10. Cảm Niệm Ân Sư

27/03/201123:35(Xem: 8113)
10. Cảm Niệm Ân Sư

(Nén tâm hương tưởng nìệm Cố Hòa Thượng thượng Trí hạ Chơn Giác Linh)

Ngưỡng bạch Giác Linh Hòa Thượng Ân Sư,

Sài Gòn nay chợt chuyển cơn mưa

Tình Nghĩa Ân Sư mấy cho vừa

Người về quê cũ, duyên đã mãn

Quặn thắt lòng con lệ tiễn đưa…

Mùa Xuân là mùa tràn đầy sinh lực, sum họp và hạnh phúc nhưng mùa Xuân Tân Mão năm nay con lại tiếp xúc với nhiều cảnh gìa nua, bệnh hoạn, tang tóc, phân ly,…Con chợt bàng hoàng, ngẩn ngơ, xúc động khi hay tin Hòa Thượng đã vĩnh viễn ra đi, xả bỏ thế gian, về miền Tịnh Lạc !...

Bao nhiêu ký ức, kỷ niệm ân tình với Hòa Thượng lại hiện về. Con có duyên phước gắn liền với Thầy trong suốt hành trình hơn 6 năm ở Hoa Kỳ vừa qua. Con đến Hoa Kỳ du học vào năm 2004 tại Đại Học Boston, Masachutsetts và ở Chùa Lục Hòa gần đó để vừa học, vừa sinh hoạt Phật Pháp. Ngay liền sau đó, Vu Lan năm 2004 Thầy đến Chùa Lục Hòa để con được diện kiến, đảnh lễ, Thầy hướng dẫn, ổn định cuộc sống tu học của con tại Chùa Lục Hòa và Hoa Kỳ.

Thầy có hình dáng mảnh khảnh, gọn gàng nhưng lại chứa đựng bên trong một nguồn năng lực dồi dào, bất khả tư nghì. Vì để tiết kiệm kinh phí cho Phật tử và có thể đi đến nhiều nơi, Thầy đã đi bằng xe buýt ( bus) di chuyển từ Đạo Tràng này sang Đạo Tràng khác và được mệnh danh là “Hòa Thượng xe buýt”.Hình ảnh một vị Hòa Thượng ngồi đợi chờ xe buýt. dịch kinh sách tại bến xe buýt thong dong tự tại quả nhiên là bài thuyết Pháp không lời hùng hồn sống động về khiêm tốn, giản dị, vô ngã, vị tha, dấn thân, nhập thế, chánh niệm, tỉnh giác, giải thoát,…Nơi nào khó khăn, đang cần thì Thầy đến, nơi nào đã ổn thì Thấy lại đi. Thầy không màng làm Trụ Trì một ngôi Chùa to Phật lớn, xung quanh luôn có nhiều đồ chúng đông vui mà xong Phật sự, Thầy lại trở về một Tịnh Thất tại Phật Học Viện Quốc Tế - Nam Cali. Đây là tấm gương xả ly vô trụ chấp, “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Thầy gần gũi và chia sẻ, hướng dẫn cho Ban Quản Trị, Ban Hộ Tự và các vị Trụ Trì trẻ không mệt mỏi ngày này sang ngày khác, nơi này đến nơi khác. Cứ như thế và với cách “ Lấy lớn nuôi nhỏ”,hỗ trợ lẫn nhau, từng bước phát triẻn mà Thầy thành lập, tổ chức sinh hoạt và cố vấn cho khoảng 30 Hội Phật giáo và hơn 20 ngôi chùa, Niệm Phật Đường ở khắp 15 tiểu bang tại Hoa Kỳ.

(tham khảo thêmhttp://www.chualinhmu.com/Gioithieu/gioithieu.htm)

