Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Hòa thượng Thích Bích Lâm, tấm gương dấn thân vì đạo pháp

04/08/201107:16(Xem: 4409)
Hòa thượng Thích Bích Lâm, tấm gương dấn thân vì đạo pháp

Hòa thượng Thích Bích Lâm, tấm gương dấn thân vì đạo pháp

Hòa thượng Thích Bích Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Hoằng đạo, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam; nguyên Chánh Đại Diện GHPGCT Trung phần, Tổ thứ 3 Tổ đình Nghĩa Phương, Tổ Khai sơn các chùa thuộc Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương, Tông trưởng Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương (1921 - 1972).
 


1. Thân thế sự nghiệp:   
 
Hòa thượng Thích Bích Lâm, thế danh Trần Văn Vinh, huý thượng Chơn hạ Phú, tự Chánh Hữu, hiệu  Bích Lâm. Ngài sinh ngày 24 tháng 11 năm Giáp Tý (1924) tại phường Đệ Nhị, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Thân phụ là cụ ông Trần Đức Tựu, thân mẫu là cụ bà Trần Thị Đủ, nguyên quán làng Xuân Sơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Ngài là người con thứ tám trong gia đình mười anh chị em.

Được sinh ra trong một gia đình nhân hậu, đời đời kính tin Tam Bảo, nên năm lên 8 tuổi, Ngài đã được Tổ Phước Huệ, chùa Sắc Tứ Hải Đức Nha Trang cho quy y, pháp danh thượng Chơn hạ Phú.

Năm Kỷ Mão (1939), Ngài được Tăng cang Hòa thượng Thích Phước Huệ cho thế độ, phú pháp tự là Chánh Hữu.

Năm 1945, Ngài được Hòa thượng Bổn Sư cho thọ Tam đàn Cụ Túc giới tại chùa Sắc Tứ Tịnh Quang (Quảng Trị)  và được Hòa thượng Bổn sư  phú pháp nhãn tạng hiệu BÍCH LÂM. 

Tổ Phước Huệ và đệ tử người Mỹ



Sau khi Tổ Khai sơn Tổ đình Nghĩa Phương viên tịch, Tổ Phước Huệ đã cử Hòa thượng Thích Bích Lâm về Trụ trì Chùa Nghĩa Phương vào tháng 7 năm 1948.
- Năm Nhâm Thìn (1952) tại Đại giới đàn Tổ đình Thiên Bửu, Ninh Hòa, Khánh Hoà,  Ngài được tôn cử  làm Tôn chứng sư.

- Tháng 1 năm Đinh Dậu (1957) Ngài đã vận động Phật tử phát tâm cúng dường Đại trùng tu ngôi Tam Bảo Nghĩa Phương, gồm Nhà Tổ, Chánh điện, giảng đường, nhà Linh, Văn phòng giáo hội…

- Tháng 7 năm Đinh Dậu (1957) nhân lễ Khánh tạ Lạc thành chùa  Nghĩa Phương, Ngài đã kiến tạo Đại giới đàn cung thỉnh Tăng cang Hòa thượng Thích Trí Thắng, chùa Thiên Hưng (Phan Rang)  Chứng minh. Tăng cang Hòa thượng Thích Huệ Pháp chùa Sắc tứ Minh Tịnh, Quy Nhơn đương vi  Đường đầu Hoà Thượng truyền giới, Ngài được tôn cử làm Giáo thọ A Xà Lê sư.

- Tháng 1 năm 1958, Ngài  xây  trường Nghĩa thục  Bát Nhã  Nha Trang dạy dỗ con em nghèo, và cử Đại đức Thích Trí Tâm làm Hiệu trưởng- đây là tiền thân của trường  Tư thục Bát Nhã, Tư thục Vạn Hạnh sau này.

- Tháng 12 năm 1958 (Mậu Tuất)  Ngài vận động Phật tử mua đất tại Đồng Đế để làm Nghĩa Trang Nghĩa Phương.

- Năm 1959, Ngài tiếp nhận ngôi thảo am của cụ Trần Trứ tại Ba Ngòi Cam Ranh do con cháu cụ hiến cúng, và khai sơn lập tự an danh là  chùa Thiên Long.

- Cũng trong năm 1959 Ngài kiến tạo Tăng Học Viện Phật giáo Cổ truyền Trung phần tại Đồng Đế Nha Trang, để đào tạo tăng tài.

