Vài mẫu chuyện để tưởng niệm Cố Hoà Thượng Thiền Tâm.

19/09/201003:05(Xem: 10868)
Vài mẫu chuyện để tưởng niệm Cố Hoà Thượng Thiền Tâm.

htthichthientam
Vài mẫu chuyện để tưởng niệm

Cố Hoà Thượng Thiền Tâm.

Thoại Hoa.

 

Ngay từ hồi nhỏ tâm hồn tôi đã hướng về đạo Phật. Tôi it nói, sống trong trầm lặng, ham đọc sách, nhất là những sách về đạo Phật viết cho trẻ em. Tôi chỉ có vài đứa bạn cũng giống tính tôi, gặp nhau thì vào buồng thủ thỉ thù thì nói chuyện với nhau. Cha tôi buôn bán lớn, giao thiệp nhiều, và cũng như phần đông các nhà kinh doanh hồi đó, đều quen biết các vị sư và đóng góp nhiều cho chùa chiền. Khi các thầy đến thăm cha tôi, lúc nào tôi cũng đứng gần nghe ngóng say sưa và dâng trà cho các thầy. Mới chừng mười tuổi, khi bắt đầu hiểu biết hơn về đạo, tôi đã muốn xin quy y. Tôi thường theo cha tôi đi vào tổ đình Ấn Quang, các chùa Xá Lợi, Dược Sư, Từ Nghiêm, và rất nhiều thầy đề nghị quy y cho tôi, vì các thầy đều quen biết cha tôi. Rất lạ là hồi đó, tuy còn bé, nhưng tôi rất bướng bỉnh, không chịu thầy nào làm Bổn Sư mình. Tôi khăng khăng nói là tôi đã biết trước thầy tôi sẽ là ai.

Khi lớn lên, tôi thường tới lui Cô Nhi Viện Diệu Quang ở Phú Lâm để giúp các sư cô chăm sóc trẻ em mồ côi. Cho đến khi tôi hai mươi tuổi, một ngày nọ, trên đường từ Phú Lâm về, xe tôi chạy ngang An Dưỡng Địa, Lò Hoả Táng, cạnh Cô Nhi Viện, tôi nhìn vào thấy có ba cái cốc. Tôi ngạc nhiên không biết sao ở chốn này lại có người ở. Không hiểu do điều gì xui khiến, tôi đòi dừng xe, mạnh dạn bước vào, gỏ cửa một trong ba cái cốc tịnh thất. Một vị sư ra mở cửa. Tôi chưa bao giờ gặp vị đó, và rất ngạc nhiên thấy nhà sư vui mừng trên nét mặt. Tôi đứng sửng sốt, hai chân bám xuống đất, không dám cử động, nói phều-phào qua màng lệ : « Thôi đúng rồi, nay con đã tìm ra thầy con rồi. Bạch Thầy, bao nhiêu năm nay con đi tìm Thầy. Thầy có chịu làm Bổn Sư của con không ? » Thầy mỉm cười trả lời : « Thầy đã chờ con từ lâu rồi. Ngày mai con đem hoa quả lên đây, thầy sẽ quy y cho con » Vị sư đó là thầy Thiền Tâm.

Tôi về thưa với cha tôi. Cha tôi không quen Thầy, nhưng cũng nhận lời, cho người mang hoa quả tới. Sau khi làm lễ, Thầy đặt cho tôi pháp danh là Thoại Hoa. Tôi rất thích pháp danh đó, tuy tôi không hiểu rõ ý nghĩa của nó. Hồi đó tôi còn nhút nhát, cũng không dám hỏi Thầy. Mãi mấy chục năm sau, trong một dịp đi hành hương bên Ấn Độ, theo vết con đường tu hành của đức Phật Thích Ca, tôi mới được Hòa Thượng Huyền Vi giải nghĩa cho. Thầy Huyền Vi nói : « Chà, cô này có pháp danh rất hay. Để thầy giảng nghĩa cho mọi người nghe : Hoàng hậu Ma Gia một buổi sáng ấm nắng đi dạo chơi trong vườn Lâm Tỳ Ni, bỗng thấy một đóa linh hoa thoại vừa mới trổ. Hoàng hậu tự nhủ : « Hoa này rất là hiếm, ít người được thấy, vì vạn năm mới nở một lần, và chỉ nở khi có điềm lành ». Bà hài lòng với tay hái hoa, thì ngay lúc đó chuyển bụng sanh ra thái tử Tất Đạt Đa. Thầy của cô đặt cho cô tên Thoại Hoa là muốn nhắc nhở tới sự tích này »