Con được diện kiến Thầy khá nhiều lần : tại Chùa Lục Hòa (Boston), Chùa Huyền Quang – Springfield, Chùa Từ Ân - Lousiville (Kentucky), Chùa Viên Quang – Ohio, Phật Học Viện Quốc Tế, …Thầy với con có nhiều duyên gắn bó : Thầy là hậu duệ của Đức Đệ Tam Tăng Thống – Chùa Linh Mụ Huế, con là hậu duệ của Đức Đệ Tứ Tăng Thống- Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định, con được Thầy uỷ thác đến làm chủ Lễ, thuyết giảng, hướng dẫn khóa tu tập tại các Chùa mà Thầy làm cố vấn. Thầy chia sẻ tâm sự với con rất nhiều về lập trường, đường hướng sinh hoạt của Thầy, những khó khăn và kỷ niệm hành trình Thầy đã trải qua, những bài học, kinh nghiệm và hành trang mà người tu sỹ trẻ hành đạo nơi hải ngoại cần biết… Khi con còn ở Boston (2004-2006), Thầy muốn góp cho tiền cho con mua xe (car) đi học nhưng con nghĩ đi học bằng xe lửa cũng được chứ chưa cần đến xe hơi cho tốn tiền xăng và bảo hiểm nên thôi. Năm 2006, xét tình hình thực tế Chùa Viên Quang Ohio, Hoa Kỳ đang rất cần một vị Tu Sỹ trụ trì để ổn định tình hình và phát triển việc tu học sinh hoạt nơi đây, nên Thầy đã khuyên và giới thiệu con về đó. Sau đó, với cương vị Phó Chủ Tịch HDTS GHPGVNTNHN-HK, Thầy mang và đọc quyết định bổ nhiệm trụ trì cho con tại Chùa Viên Quang. Theo như sự hướng đạo của Thầy, con sinh hoạt, xây dựng và phát triển cơ sở tự viện Viên Quang này kể từ 2006 đến nay.

Với uy đức, khả năng và lòng tận tuỵ với Phật Pháp như vậy, Ngài được chư Tăng quy kính và cung thỉnh vào cương vị Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ Hội Đồng Điều Hành của GHPGVNTNHN/HK. Đến năm 2008, trong Đại Hội Thành Lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ, Ngài được cung thỉnh vào ngôi vị Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành cho đến ngày viên tịch.

Mặc dù hết sức bận rộn với công việc của chùa chiền, đạo tràng cũng như là công việc của Giáo Hội Thầy cũng tranh thủ từng chút thời gian để nghiên cứu, sáng tác cho hơn 15 đặc san, tạp chí, nguyệt san … và dịch thuật số lượng nhiều sách cho tư, tưởng, văn hoá, giáo dục Phật Giáo. Cái đáng quý của đời người không phải tính đếm bằng năm tháng ngày giờ đã sống mà là những gì người đó đã làm được và để lại cho đời. Quả thật, Thầy đã cống hiến rất nhiều cho Đạo Pháp, chúng sanh, trọn một đời bền bĩ, phấn đấu, phụng sự, “kiếp tằm nhả tơ”. Những gì cần nói, Thầy đã nói, những nơi cần đến, Ngài đã đến, những gì cần làm, Thầy đã làm. Giờ đây, công hạnh tròn đầy, cơ duyên đã mãn, đến lúc Thầy phải ra đi, thâu thần thị tịch.

Con còn nhớ rõ mồn một lần cuối cùng con đảnh lễ Thầy tại Phật Học Viện Quốc Tế , vào 2 tháng trước đây, đó là ngày 22/01/2011. Vì sợ trễ chuyến bay, nên nhiều lần con tự bảo lòng mình là tạm gác việc thăm Thầy chờ đến lần về Cali tiếp theo, nhưng lại đó nguồn động lực nào đó khiến con lái xe từ San Jose bon bon trực chỉ lên núi hướng về PHVQT thay vì lái đến phi trường Los Angeles. Phải chăng đó là uy đức của Thầy có một mãnh lực cuốn hút lớn lao, nỗi nhớ thiết tha sau một khoảng thời gian xa cách Thầy, nỗi khao khát đợi chờ đón nhận nguồn tiếp lực của Thầy cho một giai đoạn hành trình mới của con hay là đó là sự giao cảm tâm linh nhiệm mầu thôi thúc con có một cuộc hầu cận với Thầy lần cuối? Tuy rằng tuối già sức yếu, Thầy vẫn nhận ra con và Thầy vào phòng trong mang ghế ra cho con ngồi ( tuy rằng con khẩn khoản xin đứng hầu chuyện) và tặng cho con một cuốn sách về Ngài Đạt Lai Lạt Ma mà Thầy vừa dịch ( Thầy vẫn thường gửi sách Thầy dịch đến Chùa Viên Quang cho con). Con chú ý cách nói chuyện của Thầy lần này có khác hơn bao lần trước. Khi con hỏi : “Thưa Thầy, ưu tư quan tâm hàng đầu của Thầy, công việc Thầy đang chú trọng hiện nay là gì trong khi Thầy tuổi già sức yếu, lòng người đa đoan, nhân ngã thị phi, Tăng chúng chưa thực sự hòa hợp như nước với sữa, vào chung một khối?”. Thầy đáp : “Nghiệp của chúng sanh còn nặng, Thầy đã làm những gì Thầy có thể làm được mà thôi, có những điều dù muốn cũng chưa được, phần còn lại các Thầy hãy cố gắng tiếp tục làm. Nơi nào yên, phải lẽ thi nên ở, nơi nào thị phi phiền não khó tu thì nên tránh, tuỳ duyên và buông xả. Các Ngài lớp Thầy hầu hết ra đi rồi, Thầy cũng chẳng có gì để nắm giữ, còn ngày nào, Thầy chỉ chuyên tâm dịch sách và niệm Phật mà thôi.” “Dấn thân”, “Tuỳ duyên” và “Buông xả” là 3 bài học lớn đầy ấn tượng rút ra từ cuộc hội kiến với Thầy lần cuối đó. Con trân trọng lắng nghe những lời huấn thị của Thầy đến nỗi phải trễ và đổi chuyến bay mà con không hề hối tiếc. Ngồi chờ đợi tại các sân bay cũng như mãi mãi về sau này, con luôn vẳng vọng nghe được lời nhắc nhở đầy tình thương và huấn thị sâu sắc của Thầy

