói tất nhiên không bao giờ cởi trói được cho người khác. Người có thật nhiều hạnh phúc, vượt lên trên những khổ đau triền phược mới có thể đưa người ra khỏi dòng tục bến mê. Hóa độ thì xem như chia phần, bớt đi. Mặc dù một ngọn đèn có thể thắp sáng hàng trăm nghìn ngọn đèn khác. Song một khi ngọn đèn ra trước gió, thì sự an nguy cũng giống như một người hành đạo chưa liễu đạo mà phải đương đầu với ngũ dục trần lao. Thế mới biết, an cư là thời gian quý báu để người tu hành có điều kiện nhìn lại chính mình, soi thấu bệnh tật phiền não hoặc mới huân tập hoặc lâu đời mà đoạn trừ, trị liệu. Ngoài ra việc tránh ngộ sát côn trùng hay không ảnh hưởng mùa màng của người thế tục cũng là một duyên cớ để trưởng dưỡng lòng từ bi. Song lý do trước mới là tinh thần chính yếu của việc cấm túc an cư.

Bộ Luật Tư Trì Ký định nghĩa: Lập tâm một chỗ gọi là Kiết; bộ Nghiệp Sớ định nghĩa: Thu thúc thân vào chỗ tịch tĩnh gọi là An. Như vậy dù kiết hạ hay kiết đông an cư thì mục đích chính vẫn là thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức. Tỳ kheo hay tỳ kheo ni nào không quan tâm đến việc tu tập thiền định để bồi dưỡng trí tuệ thì thật không xứng đáng là bậc mô phạm tỉnh thức. Sự khắc khe này cũng chỉ vì đức Phật muốn bảo hộ sức sống của tăng-già bằng việc triển khai năng lực tu tập của mỗi cá nhân. Nếu ai trong hàng xuất gia đệ tử Phật không tôn kính vâng giữ lời huấn thị của đức Phật, xem an cư là một điều bó buộc, một phương tiện nhỏ nhặt thì quả thật người ấy không những tự chối bỏ phần tự lợi mà gây ảnh hưởng không tốt cho tăng đoàn. Cũng như bác nông phu mỗi năm phải làm ruộng, nếu năm nào bỏ bê không chăm lo đến mùa màng thì bác sẽ bị nghèo nàn đói thiếu. Hàng Bí Sô nếu không có những ngày tháng cùng sinh hoạt cộng trú để sách tấn lẫn nhau thì làm sao có điều kiện để tạo thành năng lực hoà hợp và kiểm chứng giá trị thanh tịnh? Kết thúc khoá an cư là Tự Tứ, một hình thức tối quan trọng để tổng kết quá trình tu tập tiến triển hay lui sụt của từng cá nhân qua ba tiêu chuẩn: thấy, nghe, nghi. Những ai vượt ra khỏi phạm vi giới luật, buông lung theo ba nghiệp, hành động theo bản năng cố hữu thì sẽ bị cử tội giữa đại chúng để bổ khuyết sửa chữa.

Một lần, sau mùa an cư các thầy tỳ kheo lần lượt về vấn an đức Phật và trình bày công phu tu tập của mình. Đức Phật hỏi:

- Vừa qua các ông có được an lạc không?

- Thưa an lạc lắm ạ!

- Thế trong ba tháng ấy các ông tu tập pháp gì?

Các thầy tỳ kheo vui vẻ trả lời:

- Bạch Thế Tôn, chúng con thực hành pháp tịnh khẩu, tự mỗi người giữ im lặng tuyệt đối.

- Đức Phật quở trách:

- Các ông thật vô trí, được sống chung sao không chịu trao đổi hay nhắc nhở nhau tu tập mà lại thực hiện pháp câm như thế, vậy an cư được lợi ích gì chứ? Các ông phải luôn sinh hoạt trong niệm đoàn kết, trên dưới thuận hoà, cùng thống nhất ý kiến, cùng bàn bạc trao đổi và học hỏi lẫn nhau, lẽ nào không thấy được giá trị của thấy, nghe và nghi làm tiêu chuẩn để thanh lọc mỗi người. Các ông đã bỏ phí một mùa an cư. Các ông đã hành động phi pháp.