Sau ngày phát nguyện quy y, mổi lần đi lên Cô Nhi Viện Diệu Quang, tôi không quên ghé thăm thầy Thiền Tâm, và lần nào thầy cũng dành nhiều thì giờ cho tôi. Có điều lạ là Thầy không bao giờ đến thăm cha tôi, và cha tôi cũng không bao giờ đến gặp Thầy. Tôi nhớ có một lần Thầy bảo tôi : « Con đã tu nhiều kiếp rồi. Ráng cuộc đời này làm công quả cho nhiều. Nhưng Thầy và con rồi cũng ít được gặp nhau. Sau này Thầy viên-tịch rồi thì con ráng tìm đệ tử của Thầy mà tiếp tục tu cho đắc đạo »

Một ngày nọ, cũng như mọi kỳ, tôi ghé thăm Thầy. Vừa mở cửa ra, Thầy liền thốt lên : « Hôm nay con lên từ giả Thầy phải không ? » Tôi hết sức ngạc nhiên, sửng sốt hỏi lại : « Sao thầy nói con đến từ giả Thầy ? » Thầy hiền từ nhìn tôi mỉm cười : « Thầy biết con đi du học xứ ngoài, hôm nay con lên thăm Thầy lần cuối » Đúng vậy, tôi đến từ giả Thầy để đi xuất ngoại du học. 

Tôi ra đi từ năm 1966. Vùi đầu vào sách vở, ở xứ người, tôi không có dịp liên lạc với Thầy vì tôi nghĩ không biết trong thư từ viết gì cho một vị xuất gia. Hơn nửa, tôi đoán Thầy cũng bận nhiều, đâu có thì giờ viết thư dạy bảo cho tôi. Rồi ngày tháng trôi qua, đến năm 1990, tôi được môt người quen cho biết Thầy Như Thông bên Mỷ là môt đệ tử của Thầy Thiền Tâm. Tôi mừng quá tìm liên lạc với Thầy Như Thông. Thầy Như Thông không ngần ngại phí tổn thời giờ đã viết thư rất nhiều về Phật pháp cho tôi.

Nhiều năm sau, một ngày nọ, tôi nằm chiêm bao, thấy Thầy Thiền Tâm mặc áo tràng rộng màu trắng, từ xa đi đến, rồi quay lưng đi trong cánh rừng đầy sương mù. Tôi chợt thức-dậy. Linh tính cho tôi biết có điềm không lành sẽ tới. Thật vậy, ít ngày sau tôi nhận được thư thầy Như Thông báo tin Sư Phụ tôi viên tịch, đúng vào ngày báo trong giấc mộng. Bổn Sư tôi viên-tịch vào ngày 16 /12/ 1992, nhằm ngày ta là 21 tháng 11 năm Nhâm Thân.

Năm 2001, tôi về thăm quê nhà. Thầy Như Thông đã về Việt Nam trước đó môt năm. Tôi tuy trao đổi nhiều thư từ, nhưng chưa bao giờ gặp Thầy Như Thông. Từ Sài Gòn, tôi gọi điện thoại đến nhà Thầy Như Thông, báo tin tôi từ xứ ngoài về muốn nói chuyện với Thầy. Bên kia đầu giây trả lời : « Thầy không có ở đây » Tôi bâng-khuâng hỏi lại : « Thầy không có ở đây, vậy Thầy ở đâu ? » Bên kia đầu giây yên lặng. Tôi có linh tính thật lạ lùng : « Thầy viên-tịch rồi phải không ? Bên đầu giây kia hỏi : « Sao Cô biết ? » Tôi trả lời : « Thầy viên-tịch ngày đó giờ đó phải không ? ». Bên kia trả lời : « Đúng vậy, y như Cô nói, ngày giờ không sai » Tôi nói tiếp : « Thầy có về báo mộng cho tôi biết ». Thật ra kỳ này, tôi cũng được Thầy Thiền Tâm báo trong mộng. Lúc đó tôi đang ở một khách sạn ngoài Huế. Cũng như lần trước cách đây mười năm, tôi thấy trong mộng Sư Phụ tôi đi tới cùng Thầy Như Thông, rồi hai người quay lưng đi ra xa trong màn sương mù dầy đặc. Tôi thức dậy, biết đây là điềm xấu. Tôi buồn bả ra nhìn cửa sổ xuống sông Hương, mặt trăng rằm to như cái mâm tròn thật đẹp nằm lửng lờ trên mặt nước lung linh, tuyệt vời. Hôm đó là ngày rằm tháng ba năm Nhâm Ngọ, ngày tiết Thanh Minh. Lúc đó là 5 giờ sáng.