Người ra đi, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ mất đi một vị Chủ Tịch lãnh đạo rường cột sáng suốt, Tín đồ Phật tử khắp nơi mất đi một vị Thầy tận tuỵ, khả kính, bản thân con cảm thấy mất đi một đại thọ Bồ Đề, một vị ân sư gần gũi, thâm tình…

“Người đi, dấu vết chưa nhòa”, tuy Thầy không còn hiện diện nữa với hình hài, dáng vóc, nhưng Thầy đã hòa quyện vào bầu trời xanh, Ánh Thái Dương rạng rỡ, những ngôi sao sáng, chòm lá, khóm hoa, dòng nước chảy,…Hình ảnh của Thầy, ân tình sâu nặng và những lời giáo huấn đã thấm nhuần trong tim mạch biến thành nguồn thương và lẽ sống của đời con. Nén tâm hương hướng về Liên Toà của Ngài tại Calì con xin đảnh lễ tri ân duyên hội ngộ và giáo dưỡng của Người và cung tiễn Người vào cõi “vô tung bất diệt”. Người ơi! Người đã quyết định buông xả vạn duyên trần thế thật rồi sao hay là Người chỉ thay đổi lớp áo ngũ uẩn để tiếp tục một cuộc hội nhập mới vào cõi Ta bà và tiếp tục công hạnh của Người? Dù gì đi nữa, với con, Người đã ra đi nhưng vẫn còn ở lại, ngọn đuốc Ngài trao cho con vẫn còn chói sáng trong tâm thức và con nguyện khơi ngọn đuốc ấy mãi toả sáng giữa chốn trần gian đầy phong ba ô trược trong suốt hành trình kiếp nhân sinh và đời Tăng Sỹ của mình. Xin Người hãy chứng minh và tiếp tục gia bị cho con.

Nam Mô Từ Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Tam Thế, Linh Mụ Hải Ngoại Đường Thượng, Việt Nam Phật Giáo Thống Nhất Giáo Hội Ư Hoa Kỳ, Hội Đồng Điều Hành Chủ Tịch, Húy thượng Tâm hạ Chánh, Hiệu Trí Chơn Trưởng Lão Hòa Thượng Liên Tòa Chứng Giám.