- Năm Canh Tý (1960), sau khi xây cất Tăng Học Viện Phật Giáo Cổ truyền Trung phần hoàn thành, Khánh thành và khai giảng Tăng Học Viện,  nhân dịp này Ban đại diện Giáo hội Phật Giáo Cổ truyền miền Trung kiến lập đại giới đàn, Chư Sơn thiền đức cung thỉnh Ngài  làm Đường đầu Hòa Thượng truyền giới.

- Năm 1961, để phát triển Phật sự tại tỉnh Phú Yên, Ngài đã khai sơn chùa Nghĩa Phú, tại thôn Đông Phước, xã Hoà Thắng, huyện Tuy Hoà và cử Đại đức Thích Trí Giác trụ trì..

- Năm 1962, Ngài khuyến hoá bổn đạo mua ruộng tại thôn Tân Lâm, xã Ninh Thượng, huyện Ninh Hoà, để hằng năm cung cấp gạo cho tăng chúng yên tâm tu học.

- Năm 1963 (Quý Mão) tại giới đàn chùa Sắc tứ Minh Tịnh , Quy Nhơn,  Ngài được cung thỉnh làm Tuyên Luật sư.

- Năm 1969 sau khi Thượng tọa  Thích Trí Giác (Huệ Hải) đại trùng tu chùa Nghĩa Phú, Tuy Hoà, (Phú Yên) hoàn thành. Trong lễ khánh tạ Lạc thành, đã kiến tạo Đại giới đàn Ngài được cung thỉnh làm Tuyên luật sư.

- Năm Canh Tuất (1970), để phát triển Phật sự tại Diên Khánh, Thượng tọa Thích Trí Minh (Huệ Đăng) khai sơn kiến tạo chùa Phước Duyên tại thôn Phò Thiện, xã Diên Phước, huyện Diên Khánh đã cung thỉnh Ngai Chứng minh khai sơn. Trong lễ khánh tạ lạc thành chùa Phước Duyên đã kiến lập Đại giới đàn, đại chúng cung thỉnh Ngài  tái thí Đường đầu Hòa Thượng.
2. Các nhiệm vụ phật sự:

 Trong suốt cuộc đời hành đạo Ngài được Chư Tôn đức  giao cho các nhiệm vụ:

- Từ năm 1950 đến 1954: Ngài làm Tổng Thư ký Giáo Hội Tăng Già  Khánh Hòa.

- Từ năm 1955 đến 1959: Tăng Giám Trung Việt, Phật Giáo Tịnh Độ Tông Việt Nam.

- Từ năm 1960 đến 1968: Ngài đảm nhiệm chức vụ Chánh Đại diện Trung phần kiêm Giám đốc Tăng Học Viện  Phật Giáo Cổ Truyền  miền Trung.

- Từ năm 1969 đến 1972:  Ngài được tôn cử đảm nhiệm Phó Viện Trưởng Nội Vụ, Viện Hoằng Đạo Trung Ương Giáo hội Phật Giáo Cổ Truyền Việt Nam.

Ngài đã thay mặt Giáo hội Phật Giáo Cổ Truyền Việt Nam đi hoằng pháp, thăm viếng thân hữu Phật giáo các nước: Thái Lan (tháng 5.1958).. Hai lần hoằng pháp thăm viềng thân hữu Phật giáo Nhật Bản vào năm 1968, 1969. Thăm viếng thân hữu Phật giáo  Hồng Kông, Đài Loan,  Hàn Quốc v.v...vào tháng 11.1969.

Bằng giới  đức trang nghiêm, túc duyên thù thắng, năng lực phi thường, Hòa Thượng  là Bổn Sư, là Y Chỉ Sư của gần 100 Tăng, Ni và nhiều Phật tử.

Đồng thời để có người thừa kế sự nghiệp đạo pháp nên Ngài đã cho hai đệ tử là Hòa thượng Thích Trí Tâm, Hòa thượng Thích Trí Đức đi đu học tại Nhật Bản.