Nhiều người đồn rằng Thầy tôi có huệ nhãn. Tôi kể ra đây một trong nhiều chuyện rất lạ về Thầy tôi. Hồi Thầy còn ở An-Dưỡng-Địa, Phú Lâm, có môt hôm, sau khi công phu chiều với đại chúng, Thầy bảo : « Hôm nay chúng con cùng hộ niệm, cầu siêu với Thầy, vì mấy ngày nay Thầy thấy có những vong hồn uất tử lai vãng quanh chùa. Xong lễ, các thầy trẻ tuổi bảo nhau :« Thầy mình sao hôm nay nói gì lạ quá, có vẻ tâm thần không được bình thường ». Ba ngày sau, có hai chiếc xe đò đầy khách và một chiếc xe tư nhân cũng đầy người đụng nhau trước cửa chùa, người trên ba xe không môt ai sống sót. Thì ra Thầy đả linh đoán được chuyện này từ nhiều ngày trước. Đại chúng trong chùa ai cũng vừa sợ vừa thầm phục Thầy.

 

NAM-MÔ CHỨNG-MINH SƯ BỒ TÁT MA-HA TÁT.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/06/2017(Xem: 12809)
Đây là chương cuối cuốn sách tôi dự định cho ra đời như một lời ngỏ chân thành cảm ơn đến với mọi nhân duyên, mọi tình thân mà tôi may mắn nhận được suốt bốn mươi năm ở xứ Mỹ. Tình sâu nghĩa nặng canh cánh trong lòng bấy lâu nhưng cho dù có nói khéo, có viết hay cũng không thể bày tỏ trọn vẹn, nói hết những điều mình muốn nói. Những lời rào đón dông dài nào có nghĩa gì chi bằng hãy thành thật với lòng và xin mời người cùng ngồi ôn lại chuyện cũ không khác chi những lời bộc bạch bên nhau.
12/06/2017(Xem: 14424)
Vô Nhất Đại Sư Thích Thiền Tâm - Một cao tăng cận đại - Biên soạn: Bảo Đăng
01/06/2017(Xem: 28090)
Sư Trưởng pháp húy Hải Triều Âm, tự Đại Thành, hiệu Bác Tế Từ Hòa, thế danh Nguyễn Thị Ni, sinh năm 1920 tại tỉnh Hà Đông, nay thuộc thủ đô Hà Nội. Thân phụ là một công chức người Pháp, cụ ông Etienne Catallan. Thân mẫu là một y sĩ người Việt, cụ bà Nguyễn Thị Đắc. Vì thế Sư Trưởng còn có tên thế tục tiếng Pháp là Eugénie Catallan.
20/05/2017(Xem: 9105)
Gần như một quy luật tất yếu khi nói đến Hòa Thượng Lê Khánh Hòa ( 1877 - 1947 ) ( Tổ Khánh Hòa - Ngài) phải đề cập đến phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam vào nửa đầu thế kỷ XX . Cả một cuộc đời dấn thân trên lộ trình tiến tu giải thoát, luôn nặng gánh ưu tư cho tiền đồ Phật giáo trước mối suy vong song hành cùng vận mệnh dân tộc dưới gót giày xâm lược của giặc Pháp. Là một tăng sĩ với trọng trách "sứ giã Như Lai", Tổ Khánh Hòa đã sớm nhận thức rõ trách nhiệm cao cả ấy và vận dụng đạo đức, năng lực bản thân tữ mình thắp lên ngọn đuốc tiên phong, vén màn đêm dày đặc, bước đi từng bước nhọc nhằn, khó khăn ban đầu để tạo nên một luồng gió chấn hưng mang vô vàn lợi lạc cho Phật giáo mà cho đến tận hôm nay sử sách vẫn còn ghi đậm những dòng chữ vàng son óng ánh chưa hề phai nhạt.
