Bụt và Tổ trong ta

30/06/201306:54(Xem: 12812)
Bụt và Tổ trong ta

Su_Ong_Nhat_Hanh


Bụt và Tổ trong ta



Năm nay Sư Ông đã 87 tuổi. Nếu tính từ ngày xuất gia hồi 16 tuổi tới nay thì người đã có 71 tuổi hạ. Vậy mà Sư Ông vẫn chưa nghỉ một ngày, cứ mãi miết làm việc với một hạnh nguyện duy nhất là "Chuyển hóa khổ đau thành hạnh phúc". Nếu không viết sách thì Sư Ông cũng dịch kinh, làm thơ, làm kệ, nói pháp thoại giúp người đời chuyển hóa thân tâm từ tuyệt vọng khổ đau thành hạnh phúc yêu đời. Đã vậy, dù bất cứ nơi nào trên đường hành hóa, dù mệt cách mấy, bận cách mấy đi nữa Sư Ông cũng dành thì giờ viết thư pháp, biến những lời Bụt dạy thành những câu thiền ngữ cho mọi người thỉnh về nhà, treo lên và tự nhắc mình tu tập như có thầy luôn ở phòng khách nhà mình, nhắc mình nhớ làm chủ thân tâm, nắm giữ chánh niệm, ý thức sự có mặt của người mình thương, vừa có tiền cho quỹ Hiểu & Thương của Làng nuôi dạy trẻ em nghèo đói ở Việt Nam và Ấn Độ.

Tăng thân Làng Mai từ Sư Ông cho đến quý thầy quý sư cô, không ai giữ tiền riêng. Từ quý thầy Giám Đốc Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu, Châu Á, quý thầy, quý sư cô Trụ Trì các Xóm, các tu viện lớn như: Làng Mai, Mộc Lan, Lộc Uyển không ai có tiền riêng, không ai có trương mục ngân hàng nào nhưng mỗi tu viện thì có một trương mục của tu viện đó để Ban Chăm Sóc do tăng thân đề cử đứng ra lo chi phí điện nước, rau đậu, chuyên chở và những chi dụng thiết thực như: mua sắm y áo, trả tiền bảo hiểm y tế (bắt buộc theo luật pháp sở tại), v.v...

Quý thầy quý sư cô cũng hỗ trợ các vị Phật tử tại gia người Việt sống ở hải ngoại và người Tây phương lo lạc quyên giúp các Chương Trình Hiểu và Thương ở Việt Nam và Ấn Độ, (những vị tác viên xã hội do Sư Ông đào tạo từ năm 1965 - 1975 lo chương trình nầy trong nước). Nhưng những năm gần đây do kinh tế nhiều nước bị khủng hoảng nên việc gây quỹ cho Chương Trình Hiểu và Thương giúp 4 ngàn trẻ em thiếu ăn ở Việt Nam và hơn 3 trăm em ở Ấn Độ bị thiếu hụt trầm trọng. Nhưng Sư Ông dạy không nên cắt bớt chương trình nào, để Sư Ông ráng viết thư pháp nuôi tụi nhỏ.Nhờ đó mà trong những năm gần đây không em nào thiếu ăn, và năm nào Hiểu & Thương cũng lo đủ 4 ngàn bộ áo quần Tết cho các cháu.

Riêng năm 2013 nầy dù thấy quỹ Hiểu & Thương với sự góp sức của cư sĩ khắp nơi vẫn chưa đủ nhưng khi tới Trung tâm Làng Mai Quốc tế tại Thái Lan thấy 340 vị xuất sĩ - con xuất gia của Sư Ông còn thiếu thốn quá nhiều về vật chất cũng như ăn và mặc nói chung nên tất cả tiền cúng dường, thỉnh thư pháp của Sư Ông trong chuyến đi Thái vừa qua đã chuyển hết vào việc chăm sóc sức khoẻ và mua rau đậu, y, áo tràng, áo nhật bình cho các con xuất gia ngày càng đông của Sư Ông. Chỉ khi sang tới Hàn Quốc, Hồng Kông và Đức thì mới để dành cho các cháu thiếu nhi thiếu ăn ở Việt Nam và Ấn Độ.(xem tiếp nội dung dưới dạng pdf)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10746)
Từ ngày 18-23/5/1996 HT.Thích Minh Châu, Phó CT kiêm Tổng thư ký GHPGVN, Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, Hiệu trưởng trường CCPHVN... đã lên đường đến Thái Lan để nhận bằng Tiến Sĩ Phật Học Danh Dự (Honarary Doctorate Degree in Buddhist studies) tại Đại Học Phật Giáo Mahachulalongkornrajvidyalaya, Thủ đô Bangkok, Thái lan.
09/04/2013(Xem: 12960)
Thiền sư THÍCH ĐỨC NHUẬN, pháp hiệu Trí Tạng, thế danh Đồng Văn Kha, sinh ngày 14 tháng Chạp năm Quí hợi (thứ bảy, ngày 19 tháng giêng, 1924). Chính quán : làng Lạc Chính, xã Duyên Bình, huyện Trực Ninh, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Thân phụ là Đồng Văn Trung và thân mẫu là bà chính thất Hà Thị Thìn hiệu Trinh Thục (cả hai vị đều đã mãn phần). Là con thứ tư trong một gia đình thanh bần - dòng quí tộc. Ngài có 2 anh, 1 chị và 3 người em dì bào (2 trai, 1 gái).
09/04/2013(Xem: 7633)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, thế danh là Lâm Văn Tuất sinh năm 1897 (Đinh Dậu) tại thôn Hội Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Thân sinh là cụ Lâm Hũu Ứng và bà Nguyễn Thị Nương.
09/04/2013(Xem: 10446)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9760)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 11010)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9452)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 9185)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 9046)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.
09/04/2013(Xem: 10377)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).