Đệ tử xuất gia của Ngài có  gần 100 vị, chỉ nói riêng hàng đệ tử lớn đã có gần 20 vị được Ngài truyền trao Phú pháp Nhãn tạng và hiện nay đã có những vị đã được tấn phong Hoà Thượng như: Cố HT.Thích Huệ Quang, Cố HT. Thích Trí Giác (Huệ Hải), Cố HT. Thích Huệ Đăng (Trí Minh), cố HT.Thích Trí Hải (Huệ Lạc), HT. Thích Trí Tâm (Huệ Minh),HT.Thích Trí Đức, HT.Thích Tâm Khai, Ni trưởng Thích Nữ Diệu Nguyện (Huệ Hạnh) v.v…

- Năm 1965 (Ất Tỵ)  Ngài đã đại trùng tu ngôi Tam bảo Nghĩa Phương, như quy  mô hiện nay và suốt hơn một phần tư thế kỷ hoằng pháp lợi sanh, dấu chân Ngài bước đến đâu là nơi đó nở hoa chánh pháp, Ngài đã khai sơn trên hai mươi ngôi tự viện tại Khánh Hòa cùng các tỉnh miền Trung như:

1.Chùa Nghĩa Quang, Phường Phương Sài, Nha Trang (1952)
2.Chùa Nghĩa Lương, Lương Sơn, Nha Trang, (1954)
3.Chùa Nghĩa Minh, Hoàng Diệu, Vĩnh Nguyên, Nha Trang.(1955)
4. Chùa Nghĩa Hương, Phường Phước Tiến, Nha Trang (1955)
5. Chùa Nghĩa Hoà, Phường Vĩnh Hiệp, Nha Trang.(1957)
6. Chùa Nghĩa Phước, Lương Sơn, Nha Trang.(1966)
7. Tăng Học Viện Trung Phần, chùa Phước Huệ, Phường Vĩnh Hải, Nha Trang (1959)
8. Chùa Thiên Long, Ba Ngòi, Cam Ranh.Khánh Hòa; (1959)
9. Chùa Ngọc Lâm, Ngọc Diêm, Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hòa.(1969)
10. Chùa Nghĩa Phú, Đông Phước, Đông Hoà, tỉnh Phú Yên. (1961)
11.- Chùa Nghĩa Lâm, Phước Lộc 2, Đông Hoà, Phú Yên (1961)
12- Chùa Nghĩa Thành, Phước Thành, Tuy Hoà, Phú Yên..(1961)
13.- Chùa Nghĩa Phong, Phong Niên, Tuy Hoà, Phú Yên.(1961)
14.- Chùa Nghĩa Lâm, Lâm Trúc, Hoài Thanh, Hoài Nhơn, Bình Định.(1961)
15. Chùa Nghĩa Bổn, xã IA Rbol, Phú Bổn, tỉnh Gia Lai.v.v…(1961)

Và các chùa Nghĩa Lợi, Nghĩa Sơn, Nghĩa Hài, Nghĩa Đạo, Nghĩa Thiện, Nghĩa Trường… do hoàn cảnh chiến tranh tàn phá và nhiều lý do khác nhau các chùa này hiện nay không tồn tại.

Ngoài ra Ngài còn Chứng minh Đại trùng tu trên 20 ngôi chùa thuộc Môn phong Tổ đình Nghĩa Phương như: Chùa Sắc tứ Minh Thiện, Chùa Phước Duyên, Chùa Oai Linh, Chùa Đào Viên, Chùa Minh Quang, Chùa Minh Thành v.v…

3. Thời kỳ cuối cuộc đời tu hành:

Cuối năm 1970, Hoà Thượng lâm trọng bệnh, tuy được các thầy thuốc Đông y, các bác sĩ bệnh viện Gral Sài Gòn,  Quân y viện Đại Hàn tận tình chữa trị, nhưng sức khỏe của Ngài  dần dần giảm sút. Thế rồi ngày qua tháng lại, sức khỏe Ngài yếu dần theo bạo bệnh, tuy vậy Hoà Thượng  vẫn tỉnh giác chánh niệm an nhiên tự tại với các Phật sự, sinh hoạt thường nhật trong ý niệm “vô thường lão bệnh bất dữ nhân kỳ, triêu tồn tịch vong sát na  dị thế”.

Rồi những ngày giữa đông, cuối tháng mười một Tân Hợi đã đến, chùa xưa còn đó, pháp lữ còn đây mà Ngài đã thuận thế vô thường, an tường xả báo thân vào lúc 19 giờ  ngày 24 tháng 11 năm Tân Hợi (10.01.1972). Trụ thế 49 năm. trãi qua 28 mùa an cư kiết hạ. Tháp của Ngài được tôn trí tại khu Tháp Tổ chùa Phước Huệ, phường Vĩnh Hải, Nha Trang.