22/04/2017(Xem: 11381)
CT HTB số 205 cho thứ 7 ngày 22/4/2017 Chủ đề: Nhân ngày lễ Phật Đản ôn lại Tổ sư Thiền của Phật giáo Việt Nam. Thành viên thực hiện: Lâm Như Tạng, Lê Tâm.
19/04/2017(Xem: 8414)
Đã 42 năm sau cuộc Chiến tranh Việt Nam, vẫn còn những câu hỏi chưa có lời giải đáp. Chỉ riêng tên tuổi Thích Trí Quang đã gây ra rất nhiều tranh cãi. (1) Có nhiều nhãn hiệu gán cho ông: với một số người Việt chống cộng hoặc còn suy tôn ông Diệm thì cả quyết Thích Trí Quang là cộng sản đội lốt tu hành hoạt động với sự chỉ đạo của Hà Nội; nhưng ngay với giới chức cộng sản cũng đã từng coi Trí Quang là một loại CIA chiến lược; còn
15/04/2017(Xem: 11859)
Thiền Sư Pháp Loa với công trình văn hóa đời Trần
01/04/2017(Xem: 16179)
Trọn một ngày làm nhà tu hành – ăn như sư, ngủ cạnh sư, thiền và đọc kinh cùng sư, lao động cùng sư. Có những lúc đã cảm thấy phát điên về sự chậm rãi trong hoạt động, sự khắc khổ trong cuộc sống. Nhưng cũng ngộ ra nhiều điều! Và 24 giờ đó quả là kinh nghiệm đặc biệt trong đời làm báo. Vào những tháng đông đầu năm 1998, khi đang làm việc cho đài phát thanh NHK của Nhật Bản, tôi đề xuất chủ đề tôn giáo với mục đích giới thiệu đầy đủ hơn về các đạo tồn tại ở Nhật cho thính giả Việt Nam, bên cạnh Thần đạo đã được nói đến quá nhiều. Nhưng việc đi thực tế trong lĩnh vực này không đơn giản. May được một đồng nghiệp người Nhật tích cực tìm kiếm và phát hiện một ngôi chùa có thu nhận người nước ngoài. Mọi công việc thu xếp qua điện thoại và… email do người bạn Nhật đảm trách, và đúng ngày hẹn tôi khoác balô lên đường.
24/03/2017(Xem: 11445)
Theo Dương Lịch, 23 tháng Ba là ngày giỗ của Huynh Trưởng Tâm Huệ Cao Chánh Hựu. Tôi chợt nhớ đến bài thơ viết để tiễn biệt anh và cũng để nhắc nhở các anh chị em Gia Đình Phật Tử khắp nơi biết ngày anh ra đi. Bài thơ khá dài và kết luận bằng câu “Và đừng xa nhau nữa”.
18/03/2017(Xem: 10582)
Di cốt của vị thiền sư đã khai sáng ra dòng thiền Lâm Tế - Liễu Quán ở đàng Trong - dòng thiền thứ hai sau thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, được nhập vào một ngôi tháp cổ kính ở xứ Huế. Thiền sư Liễu Quán (1667-1742) là người đã khai sáng ra chi phái Thiền mới (Thiền phái Liễu Quán), mang đậm phong cách của Văn hóa phật giáo Việt Nam còn truyền lại đến ngày nay. Sau khi viên tịch, di cốt của thiền sư được nhập vào bảo tháp thuộc vùng rừng thông của làng An Cựu xưa (Thừa Thiên Huế). Đây là một ngôi tháp đẹp, cổ kính và uy nghiêm. Nhiều du khách lần đầu đến Huế, nếu không biết thì có thể nhầm đây là lăng tẩm của một vua chúa nào đó của triều Nguyễn bởi quy mô xây dựng, kiến trúc và địa thế phong thủy của bảo tháp.