Tây Phương Nhựt Khóa

22/04/201311:13(Xem: 24950)
Tây Phương Nhựt Khóa

TÂY PHƯƠNG NHỰT KHÓA
HT. Thích Thiền Tâm
Soạn thuật
---o0o---

Chớ quản gió-sương sông-núi cách,

Hoa sen Bảo-Tích sắc hương-mầu(1)



THAY LỜI TỰA...

Ba năm về trước, khi bổn-sư (và cũng là chú ruột)của tôi là cố Hòa-Thượng Đại-Ninh THÍCH THIỀN-TÂM viên-tịch, trong buổi lễ thọ tang ngài tôi có dâng lời nguyện trước giác-linh Hòa-Thượng cầu xin ngài chứng-minh và gia-hộ cho tôi - vừa là đệ-tử và cũng là cháu ruột của ngài - được đầy đủ đạo-lực cùng minh-tâm, kiến-tánh thêm hơn để nối-tiếp theo gót chân ngài, hoằng-dương pháp môn Tịnh-độ nơi hải-ngoại ....

Sau khi ấy, tôi tự-nghĩ lại, thấy mình nghiệp chướng hãy còn nhiều, tài, đức kém, bước đường tu-hành hãy còn sơ-bạc mà sự-nghiệp tịnh-độ của ngài lưu-lại thì quá lớn-lao, cho nên trong tâm cũng có đôi-phần e-ngại ...

Chợt nhớ lại thời-gian trước kia, khi đóng-cửa thất ẩn-tu vĩnh-viễn, với tấm lòng bi-mẫn cho các hàng Phật-tử về sau, ngài đã có soạn ra một nghi-thức "Mật-Tịnh song-tu" dưới tên là: "TÂY-PHƯƠNG NHẬT KHÓA" để cho các hành-giả tu Tịnh-độ trong thời buổi mạt pháp sau nầy có được một pháp-nghi thích-hợp và một đường lối chơn-chánh tu-hành trên bước đường về nơi Lạc-quốc, nên tôi nảy sanh ra ý định là sẽ tái-bản lại quyển nghi-thức đặc-biệt nầy, trước là cúng-dường lên giác-linh Hòa-thượng và sau nữa để hiến-dâng cho các hàng liên-hữu có được thêm phương-tiện tu-trì.

Tuy nói là tái-bản lại, nhưng thấy vì trong phần chánh-văn, cố Hòa-thượng có dùng nhiều danh-từ chuyên-môn Phật-học (theo Âm-Hán Việt)có ý-nghĩa tương-đối cao-thâm mà các hàng Phật-tử trẻ tuổi, tân-học ngày nay thì lại không rành về chữ Hán - khó có thể nào hiểu biết cho trọn nghĩa được, e rằng quý-vị ấy kém hoan-hỷ mà bỏ phế việc tu-hành (theo nghi-thức)chăng ?

Kế nữa lại có đương-kim hội-trưởng, kiêm trưởng-ban hoằng-pháp và nghi-lễ của chùa Pháp-Hoa Tucson, Arizona là Ưu-bà-di BẢO-ĐĂNG đã có đến gặp tôi và trình-bạch lên ý-định: Xin thỉnh-cầu tôi chú-giải thêm một ít phần về các thâm-nghĩa trong chánh-văn của ngài và chú-thích lại các danh-từ Phật-học khó-khăn hầu cho các Phật-tử sơ-cơ có thể nhân nơi đó được hiểu thêm mà phát-tâm tu-học nhiều hơn nữa...

Tôi hoan-hỷ chấp-nhận.

Vì thế nên quyển nghi-thức "TÂY-PHƯƠNG NHẬT-KHÓA" tái-bản lần nầy có thêm các phần chú-giải đặc-biệt - Những mong các bậc thức-giả, cao-minh khi đọc đến tùy-thời phủ-chánh cho, nếu như trong đó vương phải điều chi sơ-xuất, sai-lầm. Tôi thật vô-vàn cảm đội ...