Thế là Hòa thượng Thích Bích Lâm đã vĩnh viễn đi xa, để lại phía sau hàng đệ tử, biết bao nổi tiêc thương ngậm ngùi.. Tiếc  thay,  hạnh nguyện chưa tròn, đường phụng sự đạo pháp còn dài Tăng Ni Phật tử còn nhiều mong đợi, để lại tang chung cho môn đồ đệ tử, cùng sự luyến tiếc của Tăng Ni Phật tử đối với một bậc Tôn đức Tăng tài, sớm chuyển nghiệp trần, giữ lúc tinh hoa đang phát chất. Cõi trần thế từ đây đã khuất một vì sao, miềm Lạc cảnh lại them một trang xuất trần Thượng sĩ. Cố nhiên, công đức cống hiến phụng sự đạo pháp và lợi lạc quần sanh của Ngài sẽ vẫn còn sống mãi trong tâm tư môn đồ đệ tử…

Những tưởng duyên hóa độ còn lâu hơn nữa,
Nào ngờ đâu, sớm Lạc cảnh quy Tây,
Trong vô thường vẫn điêm nhiên tự tại,
Sinh tử dường gió thoảng mây bay.
Nguyện Giác linh Ngài sơm hồi nhập Ta bà.
Cùng pháp lữ xiễn dương chánh pháp…
Nam mô Nghĩa Phương Đường thượng Từ Lâm Tế chánh Tông, Tứ thập thế, huý thượng Chơn hạ Phú, tự Chánh Hữu, hiệu Bích Lâm, Trần công Hoà Thượng Bổn Sư giác linh, thuỳ từ chứng giám.
Tháp Tổ Bích Lâm tại chùa Phước Huệ Nha Trang
Tổ đình Nghĩa Phương Nha Trang (Khánh Hòa)


Đệ tử Trí Bửu
 
khể thủ tưởng niệm Húy kỵ Bổn sư lần thứ 44 (24/11/Tân Hợi -1972 - 2016)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/12/2010(Xem: 6859)
Xin cầu nguyện cho tất cả chúng sinh được hạnh phúc, bình an và giải thoát. Tác giả mang ơn sâu đối với Thiền Sư Thích Thanh Từ và Giáo Sư Tiến Sĩ Trí Siêu Lê Mạnh Thát vì các công trình nghiên cứu và dịch thuật của hai thầy mà tác phẩm này đã dựa vào để tham khảo; và đối với bổn sư tác giả là Thiền Sư Thích Tịch Chiếu. Tác phẩm này được đặc biệt dâng tặng tới các thế hệ trẻ, và phổ quát dâng tặng cho tất cả chúng sinh.
16/12/2010(Xem: 4729)
Lời Phát Biểu của HT Huyền Quang tại Tang Lễ Ôn Đôn Hậu ngày 3-5-1992
10/12/2010(Xem: 7716)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
04/12/2010(Xem: 4624)
Thái Tử Tất Đạt Đa từ bỏ cung vàng điện ngọc vợ đẹp con thơ, để ra đi tìm phương giải thoát cho chính mình và chúng sanh. Lối 1332 năm sau Thái Tử Trần Khâm (1258-1308) cũng giã từ cung vàng tìm đến núi Yên Tử để xin xuất gia, mong trở thành sơn tăng sống cuộc đời thanh thoát. Nhưng vì vua cha ép buộc nên phải trở về để kế nghiệp trị dân. Ngay từ lúc nhỏ ông dốc lòng mộ đạo Phật ước muốn được đi tu, năm lên 16 tuổi Trần Khâm đã nhường ngôi vị Đông Cung Thái Tử cho em, vua cha nài ép mãi ông mới nhận lời. Dù không được đi xuất gia lúc bấy giờ, nhưng nơi ông đã thể hiện được con người siêu việt khác thường.
25/11/2010(Xem: 23491)
Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Đây là 43 công án Vua đưa ra để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia. Thầy Làng Mai đã dịch những công án này ra tiếng Việt và tiếng Pháp năm 1968. Bản dịch tiếng Pháp xin xem ở phần phụ lục cuốn Clé Pour Le Zen, tác giả Nhất Hạnh, do nhà xuất bản JC Lattes ấn hành. Bản Hán Việt có trong Thơ Văn Lý Trần quyển II (Quyển thượng, trang 108-121), NXB Khoa Học Xã Hội.
24/11/2010(Xem: 9425)
Tiểu sử nhà văn Quách Tấn
15/11/2010(Xem: 7032)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 6616)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
110,220,567