Hướng đến Linh Mụ Hải Ngoại và Liên Tòa Giác Linh Cố Hòa Thượng

Khể thủ,

Con : Tỳ Kheo Thích Đồng Trí

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/09/2010(Xem: 14165)
Tác-phẩm của Trần-Thái-Tông còn lưu truyền đến nay chỉ gồm có Bộ-Khóa-Hư-Lục và hai bài thơ sót lại của quyển Trần-Thái-Tông ngự-tập đã thất-lạc.
28/09/2010(Xem: 11487)
Hòa Thượng THÍCH QUẢNG TÂM (1947 - 2010), húy Như Hảo, thế danh Lê Tấn Quang, sinh ngày 12 tháng 8 năm Đinh Hợi (1947) tại làng Thạch Trụ huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi trong một gia đình nhiều đời thâm tín Tam Bảo và có truyền thống xuất gia tu học.
23/09/2010(Xem: 9107)
Hòa Thượng Thích Phước Huệ sanh năm 1922, tại ấp Mỹ Thủy, xã Thạnh Mỹ Lợi, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định, miền Nam Việt Nam. Thân phụ là cụ ông Trần Văn Hoạch, thân mẫu là cụ bà Lê Thị Ngọc.
19/09/2010(Xem: 11301)
Ngay từ hồi nhỏ tâm hồn tôi đã hướng về đạo Phật. Tôi it nói, sống trong trầm lặng, ham đọc sách, nhất là những sách về đạo Phật viết cho trẻ em. Tôi chỉ có vài đứa bạn cũng giống tính tôi, gặp nhau thì vào buồng thủ thỉ thù thì nói chuyện với nhau. Cha tôi buôn bán lớn, giao thiệp nhiều, và cũng như phần đông các nhà kinh doanh hồi đó, đều quen biết các vị sư và đóng góp nhiều cho chùa chiền. Khi các thầy đến thăm cha tôi, lúc nào tôi cũng đứng gần nghe ngóng say sưa và dâng trà cho các thầy.
04/09/2010(Xem: 9472)
"Cây héo vào xuân hoa nỡ rộ Gió đưa nghìn dặm nức hương thần." Thiền Uyển Tập Anh ( Anh Tú Vườn Thiền) ghi về sư như sau: " Thiền Sư Viên Chiếu (999-1090) thuộc thế hệ thứ bảy dòng Vô Ngôn Thông.Thiền Sư họ Mai, tên Trực người huyện Long Đàm châu Phúc Điền, là con người anh thái hậu Linh Cảm đời Lý. Thuở nhỏ ông thông minh mẫn tuệ, hiếu học. Nghe tiếng trưỡng lão ở chùa Mật Nghiêm giỏi xem tướng, ông bèn đến nhờ xem hộ.
21/08/2010(Xem: 15877)
Tại một ngôi chùa Việt ở Bangkok (Thái Lan), nhục thân của Hòa thượng Thích Phổ Sái vẫn còn nguyên vẹn hình hài sau hơn 50 năm kể từ khi ngài viên tịch. Tọa lạc tại khu Yaowarat (khu phố Tàu) ở Bangkok, ngôi chùa mang tên rất Việt Nam là Khánh Vân có một lịch sử lâu đời do các Hòa thượng người Việt thành lập. Đây là một trong những ngôi chùa Việt thuộc hệ Annamnikaya hay còn gọi là An Nam Tông ở Bangkok. Chính tại chùa Khánh Vân này, nhục thân của Hòa thượng Thích Phổ Sái (pháp danh Giác Lượng), một nhà tu hành gốc Việt, được lưu giữ và thờ cúng.
18/07/2010(Xem: 10022)
Kính bạch Sư Tổ! Chúng con đang tập tiếp xúc với Người qua hình ảnh một bậc thầy già chốn núi rừng Dương Xuân. Một túp liều tranh, một bà mẹ già và với ba người đệ tử. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhất của Sư Tổ. Người có thời gian chăm sóc mẹ già và trao truyền những hoa trái tu học cho những người học trò yêu quý. Xuất thân từ làng Trung Kiên – một vùng đất Phật giáo ở Quảng Trị, Sư Tổ đã đến chùa Thiên Thọ (Báo Quốc) núi Hàm Long – Huế, để xuất gia học đạo với Thiền sư Phổ Tịnh, lúc đó Người chỉ mới lên bảy tuổi. Đến năm 30 tuổi, nhận thấy nơi Sư Tổ có chí khí của một bậc Xuất trần nên Sư Tổ được Bổn sư phú pháp truyền đăng với bài kệ: Nhất Định chiếu quang minh Hư không nguyệt mãn viên Tổ tổ truyền phú chúc Đạo Minh kế Tánh Thiên.
04/07/2010(Xem: 13974)
-Người đi tiên phong và nỗ lực không mệt mỏi cho sự nghiệp phát triển trí tuệ, từ bi và hòa bình- -Nhà lãnh đạo toàn cầu trong phong trào vì hòa bình, nhân quyền và sức khỏe cộng đồng-
14/06/2010(Xem: 8480)
Hòa Thượng Thích Bích Nguyên là một trong những bậc cao Tăng thạc đức của Phật giáo Lâm Đồng. Ngài họ Nguyễn, húy là Tùng, sinh năm 1898 tại làng Duy Hòa, xã Triệu Hòa, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Thuở nhỏ, bẩm chất thông minh, đĩnh ngộ. Thời tráng niên, lập nghiệp ở Lào, Hòa Thượng nhân đọc báo Từ Bi Âm mà ngộ đạo, thấy rõ cuộc đời vô thường, nuôi chí xuất gia. Đến năm 29 tuổi (1927), Hòa Thượng mới có đủ nhân duyên đầu sư thọ giáo với Hòa Thượng PHƯỚC HUỆ, Trú trì chùa Hải Đức, Huế và đắc giới Sa di năm 1934. Năm 1936, ngài thọ Cụ túc giới với pháp hiệu BÍCH NGUYÊN, rồi theo học ở các lớp Phật học tại các Phật học viện Hải Đức, Bảo Quốc và Ấn Quang.