... Khách bộ-hành khi đi trên con đường gập ghềnh, hiểm-nạn, dưới ánh dương-quang thiêu đốt, chói-chang, tất-nhiên ai cũng muốn tìm đến chỗ bằng-phẳng có nhiều bóng cây râm-mát để tĩnh-dưỡng, nghỉ-ngơi, thì người Phật-tử học Phật (nói riêng)và con người (nói chung)cũng thế, nếu như quả-nhiên cảm nhận thấy rằng cuộc sống hiện-tại của mình có quá nhiều nỗi vất-vả, khổ đau, mê-muội, càng ngày càng chồng-chất thêm nhiều, ắt-nhiên trong tâm ai cũng đều phát ra ý-niệm muốn quay về con đường đạo-đức, tìm pháp-mầu tu-hành giải-thoát cho sớm ra khỏi vòng sanh-tử, ưu-bi...

Thuở-xưa, trong thời Tây-Hán - lúc Hán-Sở tranh-hùng - Trương-Lương (Trương-Tử Phòng)thổi tiêu cùng các tùng-nhơn hát khúc Sở-ca, mà Sở-binh động lòng nhớ quê-hương, tan-rã bỏ về nhà ...

Thì ở nơi đây cũng thế ...

Qua lời Phật dạy về pháp-môn Tịnh-độ nói chung và riêng cho quyển "TÂY-PHƯƠNG NHẬT KHÓA - MẬT TỊNH PHÁP-NGHI" nầy - Nếu quả như chư liên-hữu nhận thấy nơi cõi Ta-bà, chúng-sanh chúng-ta cứ mãi sống trong vòng khổ-não, nhơ-ác của thân-tâm cùng ngoại-cảnh, tin biết rằng có một quốc-độ tên là Cực-lạc mãi-mãi trường xuân ... nơi phương Tây của thế-giới Ta-bà nầy - Một quốc-độ sáng đẹp, mầu-nhiệm và trang-nghiêm trong bổn-tánh "Diệu-minh chơn-thể" - tất-nhiên đều phát-tâm nô-nức, cầu được sanh về ...

Pháp-môn Tinh-độ đây, đích-thực là con thuyền giải-thoát quý-báu duy-nhất cho chúng-sanh trong thời buổi mạt-pháp, rốt-ráo sau nầy, không gì hơn được. Bởi thế, trong kinh Vô-Lượng Thọ, đức bổn-sư đã dạy bảo rằng:

- "Có vô-lượng Bồ-tát ở mười phương thế-giới rất muốn nghe kinh nầy mà không được ... giả-sử khắp cõi Đại-thiên, lửa đỏ cháy hừng, vì muốn cầu pháp-môn tịnh-độ nầy mà phải vượt ngang qua nơi ấy, cũng nên mong cầu" ...

Qua lời dạy trên, ta có thể hiểu rõ được giá-trị của pháp-môn tịnh-độ nầy quý-báu biết là dường nào rồi.

Nay ta và tất-cả mọi người đang sống ở trong vòng nhiệt-não của thân-tâm và thế-giới, mà lại được nghe, được biết pháp-môn niệm Phật nầy thì đó là một điều đại hân-hạnh vậy. Phải nên tinh-tấn, trước là noi theo gót chân chư vị Liên-tông Tổ-sư cùng gương sáng của các bậc tôn-đức vãng-sanh có ghi trong các quyển: Đường về Cực-lạc, Mấy điệu sen-thanh vv... và sau nữa là gương vãng-sanh hiện đại của soạn-giả quyển nghi-thức nầy: Vô-Nhất Đại-Sư THÍCH THIỀN-TÂM Hòa-thượng - mà phát-tâm tinh-tấn, tu hành nhiều hơn nữa để cầu được vãng-sanh về miền An-dưỡng, xa lánh nẻo luân-hồi phiền-lụy, khổ đau ... Chớ nên thờ-ơ, xao-lãng mà uổng-phí tháng ngày ...

Xin vì những người đã có duyên may biết được và tu-tập theo pháp-môn tịnh-độ, cùng các hữu-duyên nhơn gặp được pháp-môn tu-tập quý-báu trong quyển "TÂY-PHƯƠNG NHẬT-KHÓA / MẬT-TỊNH PHÁP-NGHI" nầy, mà chúc mừng rằng:

"Chìm trong biển nghiệp,

Gặp chiếc từ hàng:(1)

Giữ lòng thành-kính,

Quy-mạng Giác-Hoàng. (2)

Mê-tân thệ tách, (3)

Bờ giác bước sang.

Tín, nguyện, hạnh chuyên, (4)

Lễ Vô-Lượng Quang. "

(Lược theo ý của Vô Nhất Đại-sư THÍCH THIỀN-TÂM Hòa-thượng)

Niệm Phật Tăng

THÍCH HẢI-QUANG

(Nhi-tôn đệ-tử)

Cẩn-bút.

-----------------

Ghi-chú:

(1) Từ-hàng: là chiếc thuyền từ (thuyền bát-nhã)của chưa Phật, chư Bồ-tát với chúng-sanh trong bể khổ trầm-luân.

(2) Mê-tân: là bến mê, bờ sanh-tử ...

(3) Giác-Hoàng hay gọi cho đủ là: - Giác-Hoàng Điều-Ngự - đây là một danh-xưng khác nửa để gọi cho chư Phật (nói chung)và riêng cho đức A-DI-ĐÀ Như-lai nơi Cực-lạc quốc.

(4) Tín, nguyện, hạnh:là 3 điều cần yếu không thể thiếu được của pháp-môn Tịnh-độ.

Tín: là tin-tưởng có cõi Cực-lạc và Phật A-DI-ĐÀ...

Nguyện: là phát nguyện được sanh về (Cực-lạc).

Hạnh: là sự thực hành (niệm-Phật).

Trong 3 điều nầy thì:

- Tín, Nguyện: Thuộc về LÝ.

- Hạnh: Thuộc về SỰ.

Đầy-đủ hết LÝ - SỰ thì được vãng-sanh.

SƠ-LƯỢC VỀ TIỂU-SỬ Của CỐ HÒA-THƯỢNG SOẠN-GIẢ Thân-thế và đạo-nghiệp)

I. THÂN-THẾ:

Hòa-Thượng pháp-danh là THÍCH THIỀN-TÂM pháp-hiệu LIÊN-DU, pháp tự VÔ-NHẤT, húy danh NGUYỄN NHỰT-THĂNG, xuất-gia vào năm ẤT-DẬU (1945)với đại-lão Hòa-Thượng THÍCH THÀNH-ĐẠO, tại chùa Sắc-Tứ Linh-Thứu (Xoài-Hột, Mỹ-Tho), thuộc dòng Lâm-Tế chánh-tông đời thứ 43.

Hòa-Thượng sanh năm ẤT-SỬU (1925)tại xã Bình-Xuân, quận Hòa-Đồng, tỉnh Gò-Gông (hiện nay là tỉnh Tiền-Giang). Thân-phụ là cụ ông Nguyễn Văn-Hương, thân-mẫu là cụ-bà Giác-Ân Trần thị-Dung.

Ngài là người con trai thứ ba trong số bốn người con trai của gia-đình.

II. THỜI-GIAN HỌC ĐẠO:

- Năm 1945: Hòa-Thượng xuất-gia tại SẮC TỨ LINH-THỨU TỰ.

- Năm 1948: Hòa-Thượng thọ Sa-di giới.

- Năm 1950: Hòa-Thượng thọ Cụ-túc đại giới tại giới đàn Ấn-Quang.

- Năm 1951: Hòa-Thượng hoàn-tất chương-trình Trung-đẳng Phật học tại Phật học-đường Liên-Hải và Ấn-Quang.

- Năm 1954: Hòa-Thượng hoàn-tất chương-trình Cao-đẳng Phật học tại Phật học-đường Nam-Việt với hạng tối-ưu.

- Năm 1955-1964: Hòa-Thượng nhập-thất tịnh-tu qua các trụ-xứ tại Cái-Bè, Vang Quới (Mỹ-tho)(Bến-Tre).

- Năm 1964: Hòa-Thượng triệu-hồi của giáo-hội, ngài trở về Sài gòn đảm-nhận việc thành-lập và giữ chức-vụ Giám-đốc Viện Cao-đẳng chuyên-biệt Phật-học tại An-Dưỡng-Địa, Phú-Lâm (tức là chùa Huệ-Nghiêm hiện nay).

- Phụ-trách phân-khoa Phật học tại Viện Đại-học Vạn-Hạnh. (Giáo-thọ dạy Duy-thức học).

- Giáo thọ sư tại các ni-trường Dược-Sư, Từ-Nghiêm.

- Năm 1967: Hòa-Thượng về Đại-Ninh kiến-lập Hương-Quang tịnh-thất, chuẩn-bị ẩn-tu.

- Năm 1968: Chánh-thức hoàn-trả chức-vụ lại cho Viện Hóa-Đạo, về hẳn tại Phú-An, Xã Phú-Hội huyện Đức Trọng, Tỉnh Lâm-Đồng, bế quan tịnh-tu.

- Năm 1970-1974: Qua sự tha-thiết thỉnh-cầu của tứ-chúng ngài tạm thời ra thất, kiến lập Hương-Nghiêm Tịnh-Viện (cho chư tăng)và Phương-Liên Tịnh-Xứ (cho chư ni). Mở khóa tu-học Tịnh-Độ chuyên-biệt tại 2 đạo-tràng nầy trong 3 năm liên-tiếp.

- Từ năm 1975-1992: Hòa-Thượng hoàn-toàn viễn-ly với bên ngoài, bế quan tịnh-tu vô thời-hạn. Ngài dự biết trước ngày giờ vãng-sanh hơn 6 tháng.

... Đến 4 giờ sáng ngày 21/11 Âl năm Nhâm-thân, (1992)Hòa-Thượng cho gọi thị-giả và cũng là trưởng-tử của ngài là ni-sư Thích-nữ THANH-NGUYỆT, triệu-tập các môn-đồ, pháp-quyến vào trong tịnh-thất hộ-niệm.

Đúng 6 giờ 15 phút sáng ngài lưu lại kệ sau cùng và an-nhiên thị-tịch ngay trên bản-tọa.

Đại-sư hưởng thọ tuổi đời 68, tăng-lạp 48.

Ngài là một cao-tăng đắc-đạo và được vãng-sanh Cực-lạc duy-nhất trong thời buổi cận-đại nầy.

Ngoài các công-nghiệp Tịnh-độ ra, Hòa-Thượng còn có lưu lại một hạt Ngũ Sắc Kim-Cang nha-xỉ Xá-Lợi. (Một răng-cấm 5 màu còn nguyên vẹn cứng như kim-cương, được bảo-toàn kỹ-lưỡng).

III. ĐẠO-NGHIỆP:

Hòa-Thượng đã lưu lại cho đời một số kinh-sách (đại-lược sau đây):

a. Phiên-dịch:

- Đại-bi tâm Đà-ra-ni kinh.

- Quán vô-lượng-thọ kinh.

- Đại-nhựt kinh.

- Quê-hương Cực-Lạc.

- Tịnh-độ thập-nghi luận.

- Thiện-ác nhân-quả báo-ứng kinh.

- Nhân-quả luân-hồi tạp-lục ký.

- Tam-Bảo cảm-ứng yếu-lược lục.

- Lá thơ Tịnh-độ.

b. Soạn-thuật:

- Duy-thức học cương-yếu.

- Phật-học tinh-yếu (1-2-3).

- Tịnh học tân-lương (1-2-3).

- Niệm-Phật thập-yếu.

- Mấy điệu sen-thanh (1-2-3-4-5-6-7).

- Tây-phương nhật-khóa.

- Tịnh-độ pháp-nghi ... vv ...

(Riêng quyển "Niệm-Phật thập-yếu" được xem như là một quyển sách hoằng-dương Tịnh-độ có giá-trị bậc nhất hiện-thời).

c. Trứ-tác:

- Thiền-Tâm thi-tập (gồm hơn ngàn bài-thơ đạo đủ các thể loại).

- Ẩn-tu ngẩu-vịnh, bá bát thi.

Hòa-Thượng là một đại tôn-sư hoằng-dương cả 2 pháp-môn Tịnh-độ cùng Mật-tông lững-lẫy nhất của Phật-giáo Việt-Nam đương-kim.

Sự "hoàn-nguyên" của ngài một mất-mát vô-cùng lớn-lao của giáo-hội, và để lại cho toàn-thể tăng, tín-đồ Việt-Nam ở khắp mọi nơi vô-vàn nhớ-nhung, thương-tiếc...

Pháp-Hoa Tự

Tucson, Arizona ÚA

Ưu bà-di BẢO-ĐĂNG

(Lược-thuật)

THƠ ...

TÂY-PHƯƠNG NHẬT-KHÓA ĐỀ-VỊNH ...

Muôn-luận, ngàn kinh nghĩa rối phiền,

Tây-Phương Nhật-Khóa hậu lưu-truyền.

Thiền-Tâm, Vô-Nhất chuyên lòng soạn,

Hải-Quang Đại-Đức giải lời khuyên

Nhắn ai Liên-hữu người tu TỊNH,

An-dưỡng cầu sanh chớ lạc miền.

A-DI-ĐÀ PHẬT tâm luôn niệm.

Chín phẩm đồng quy vĩnh-viễn yên.

Tuyển trong kinh-luận những lời hay,

Giải-thích xem xong động cảm hoài.

Chớ nói nhà xưa về chẳng được,

Tây-Phương Nhật-Khóa chỉ đường ngay.

A-DI sáu chữ bày tông-chỉ,

Mười vạn ức đường thẳng tắt bay.

Tam-thánh đài sen trao đở gót.

Lìa xa sanh-tử, vững lòng thay.

Nghiệp sạch, tình không chẳng dễ gì,

PHÁP-VƯƠNG nguyện-lực bất tư-nghì.

Chín-phẩm sen vàng, ba cảnh-giới, (1)

Quyết chí về Tây tắm bảo-trì.

TÂY-PHƯƠNG Nhật-Khóa bày hương-lý,

THANH-LƯƠNG cố-quốc thẳng đường đi.

Lãng-tử hồi quê ôi thỏa-dạ,

Cha lành xem lại THIỆT A-DI.

Trọng Đông, Bính-Tý niêm.

Ngày mồng một tháng giêng.

Trưởng-ban

Hoằng-pháp và nghi-lễ

Pháp-Hoa Tự, Tucson - Arizona

THÍCH HẢI-QUANG trưởng-tử.

Ưu bà-di BẢO-ĐĂNG.

(Cẩn-đề)

LỜI KHẨN-NGUYỆN CỦA NGƯỜI GIẢI-THÍCH

Kính lạy Tây-phương Tam Thánh-Tôn,

Trí-quang nguyền chiếu phá mê-hôn.

Nguyện-lực, từ-bi xin tiếp-độ,

Liên-hữu đồng quy cửu phẩm môn.

Trọng-đông, Bính-Tý niên.

PHÁP-HOA TỰ, Tucson - Arizona.

THÍCH THIỀN-TÂM, môn-hạ.

Mạt học, Niệm-Phật tăng.

THÍCH HẢI-QUANG

Kính-bái.

---------------------------

(1) - Ba cảnh giới là:

- Phàm thánh đồng cư độ (3 phẩm sen HẠ)

- Phương-tiện hữu-dư độ (3 phẩm sen TRUNG)

- Thật-báo trang-nghiêm độ (3 phẩm sen THƯỢNG)

Ba cảnh giới này bao gồm hết chín phẩm sen.

---o0o---

Vi tính: Thích Đức Tuấn -Bảo Trân

Trình bày: Nhị Tường

Ý kiến bạn đọc
16/05/201916:22
Khách
làm sao tải sách về đuọc ạ....cảm ơn nhiều
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/11/2010(Xem: 50662)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 10481)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).
23/10/2010(Xem: 9162)
Trong Cây Có Hoa Trong Đá Có Lửa Kính Dâng Hòa Thượng Thích Như Điển nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của Ngài và kỷ niệm 40 năm khai sơn Chùa Viên Giác tại Đức Quốc Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng “Trong Cây Có Hoa, Trong Đá Có Lửa” là lời pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên do Hòa Thượng Thích Như Điển nhắc lại trong thời giảng Pháp của Ngài mà tôi đã nghe được khi theo hầu Ngài trong chuyến đi Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ năm 2006. Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) là người Nhật, Ngài sinh năm 1200 và tịch năm 1253, thọ 53 tuổi. Ngài là Sáng Tổ của của Soto-Zen (Thiền Tào Động) của Nhật Bản, và là tác giả bộ sách nổi tiếng “Chánh Pháp Nhãn Tạng” “Ki no naka ni, hana ga aru (Trong cây có hoa), Ishi no naka ni, hi ga aru (Trong đá có lửa)” Đó là pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), được Hòa Thượng Như Điển dịch sang lời Việt. Lời thơ quá tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng dung chứa cả một kho tàng giáo lý về Nhân Duyên Quả của Đạo Phật.
23/10/2010(Xem: 9011)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.
23/10/2010(Xem: 8772)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
23/10/2010(Xem: 8574)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự
23/10/2010(Xem: 8108)
Cư sĩ Mai Thọ Truyền sinh ngày 01-4-1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre trong một gia đình trung lưu. Thuở nhỏ ông được theo học tại trường Sơ học Pháp - Việt Bến Tre, rồi Trung học Mỹ Tho, và Chasseloup Laubat Saigon. Năm 1924, ông thi đậu Thư ký Hành chánh và được bổ đi làm việc tại Sài Gòn, Hà Tiên, Chợ Lớn. Năm 1931, ông thi đậu Tri huyện và đã tùng sự tại Sài Gòn, Trà Vinh, Long Xuyên và Sa Đéc. Hành nhiệm ở đâu cũng tỏ ra liêm khiết, chính trực và đức độ, không xu nịnh cấp trên, hà hiếp dân chúng, nên được quý mến.
23/10/2010(Xem: 13137)
Trong lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam, vương triều Trần (1226-1400) được tôn vinh là triều đại sáng chói nhất thể hiện qua những chiến công hiển hách thắng giặc ngoại xâm cũng như chính sách hộ quốc an dân đã tổng hợp được sức mạnh của toàn dân ta cùng với vua quan trong việc bảo vệ và phát triển đất nước vô cùng tốt đẹp.
23/10/2010(Xem: 22323)
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua, và vài năm sau trở thành một nhà sư và đã để lại một di sản Thiền Tông bây giờ vẫn còn phát triển để trở thành dòng Thiền lớn nhất tại Việt Nam. Ngài tên là Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của Nhà Trần và là vị sáng lập Dòng Thiền Trúc Lâm.
22/10/2010(Xem: 27001)
Vào khoảng các năm 1972–1974, Cố Hòa thượng Thích Trí Thủ, thường được Tăng Ni-Phật tử gọi cung kính gần gũi là “Ôn Già Lam”, đang trong thời gian dài hoằng pháp tại Nha Trang và các tỉnh miền Trung, Ôn tạm an trú trên chùa Hải Đức, nơi có Phật học viện Trung Phần, trên ngọn đồi Trại Thủy. Khoảnh vườn và thềm hiên phía trước tịnh thất của Ôn dần dà trở thành một hoa viên nho nhỏ với nhiều cây cảnh hoa lá đẹp lạ, là nhờ ở bàn tay chăm sóc thương yêu của một vị cao tăng đức độ nhân từ.