Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

01. Madras, 22 tháng mười 1958

16/07/201100:30(Xem: 2933)
01. Madras, 22 tháng mười 1958

J. KRISHNAMURTI
BÀN VỀ HỌC HÀNH VÀ HIỂU BIẾT
ON LEARNING AND KNOWLEDGE
Lời dịch: Ông Không - 2009

Madras, 22 tháng mười 1958

Vấn đề của chúng ta là cái trí, cái trí mà bị quy định, bị định hình, mà đang là vật đùa giỡn của mọi ảnh hưởng, mọi văn hóa, cái trí mà là kết quả của quá khứ, bị chất nặng bởi vô số những trải nghiệm, những kỷ niệm. Làm thế nào một cái trí như thế sẽ được tự do khỏi tất cả điều này và là một cá thể tổng thể? Tôi nói điều đó có thể được chỉ khi nào có sự tìm hiểu đúng đắn, nghiêm túc về chính cái ngã – cái ngã không phải là linh hồn hay tạm gọi là cái ngã cao hơn nào đó, bởi vì lại nữa những thứ này chỉ là những từ ngữ. Tôi đang nói về cái ngã của sự tồn tại hàng ngày, cái ngã mà tức giận, cái ngã mà tham vọng, mà bị tổn thương, mà muốn được thấy, mà rất ham thích, mà nói, ‘Tôi phải được an toàn’, ‘Tôi phải nghĩ về vị trí của tôi’, và vân vân. Đó là cái ngã duy nhất mà chúng ta có. Cái ngã cao hơn, cái siêu ngã, chỉ là một học thuyết, một ý tưởng, một không-thực sự; và chẳng tốt lành gì khi theo đuổi điều không-thực sự, bởi vì việc đó chỉ dẫn đến ảo tưởng. Tôi biết tất cả những quyển sách thiêng liêng đều nói về cái siêu ngã, dù đó là bất kỳ thứ gì, và đối với một con người bị trói buộc trong cái tôi hàng ngày nó là một tẩu thoát tuyệt vời. Anh ấy càng phỏng đoán nhiều bao nhiêu, anh ấy càng viết về nó nhiều bao nhiêu, anh ấy càng nghĩ rằng anh ấy là người tôn giáo nhiều bấy nhiêu. Nhưng tôi nói rằng nếu bạn có thể tìm hiểu cái ngã mà tất cả chúng ta đều biết, cái ngã của chuyển động hàng ngày, vậy thì qua sự hiểu rõ về chính mình đó, qua sự phân tích cẩn thận, qua sự quan sát cẩn thận, bạn sẽ phát giác rằng bạn có thể phá vỡ tất cả những ảnh hưởng gây quy định tư tưởng.

Một vấn đề khác là tư tưởng, bởi chính qui trình suy nghĩ của nó, tự-quy định chính nó. Không phải thế sao? Bất kỳ tư tưởng nào bạn có đều gây ảnh hưởng cái trí. Dù rằng tư tưởng đó là tốt lành hay xấu xa, hung tợn hay hiền lành, tinh tế hay ranh mãnh – dù tư tưởng là gì chăng nữa, nó định hình cái trí. Vì vậy suy nghĩ là gì? Chắc chắn, suy nghĩ là phản ứng của điều gì bạn biết. Sự hiểu biết phản ứng, và chúng ta gọi nó là suy nghĩ. Làm ơn, hãy quan sát nó. Nếu bạn tỉnh táo, nhận biết được qui trình suy nghĩ riêng của bạn, bạn sẽ thấy rằng bất kỳ điều gì bạn suy nghĩ đã định hình cái trí rồi; và một cái trí bị định hình bởi tư tưởng không còn được tự do, và thế là nó không là một cái trí cá thể.

Vì vậy hiểu rõ về chính mình không là một qui trình của sự tiếp tục suy nghĩ nhưng là đang loại bỏ, đang kết thúc suy nghĩ. Nhưng bạn không thể kết thúc suy nghĩ bởi bất kỳ lừa gạt nào, bởi phủ nhận, bởi kiểm soát, bởi kỷ luật. Nếu bạn làm như thế, bạn vẫn còn bị trói buộc trong lãnh vực của tư tưởng. Suy nghĩ chỉ có thể kết thúc khi bạn biết toàn nội dung của người suy nghĩ, và thế là người ta bắt đầu thấy có được sự hiểu rõ về chính mình là quan trọng biết chừng nào. Hầu hết chúng ta đều hài lòng với sự hiểu rõ hời hợt về chính mình bởi những linh tinh trên bề mặt, kiến thức ABC sơ đẳng thông thường của tâm lý. Chẳng tốt lành gì khi đọc vài quyển sách về tâm lý, lượm lặt một chút ít, rồi nói rằng bạn hiểu biết. Đó chỉ là đang áp đặt cái trí vào điều gì bạn đã đọc được. Vì vậy bạn phải bắt đầu hỏi học hành là gì. Bạn thấy sự liên quan giữa hiểu rõ về chính mình và học hành? Một cái trí có hiểu rõ về chính nó là đang học hành, trái lại một cái trí mà chỉ áp đặt hiểu biết được thâu lượm vào chính nó rồi nghĩ rằng đó là hiểu rõ về chính nó chỉ đang tích lũy. Một cái trí tích lũy không bao giờ có thể học hành. Làm ơn hãy quan sát. Bạn có khi nào học hành? Bạn có khi nào tìm ra liệu bạn học hành bất kỳ thứ gì, hay liệu bạn chỉ tích lũy thông tin?

Nếu không có hiểu rõ về chính mình không có cá thể. Bạn đọc câu phát biểu này, phản ứng của bạn đến nó là gì? Bạn không hỏi, ‘Ông có ý gì qua câu phát biểu đó?’ Đó là, bạn nói, ‘Hãy giải thích, và tôi sẽ hoặc đồng ý hoặc không-đồng ý với ông’, rồi sau đó bạn nói rằng bạn đã học hành điều gì đó. Nhưng đó là học hành? Học hành là một vấn đề của đồng ý hay không-đồng ý? Bạn không thể tìm hiểu câu hỏi đó mà không có đồng ý hay không-đồng ý? Chắc chắn bạn muốn tìm ra liệu câu phát biểu đó đúng hay sai, không phải liệu bạn đồng ý hay không-đồng ý. Không ai thèm lưu tâm liệu bạn đồng ý hay không-đồng ý, nhưng nếu bạn tự-tìm ra cho chính mình liệu câu phát biểu đó có sự thật trong nó hay không, vậy là bạn thực sự đang bắt đầu thấy, học hành.

Vì vậy một cái trí mà đồng ý hay không-đồng ý, mà đến một kết luận, không thể học hành. Một cái trí chuyên biệt hóa không bao giờ là một cái trí sáng tạo. Cái trí mà đã tích lũy, mà đã đắm chìm trong hiểu biết, không thể học hành. Muốn học hành phải có một trạng thái mới mẻ; phải có một cái trí mà nói, ‘Tôi không biết, nhưng tôi sẵn lòng học hành. Hãy giải thích cho tôi’. Và nếu không có ai giải thích, nó bắt đầu tìm hiểu về chính nó. Nó không bắt đầu từ một điểm cố định và chuyển động đến một điểm cố định khác. Đó là điều gì chúng ta làm, phải không? Chúng ta đến một kết luận, và từ điểm cố định đó chúng ta nghĩ nhiều hơn và nhiều hơn đến một kết luận khác. Và qui trình này chúng ta gọi là học hành. Nhưng nếu bạn quan sát, bạn bị trói vào một cái cọc và chỉ chuyển động đến một cái cọc khác. Đó không là học hành gì cả. Học hành cần đến một cái trí sẵn lòng học hành nhưng không vì mục đích thêm vào cho nó. Bởi vì khoảnh khắc bạn bị trói buộc trong thêm vào cho bạn, bạn đã ngừng học hành. Vì vậy hiểu rõ về chính mình không là một qui trình của thêm vào. Điều gì bạn đang học hành là về cái ngã, về những phương cách của cái trí. Bạn đang học hành về những ranh ma của nó, những tinh tế của nó, những động cơ của nó, những khả năng lạ thường của nó, chiều sâu của nó, bao la của nó. Và muốn học hành bạn phải tiếp cận bằng sự khiêm tốn cực kỳ. Một con người có sự hiểu biết tích lũy không bao giờ có thể biết được khiêm tốn. Anh ấy có thể nói về khiêm tốn, anh ấy có thể trích dẫn những từ ngữ về khiêm tốn, nhưng anh ấy không có ý thức của khiêm tốn. Cái người mà học hành có sự khiêm tốn từ cơ bản.

Vậy là chúng ta có vấn đề của tạo ra cá thể đúng đắn này. Một cá thể như thế không thể tạo ra được nếu không qua hiểu rõ về chính mình, và bạn phải học hành về cái ngã. Không thể có bất kỳ chỉ trích nào về điều gì bạn tìm được, và không thể có bất kỳ nhận dạng nào với điều gì bạn tìm được, bởi vì bất kỳ nhận dạng, bào chữa, hay chỉ trích nào đều là kết quả của sự tích lũy, và vì vậy bạn không còn học hành. Làm ơn hãy thấy sự quan trọng của điều này. Nghe ra nó có vẻ rất mâu thuẫn, nhưng không phải vậy. Nếu bạn muốn quan sát, bạn sẽ thấy học hành là cần thiết biết chừng nào, và muốn học hành phải có một ý thức của khiêm tốn tuyệt đối, và không có khiêm tốn nếu có sự chỉ trích về điều gì bạn thấy trong chính bạn. Tương tự, nếu bạn thấy điều gì đó tốt lành và đồng hóa chính bạn với điều đó, vậy thì bạn không còn học hành. Vì vậy một cái trí có thể học hành là một cái trí cá thể đúng đắn, không phải cái trí đã tích lũy. Lúc này chúng ta luôn luôn đang thêm vào những tích lũy của chúng ta.

Ví dụ, bạn có khi nào tìm hiểu trải nghiệm là gì? Hãy quan sát, đừng chỉ lắng nghe tôi nhưng hãy quan sát cái trí riêng của bạn và thâm nhập vào nó khi tôi đang nói chuyện. Khi bạn nói, ‘Tôi đã có một trải nghiệm’, bạn có ý gì qua từ ngữ đó? Trải nghiệm có nghĩa – phải không? – một cảm xúc, một phản ứng mà có thể được công nhận. Tôi công nhận rằng tôi đang có một trải nghiệm lý thú hay một trải nghiệm buồn bực. Tôi công nhận nó bởi vì trước kia tôi đã có một trải nghiệm tương tự. Thế là những trải nghiệm trước kia quy định trải nghiệm hiện tại. Nó không là một trải nghiệm mới mẻ. Nếu nó là một trải nghiệm mới mẻ, ngay tức khắc nó được công nhận và được diễn giải và được đẩy vào cái cũ kỹ. Vậy là mỗi trải nghiệm quy định cái trí, bởi vì tất cả trải nghiệm được công nhận bằng phương tiện của trải nghiệm trước kia. Vậy là trải nghiệm không bao giờ là một nhân tố giải thoát.

Trong khi toàn thế giới đang phát triển những kỹ thuật viên, những người chuyên môn, với mọi tư tưởng đều bị định hình và bị quy định, không thể có khả năng cho bất kỳ người nào để là một cá thể. Khả năng là một cá thể chỉ hiện diện khi bạn bắt đầu hiểu rõ và học hành về chính bạn, không qua những quyển sách, bởi vì cái ngã – bạn là gì – không thể được hiểu rõ qua người khác. Bạn phải tự-quan sát nó, và bạn có thể quan sát nó bằng sự rõ ràng, mãnh liệt, và sự hướng dẫn có mục đích chỉ trong liên hệ. Cách bạn cư xử, cách bạn nói chuyện, cách bạn nhìn một cái cây hay một bông hoa, cách bạn nói với người giúp việc, chuyển động của hai bàn tay, đôi mắt của bạn, mọi thứ sẽ phơi bày, nếu bạn tỉnh táo, cái trí của bạn làm việc như thế nào, và cái trí là cái ngã. Nó có thể sáng chế siêu ngã – hay nó có thể sáng chế địa ngục – nhưng nó vẫn còn là cái trí.

Nếu cái trí không tự-hiểu rõ về chính nó, không thể có tự do. Tự do không thể đến bằng sự tích lũy. Bạn phải học hành cái trí là vật lạ thường như thế nào. Nó là vật kỳ diệu nhất mà chúng ta có, nhưng chúng ta không biết cách sử dụng nó. Chúng ta chỉ sử dụng nó tại những mức độ nào đó, những mức độ tự cho mình là trung tâm được đặc biệt hóa. Nó là một dụng cụ tuyệt vời, một vật sống mà chúng ta vẫn còn chưa biết đến bao nhiêu. Chúng ta chỉ biết những dải hời hợt, những tầng mong mỏng của ý thức, nhưng chúng ta không biết tổng thể sự hiện diện của cái trí, những chiều sâu lạ thường. Và bạn không thể biết nó chỉ bằng cách phỏng đoán về nó. Bạn chỉ có thể học hành về nó, và muốn học hành bạn phải trao chú ý trọn vẹn. Chú ý khác hẳn tập trung. Tập trung chỉ làm chật hẹp cái trí, nhưng chú ý là một trạng thái trong đó mọi thứ hiện diện.

Vì vậy điều gì quan trọng cho một con người tôn giáo không phải là sự lặp lại điều gì anh ấy đã học hành từ những quyển sách hay những trải nghiệm mà tình trạng bị quy định của anh ấy đã chiếu rọi, nhưng quan tâm đến sự hiểu rõ về chính anh ấy mà không có bất kỳ ảo tưởng, không có bất kỳ che đậy, không có bất kỳ biến dạng – thấy mọi sự việc sự vật trong chính anh ấy như chúng là. Và muốn thấy mọi thứ như chúng thực sự là là một công việc gian nan cực kỳ. Tôi không hiểu liệu bạn đã từng thực hiện nó. Tôi không hiểu liệu bạn đã từng quan sát bất kỳ thứ gì mà không tô màu nó, mà không biến dạng nó, mà không đặt tên nó. Tôi gợi ý bạn cố gắng nhìn ngắm điều gì bạn gọi là tham lam, hay ganh ghét, và thấy rằng khi nhìn ngắm nó khó khăn làm sao đâu, bởi vì những từ ngữ tham lam, ganh ghét, chuyên chở cùng chúng một ý nghĩa chỉ trích. Bạn có lẽ là một người tham lam, một người tham vọng; nhưng muốn quan sát cảm giác, cảm xúc của tham vọng mà không chỉ trích nó, chỉ quan sát nó, đòi hỏi, như bạn sẽ thấy, khả năng lạ thường.

Tất cả điều này là một phần của hiểu rõ về chính mình, và nếu không có hiểu rõ về chính mình, dù bạn làm bất kỳ điều gì, đổi mới, có mọi loại cách mạng, những người siêu lãnh đạo, những người siêu chính trị, bạn sẽ không bao giờ có thể tạo ra một thế giới trong đó cá thể trở thành một sinh vật tổng thể và thế là có thể gây ảnh hưởng xã hội. Vì vậy nếu bạn quan tâm điều này, chúng ta sẽ tìm hiểu nó rất, rất nghiêm túc. Nhưng nếu bạn chỉ muốn hời hợt tìm hiểu nó, tốt hơn đừng làm như thế. Thà rằng có một ít người thực sự rất nghiêm túc còn hơn là có nhiều người là những người theo sau. Điều gì cần thiết là trạng thái đúng đắn, một cái trí đúng đắn mà bắt đầu tìm hiểu bên trong nó. Một cái trí như thế sẽ tự-tìm được cho chính nó điều được gọi là sự thật.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/01/2017(Xem: 5380)
Phật pháp tại thế gian, chẳng thể lìa thế gian mà có. Thế nên biết, người muốn ngộ được lẽ thật của muôn pháp, cũng phải từ muôn pháp mà ngộ, muốn nhận rõ Bản tâm chân thườngcũng phải từ chiếc thân tứ đại vô thường mà nhận.
08/01/2017(Xem: 6116)
Phật pháp tại thế gian, chẳng thể lìa thế gian mà có. Thế nên biết, người muốn ngộ được lẽ thật của muôn pháp, cũng phải từ muôn pháp mà ngộ, muốn nhận rõ Bản tâm chân thường cũng phải từ chiếc thân tứ đại vô thường mà nhận.
07/01/2017(Xem: 6673)
Phật pháp tại thế gian, chẳng thể lìa thế gian mà có. Thế nên biết, người muốn ngộ được lẽ thật của muôn pháp, cũng phải từ muôn pháp mà ngộ, muốn nhận rõ Bản tâm chân thường cũng phải từ chiếc thân tứ đại vô thường mà nhận.
27/12/2016(Xem: 5991)
Lịch sử là bài học kinh nghiệm luôn luôn có giá trị đối với mọi tư duy, nhận thức và hành hoạt trong đời sống của con người. Không có lịch sử con người sẽ không bao giờ lớn khôn, vì sao? Vì không có lịch sử thì không có sự trải nghiệm. Không có sự trải nghiệm thì không có kinh nghiệm để lớn khôn.
25/12/2016(Xem: 3840)
Theo các nhà nghiên cứu Phật học thì Đức Phật Thích ca đã dùng tiếng Magadhi để thuyết Pháp. Tiếng Magadhi là ngôn ngữ thuộc xứ Magadha ở vùng trung lưu sông Ganges (Hằng hà). Rất nhiều sắc lệnh của Đại đế Asoka được khắc trên các tảng đá lớn và các cây cột lớn được tìm thấy có thể cho chúng ta biết một phần nào về ngôn ngữ mà Đức Phật đã nói như thế nào.
22/12/2016(Xem: 18537)
Tất cả chúng ta đều biết rằng lời Phật dạy trong 45 năm, sau khi Ngài đắc đạo dưới cội cây Bồ Đề tại Gaya ở Ấn Độ, đã để lại cho chúng ta một gia tài tâm linh đồ sộ qua khẩu truyền cũng như bằng văn tự. Kể từ đó đến nay, con Người vĩ đại ấy và giáo lý thậm thâm vi diệu của Ngài đã vượt ra khỏi không gian của xứ Ấn và thời gian trải dài suốt 26 thế kỷ từ Á sang Âu, từ Âu sang Mỹ, từ Mỹ sang Úc, Phi Châu v.v… Như vậy đủ để cho chúng ta thấy rằng giáo lý ấy đã khế hợp với căn cơ của mọi người, dầu tu theo truyền thống Nam truyền hay Bắc truyền và ngay cả Kim Cang Thừa đi nữa cũng là những cổ xe đang chuyên chở mọi người đi đến con đường giải thoát của sanh tử luân hồi.
20/12/2016(Xem: 10303)
Đức Phật xuất hiện ở đời vì hạnh phúc chư thiên và loài người. Sau 49 năm thuyết pháp, độ sinh, ngài đã để lại cho chúng ta vô số pháp môn tu tập tùy theo căn cơ của mỗi người nhằm chuyển hóa nỗi khổ và niềm đau, mang lại hạnh phúc an vui, giải thoát, niết bàn. Chỉ xét riêng thánh quả Dự Lưu (Tu Đà Hườn), trong kinh điển Nikaya (Pali) Thế Tôn và ngài Xá Lợi Phất chỉ ra hơn năm cách[i] khác nhau tùy theo hoàn cảnh và sở trường của hành giả xuất gia cũng như tại gia để chứng đắc thánh quả đầu tiên này trong bốn thánh quả. Trong những cách này, cách dễ nhất, căn bản nhất, phổ quát nhất và hợp với đại đa số chúng đệ tử nhất
16/07/2016(Xem: 7923)
Nếu trang phục truyền thống của một dân tộc hay quốc gia biểu đạt bản sắc văn hóa về y phục của dân tộc hay quốc gia đó, thì pháp phục Phật giáo thể hiện bản sắc đặc thù, khác hẳn với và vượt lên trên các quốc phục và thường phục của người đời, dù ở phạm vi dân tộc hay quốc gia. Lễ phục tôn giáo nói chung và pháp phục Phật giáo nói riêng thể hiện tình trạng tôn giáo và xã hội (social and religious status), được sử dụng trong hai hình thức, mặc trong sinh hoạt thường nhật và mặc trong các nghi lễ tôn giáo, nói chung các dịp đặc biệt.
24/04/2016(Xem: 24470)
Qua mạng Amazon.com, tôi đặt mua cuốn sách tiếng Anh “In The Buddha’s Words” của Bhikkhu Bodhi ngay sau khi xuất bản năm 2005. Đọc sơ qua phần đầu rồi để đó. Mỗi lần đi đâu, tôi mang theo để đọc từ từ vài trang, trong lúc chờ đợi, trước khi đi ngủ. Cứ thế dần dần qua năm tháng. Rồi cũng không thẩm thấu được bao nhiêu.
04/03/2016(Xem: 12314)
Trong thời gian làm việc tại Thư viện Thành hội Phật giáo đặt tại chùa Vĩnh Nghiêm, quận 3, tôi gặp được cuốn Tôn Giáo Học So Sánh của Pháp sư Thánh Nghiêm biên soạn. Do muốn tìm hiểu về các tôn giáo trên thế giới đã lâu mà vẫn chưa tìm ra tài liệu, nay gặp được cuốn sách này tôi rất toại ý.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
99,487,102