Năng lực của đại chúng quả thật như biển (Đức chúng như hải) sẽ nâng đỡ những con thuyền lành tốt, khôn khéo chiều theo từng đợt sóng, và sẽ đào thải tất cả những con thuyền hư thủng ra khỏi lòng đại dương. Tăng đoàn muốn hòa hợp theo đúng bản chất của nó như nước với sữa thì buộc mỗi cá nhân phải tự nỗ lực, trang nghiêm chính mình. Ngày nay, những người trí thức ở phương Tây luôn tranh thủ cho mình một khoảng thời gian một tháng hay nhiều hơn trong năm để tu nghiệp, tức là bồi dưỡng thêm nghề nghiệp. Người tu sĩ Phật giáo lấy trí tuệ làm sự nghiệp lẽ nào không đầu tư vào công phu thiền định. Không có thời gian để cùng nhau nhắc nhở giới luật. Tứ niệm xứ, Tứ thánh chủng… Một mình một cõi du hóa lơ lỏng trong nhân gian thì rất khó cho việc thành tựu tuệ giác, hóa độ viên mãn.

Cũng như những giáo hội khác, ngày nay ở Việt Nam không còn giống như thời Phật ở Ấn Độ là hàng xuất gia không phải mỗi người du hóa một phương, mang theo ba y một bình bát và ngủ dưới gốc cây, nhưng lối sống theo từng tông phái, chùa riêng, tổ đình riêng, thầy riêng đệ tử riêng thì cũng xem như rời rạc, chưa đoàn kết hoà hợp. Vì lẽ chưa dung hoà đó mà Kiết hạ an cư đã trở thành qui luật rất cần thiết để làm phương thuốc hồi sinh, làm sống lại tình Linh Sơn cốt nhục mà lắm lúc vì những nguyên do gì đó, vì bệnh nghiệp cá biệt nào đó đã làm cho anh em cùng nhà phải bút chiến, khẩu chiến phân tranh cao hạ, làm cho sư tử phải trọng thương chỉ vì loài trùng ăn gặm trong thân sư tử. Hơn nữa, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam hôm nay nhắm vào tinh thần thống nhất về tổ chức (thống nhất ý chí và hành động) thì Kiết hạ an cư là một phương tiện thuận lợi cho giáo hội xây dựng tăng đoàn đoàn kết hòa hợp và thống nhất mọi mặt theo phương châm: “Đạo pháp - Dân tộc - chủ nghĩa xã hội”.

Rõ ràng, ba tháng an cư, cửu tuần tu học đích thực là nguồn năng lực quí báu làm nóng lại và bền vững hơn tinh thần thanh tịnh hòa hợp của tăng-già. Chúng ta sẽ dễ dàng nhìn thấy sự hưng thịnh của Phật pháp khi chốn tòng lâm ngày ngày giới luật nghiêm minh, đêm đêm toạ thiền niệm Phật, trên dưới hoà hợp, tu tập trong niệm đoàn kết an hoà.

Mùa An Cư - PL 2544

Thích Chơn Thanh.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/11/2010(Xem: 10430)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11194)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 10528)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 15397)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 46726)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 9905)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).
23/10/2010(Xem: 8398)
Trong Cây Có Hoa Trong Đá Có Lửa Kính Dâng Hòa Thượng Thích Như Điển nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của Ngài và kỷ niệm 40 năm khai sơn Chùa Viên Giác tại Đức Quốc Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng “Trong Cây Có Hoa, Trong Đá Có Lửa” là lời pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên do Hòa Thượng Thích Như Điển nhắc lại trong thời giảng Pháp của Ngài mà tôi đã nghe được khi theo hầu Ngài trong chuyến đi Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ năm 2006. Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) là người Nhật, Ngài sinh năm 1200 và tịch năm 1253, thọ 53 tuổi. Ngài là Sáng Tổ của của Soto-Zen (Thiền Tào Động) của Nhật Bản, và là tác giả bộ sách nổi tiếng “Chánh Pháp Nhãn Tạng” “Ki no naka ni, hana ga aru (Trong cây có hoa), Ishi no naka ni, hi ga aru (Trong đá có lửa)” Đó là pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), được Hòa Thượng Như Điển dịch sang lời Việt. Lời thơ quá tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng dung chứa cả một kho tàng giáo lý về Nhân Duyên Quả của Đạo Phật.
23/10/2010(Xem: 8543)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.
23/10/2010(Xem: 8455)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
23/10/2010(Xem: 8294)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự