Lời giới thiệu - Lời người dịch

28/04/201104:45(Xem: 9980)
Lời giới thiệu - Lời người dịch

XÃ HỘI HỌC PHẬT GIÁO
Buddhist Sociology
Nandasena Ratnapala - Thích Huệ Pháp dịch
Nhà xuất bản Văn Hóa Sài Gòn 2011

LỜI GIỚI THIỆU

Quyển Xã hội học Phật giáo của tiến sĩ Ratnapala được thầy Thích Huệ Pháp dịch là tác phẩm tương đối hoàn chỉnh và có hệ thống về chủ đề này.

Với 13 chương, tác phẩm đã khảo cứu các vấn đề liên hệ đến xã hội Phật giáo, bao gồm học thuyết chính trị xã hội, hội nhập xã hội, Phật giáo và kinh tế, phụ nữ, gia đình, giáo dục, kiểm soát hành vi xã hội, bạo lực, khủng bố, rượu, ma túy và sức khỏe con người.

Một xã hội cường thịnh đâu phải do đầu tư về các loại vũ khí hay sự lớn mạnh đơn thuần về kinh tế, mà phải là một xã hội vì dân, được dân ủng hộ, khích lệ đạo đức, đầu tư giáo dục, đẩy mạnh phát triển bền vững, đảm bảo hòa bình và vì hạnh phúc của dân.

Thể chế chính trị theo Phật giáo dựa trên công bằng pháp luật và đề cao dân chủ, hòa giải dân tộc, duy trì công lý, xóa bỏ hận thù, thắt chặt tình hữu nghị giữa các quốc gia (Mahavatsu). Trong 5 loại quyền lực: quyền lực chính trị, quyền lực giàu sang, quyền lực cộng đồng, quyền lực dòng dõi và quyền lực trí tuệ được kinh Phật đề cập đến thì quyền lực trí tuệ được xem là quyền uy đích thực. Đầu tư và phát triển về loại quyền lực này, dân trí được nâng cao, giáo dục được phát triển, các tệ nạn xã hội được chấm dứt, luật pháp được tôn trọng, an ninh được đảm bảo, người dân được hạnh phúc và đất nước được phồn vinh.

Quan niệm chính trị đó đã được đại đế Asoka áp dụng như nghệ thuật quản trị quốc gia, nhờ đó đất nước Ấn Độ trong giai đoạn ông trị vì được phồn vinh và phát triển.

Sự phân tầng xã hội qua các hình thái giai cấp, địa vị cao thấp sang hèn, quyền lực mạnh hay yếu theo quan điểm của ba bộ Kinh Vệ Đà thuộc Ấn Độ giáo sẽ không thể làm xã hội phát triển. Theo đức Phật, chính vì vô minh và tham ái, con người đã tạo ra phân tầng xã hội, các bất công giai cấp, dẫn đến tình trạng bất ổn lâu dài.

Nếu theo luật Manu, giai cấp Sát Đế Lợi (vua chúa) độc quyền về chính trị; giai cấp Bà La Môn (tu sĩ ấn giáo) độc quyền về giáo dục và tôn giáo; giai cấp thương gia chăm sóc bao tử của xã hội; giai cấp cùng đinh sẽ làm nô lệ và phục dịch cho các giai cấp trên được xem là phân công lao động của Thượng đế, thì theo đức Phật tập cấp xã hội cha truyền con nối là hình thái bất công lớn nhất trong lịch sử con người, do một thiểu số tạo ra và áp chế đại đa số còn lại.

Nhiều nhà chính trị và tôn giáo đã sử dụng thánh kinh Vệ Đà để tôn vinh chính mình như các thiên tử, làm giàu trên sự khổ đau của người khác. Theo đức Phật, nếu các hành vi cá nhân không thể tạo ra một định mệnh thì các hành vi tập thể, bao gồm văn hóa và phong tục tập quán, không thể là sự an bài của Thượng đế.

Mỗi người từ khi sanh ra với sở đoản và sở trường, tự chọn lấy cho mình khuynh hướng nghề nghiệp, theo đó cuộc sống cá nhân và xã hội được tiến triển. Nghề, một tập hợp của các nghiệp được tái lập lại với một mục đích, là sự lựa chọn của ý chí tự do. Nghề nghiệp không chọn lấy con người. Con người với ý thức, sở thích hoặc điều kiện hoàn cảnh đã chọn lấy nghề.

Tự đặt ra tập cấp rồi bắt mọi người phải theo chỉ làm xã hội ngày càng tồi tệ hơn. Theo đức Phật giải phóng tập cấp, cởi ách nô lệ khỏi Thượng đế và Thần linh bằng trí tuệ và hùng lực sẽ giúp cho con người đạt được tự do đích thực. Đây cũng chính là nhân quyền cao nhất mà con người có thể có.

Phật giáo xác định rằng gia đình là nơi mà các thành viên gắn bó với nhau trong huyết thống, tình cảm thân thiết, tương kính và tương trợ để xây dựng hạnh phúc cho nhau. Ngoài các tương quan gia đình giữa vợ và chồng, cha mẹ và con cái, anh chị em và thân quyến, mỗi thành viên còn có các tương quan xã hội giữa con người với con người, con người với luật pháp, con người với thiên nhiên.

Hạnh phúc gia đình chỉ được đảm bảo khi mọi thành viên tự nguyện cam kết sống đời đạo đức và tuân thủ luật pháp. Văn hóa ứng xử với hòa kính an vui được xem là nền tảng duy trì hạnh phúc. Mối quan tâm và giúp đỡ giữa các thành viên trong gia đình sẽ góp phần giải phóng nỗi khổ đau mà mọi gia đình đang đối diện.

Theo đức Phật, phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong đời sống gia đình và hạnh phúc xã hội, họ xứng đáng được hưởng các quyền bình đẳng. Đức Phật khẳng định phụ nữ cũng có khả năng về tri thức, tham gia quản trị quốc gia và làm thành công bất kì những nỗ lực chân chánh nào mà người nam có thể đạt được. Đức Phật là người đầu tiên trong lịch sử nhân loại đề cao bình đẳng nam nữ và cho phép họ trở thành các tỳ kheo ni cao quý.

Luật Manu của Ấn Độ giáo quy định: “Ngày cũng như đêm, người nữ phải nương tựa vào đàn ông thân quyến trong gia đình. Khi còn bé lệ thuộc vào cha. Khi lên xe hoa lệ thuộc vào chồng. Khi về già lệ thuộc con trai. Suốt đời người phụ nữ không có quyền tự chủ và độc lập” (chương 9 điều 2). Ngược lại đức Phật chấp nhận phái nữ, thông qua đời sống tu tập tâm linh, họ đã trở thành thánh nhân và có nhiều đóng góp cao quý cho cuộc đời. Giá trị bình đẳng nam nữ như một phần của học thuyết công bình xã hội, và học thuyết này đã trở thành cuộc cách mạng soi sáng nhận thức của con người.

Rượu và các chất gây say, bao gồm các loại ma túy và độc tố, theo đức Phật có khi là nguyên nhân trực tiếp, có lúc là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến các hình thái tệ nạn xã hội mà hình phạt nhà tù chỉ là một sự ngăn chặn chứ không phải là giải pháp. Ngăn cấm sản xuất, buôn bán, sử dụng rượu và các chất gây say là biện pháp ngăn chặn các hậu quả đối với cá nhân và xã hội.

Rượu và các độc tố gây nhiều chứng bệnh, kéo theo giảm sức khỏe và dễ phẫn nộ bạo lực, đánh mất tự trọng, gia tăng mặc cảm, đánh mất uy tín, và quan trọng hơn là tổn giảm trí tuệ. Thực tập các phương pháp tâm linh trong đạo Phật nhằm giúp cho mọi người chuyển hóa các thói quen tiêu cực về nghiện ngập, mặt khác đảm bảo được chất liệu và chất lượng hạnh phúc cho cuộc sống.

Sức khỏe, theo Phật giáo, có thể đạt được từ lối sống lành mạnh, vượt qua các thói quen nghiện ngập, mặt khác còn liên hệ đến chế độ sinh hoạt thường nhật. Truyền thống hành khất vào buổi sáng của người xuất gia, thiền hành vài ba lần trong một ngày, hoặc đi kinh hành trong chánh niệm có khả năng giảm bệnh tật, tăng sức khỏe. Từ trạng thái kiện toàn sức khỏe của thân, người học Phật sẽ hướng đến kiện toàn sức khỏe tâm linh. Làm chủ các giác quan, tiết chế trong ăn uống, chuyển hóa tham, sân, si, dấn thân và sẽ giúp cho người tu học khỏe mạnh và sống thọ.

Sức khỏe tốt không chỉ có khả năng đẩy lùi bệnh tật mà còn giúp cho thân thể nhẹ nhàng, dẻo dai hướng đến hạnh phúc. Nếu các bệnh từ thân phải được điều trị bằng các loại dược liệu, thì các bệnh về tâm phải được điều trị bằng sự chuyển hóa.

Đạo Phật đề cao sự phòng ngừa bệnh và vệ sinh thân thể. Đức Phật khích lệ các hình thức hỗ trợ bệnh nhân bằng cách thăm viếng, chăm sóc và hộ niệm giúp họ vượt qua nỗi đau của thân để làm chủ nỗi khổ của tâm. Sống và làm việc theo gương hạnh từ bi, thực tập ăn chay, bảo vệ môi trường, thấy rõ quyền bình đẳng sự sống… là những yếu tố tích cực giúp con người sống khỏe, sống thọ và sống hạnh phúc.

Bạo lực, khủng bố liên hệ ít nhiều đến hành vi tội phạm. Phân tích nguyên nhân dẫn đến chúng sẽ góp phần ngăn chặn chúng. Trong kinh Pháp cú, đức Phật dạy phương pháp quy chiếu, “lấy mình làm ví dụ” nhằm khích lệ mọi người không tán đồng, không can dự, không đồng lõa các hình thái bạo lực và khủng bố.

Nhận thức về nỗi khổ niềm đau mà các hình thái bạo lực và khủng bố có thể ảnh hưởng đến mình sẽ giúp cho mọi người ngăn chặn mầm móng của chúng, không gây thương hại cho ai. Bạo lực khủng bố và tội phạm dễ phát sinh nhưng khó kết thúc. Sự tu tập từ bi và trí tuệ có khả năng giúp cho con người chuyển hóa được chúng. Theo đức Phật, tội phạm có gốc rễ từ tham, sân, si. Do đó, con người không phải là kẻ thù của con người.

Quán chiếu về “vô tác nhân” có khả năng làm giảm hận thù và trả đũa. Quán chiếu “vô thọ giả” tức “không có nạn nhân”, có thể giúp cho kẻ bất hạnh thoát khỏi khổ đau đang có. Trừng phạt tội phạm chỉ có khả năng ngăn chặn chúng. Trong khi kiểm soát hành vi xã hội bằng các nghệ thuật chuyển hóa mới có khả năng giúp xã hội phát triển bền vững.

Theo đức Phật, giảm thiểu sự nghèo đói, đảm bảo việc làm, nâng cao dân trí, bình đẳng trước pháp luật, đề cao nhân quyền, tôn trọng kỷ cương phép nước là những biện pháp hữu hiệu trong việc ngăn chặn tội phạm.

Sự phê bình của xã hội và lương tâm của mỗi cá nhân có khả năng soi sáng giúp kẻ tội phạm kiểm soát hành vi xã hội của mình. “Quay đầu là bờ” được xem là nền tảng nhận thức quan trọng, theo đó người phạm tội có khả năng làm mới đời sống đạo đức. Không có cái gọi là “công lý báo thù” do các hành động bất thiện. Trừng phạt là để ngăn chặn, cải tạo và chuyển hóa thói xấu của phạm nhân. Nhận thức trên nền tảng của sự tiến bộ có khả năng giúp cho phạm nhân trở thành người hiền lương đích thực.

Trình bày xã hội Phật giáo từ các vấn đề căn bản nêu trên đã được tác giả áp dụng phương pháp so sánh kinh luật vốn là nguồn dữ liệu chủ yếu liên quan đến xã hội học. Theo tác giả, mục tiêu của quyển sách là nhằm gây tạo ý thức về sự hội nhập hoàn toàn của Phật giáo vào xã hội đương đại.

Theo thời gian, các vấn nạn xã hội xuất hiện tồn tại và phát triển. Nghiên cứu ứng dụng xã hội học Phật giáo giúp cho người đọc rút ra được các giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn và vượt qua chúng. Nếu đối tượng nghiên cứu của xã hội học là con người thì phạm vi nghiên cứu của xã hội Phật giáo còn đi xa một bước, bao gồm các loài động, thực vật.

Nội hàm và ngoại diên của xã hội Phật giáo rộng hơn xã hội học đời thường. Do đó sự nghiên cứu về xã hội Phật giáo của tác phẩm này chỉ là sự khởi đầu. Hành trình còn lại đang bỏ ngỏ. Kính mời quý độc giả hãy tự mình dấn bước trên hành trình đó để góp phần mở ra một xã hội hòa bình, phát triển và an vui.

Tháng 04 năm 2010

Trân trọng

Thích Nhật Từ
Phó viện trưởng HVPGVN tại TP.HCM


LỜI NGƯỜI DỊCH

Năm 2001, sau khi tốt nghiệp khoa Xã hội học trường đại học Khoa học - Xã hội và Nhân văn tại thành phố Hồ Chí Minh, kể từ đó, tôi luôn trăn trở để tìm hiểu xem liệu rằng trong giáo lý Phật giáo có tư tưởng về Xã hội học hay không. Bẵng đi một thời gian, theo đuổi những công việc không liên quan tới học thuật, tôi trở lại môi trường đại học mà lần này sang tận Ấn Độ - cái nôi của Phật giáo - để học tập và nghiên cứu tại trường đại học Delhi vào năm 2006. Tại đây, tôi đã tiếp cận được nhiều học thuyết mới từ những giáo sư danh tiếng tại Ấn Độ cũng như tài liệu về nhiều phương diện từ các học giả ở các nước. Từ đó, duyên đã tới, tôi được giới thiệu để dịch quyển sách mà tôi rất tâm đắc là cuốn Xã hội học Phật giáo. Tôi đã quyết định dịch quyển sách này trong thời gian chờ khóa học tiến sĩ Phật học sắp tới. Tôi mạo muội và cố gắng hết sức để góp một quyển sách nhỏ vào tủ sách Phật giáo nước nhà.

Không cần nhiều lời để giới thiệu về cuốn sách vì giáo sư Nandasena Ratnapala - giáo sư trường đại học Sri Jayawarde- nepura, Sri Lanka - trong lời dẫn của mình đã giới thiệu đầy đủ và chi tiết. Trong khi dịch, có những câu Pháp cú, tôi xin trích nguyên văn lời dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu, mà theo tôi, bảng dịch của Hoà thượng là chuẩn xác và dễ hiểu nhất. Ở đây, tôi chỉ muốn nói lời cảm ơn tới những người trực tiếp cũng như gián tiếp giúp tôi hoàn thành tác phẩm này.

Trước hết, xin gởi quyển sách nhỏ này đến sư phụ của con: Thượng toạ Thích Trí Viên, chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa – Nha Trang, Người luôn khuyến khích các đệ tử học, học và học mãi. Nếu không có lời sách tấn của Người, con sẽ không có được Chân Huệ Mạng như ngày hôm nay. Gởi đến sư huynh Thích Huệ Giáo, người đã trợ duyên rất lớn để sư đệ có mặt tại Ấn Độ ngay từ những ngày đầu tiên. Gởi tới song thân Phụ mẫu và phật tử chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa những lời thân thương nhất, quý vị đã đem từ hạt gạo, hạt muối và góp công sức để nuôi Tăng chúng Kỳ Viên trong đó có tôi, cho đến hôm nay và còn tiếp tục đến ngày mai. Lời cảm ơn chân thành tới các vị ân nhân trong và ngoài nước trực tiếp cũng như gián tiếp trợ duyên để Huệ Pháp tiếp tục con đường học vấn.

Và cuối cùng, chân thành tri ân tới đại đức tiến sĩ Thích Hạnh Chánh, Người đã không những giới thiệu cuốn sách này để con dịch thuật mà còn động viên trong suốt quá trình làm việc. Ngoài ra, thầy cũng là người kiểm tra bảng dịch của con trước khi in ấn. Con tỏ lòng thành tri ân đến thầy.

Bằng tất cả nỗ lực của mình, trong quá trình dịch thuật không tránh khỏi sơ suất, tôi mong nhận được những lời chỉ dẫn và phê bình từ quý vị thiện hữu tri thức.

Trân trọng, Thích Huệ Pháp
(Delhi, mùa đông- 2008)
(thư điện tử gởi về: [email protected])
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/02/2012(Xem: 5730)
Trong hai thập kỷ qua, tôi đã tiếp xúc liên tục với các cộng đồng Phật giáo, trong cả hai: văn hóa truyền thống và công nghiệp hóa phương Tây. Những kinh nghiệm này đã làm cho tôi nhận thức được rằng sự phát triển công nghiệp không chỉ ảnh hưởng đến cách sống của chúng ta, nhưng còn là quan điểm thế giới của chúng ta. Tôi cũng đã học được rằng nếu chúng ta muốn tránh một sự hiểu sai đối với giáo lý Phật giáo, chúng ta cần phải xem xét chặt chẽ vào sự khác biệt cơ bản giữa các xã hội là bộ phận của nền kinh tế toàn cầu công nghiệp hóa và điều này phụ thuộc vào nhiều nền kinh tế địa phương.
15/02/2012(Xem: 5950)
Đức Phật xuất thân từ một chiến binh đẳng cấp và ngài được sinh ra trong xã hội với các vị vua, hoàng tử và các quần thần. Mặc dù nguồn gốc và sự liên hệ của Ngài như thế, Ngài không bao giờ viện đến sự ảnh hưởng của quyền lực chính trị để giới thiệu trong sự giảng dạy của Ngài, và cũng không cho phép Giáo pháp của Ngài lạm dụng sự ảnh hưởng này để đạt được quyền lực chính trị.
15/02/2012(Xem: 6193)
Lý tưởng nhất, giáo dục là công cụ chủ yếu của việc tăng tiến con người, cần thiết cho việc thay đổi trẻ con mù chữ thành một người lớn trưởng thành và có trách nhiệm. Tuy nhiên, ngày nay ở khắp mọi nơi, cả trong các nước phát triển và các nước đang phát triển, chúng ta có thể thấy rằng hình thức giáo dục đang gặp rắc rối nghiêm trọng. Sự giảng dạy lớp học đã trở thành thông lệ và được vỗ về rằng trẻ em thường cân nhắc việc học và thực tập trong sự kiên nhẫn chứ không phải là một cuộc mạo hiểm trong học tập.
14/02/2012(Xem: 9014)
Phật Giáo khuyên chúng ta phải luôn giữ sự chính xác và phải chú tâm đến từng cảm nhận của mình trong cuộc sống, trong mỗi tư duy, trong từng xúc cảm, và mỗi hành động của mình.
25/01/2012(Xem: 7439)
Phật tử phải có trách nhiệm bảo tồn và duy trì di sản Phật đã để lại. Phật tử phải sống với triết lý của vô thường và tìm ra những phương thức mới để khuyến khích đa số quần chúng.
25/01/2012(Xem: 7241)
Tôn giáo có mặt cùng thời với lịch sử con người. Có vật chất, tất phải có tinh thần. Có sống chết, có hiện tượng còn mất trong đời sống vật lý, tất phải có các mô thức tâm lý và tâm linh để chống lại sự mất còn bèo bọt đó. Từ đấy, tham vọng bất tử của con người là phải xây dựng một hệ thống thần linh để nuôi lớn hy vọng (có thật)thành đức tin (ước mơ)rằng, con người sẽ sống đời vĩnh hằng sau khi chết trong một thế giới thiêng liêng của thần linh... Sự chuyển mình từ sức mạnh thần quyền sang sức mạnh nhân quyền trong nhiều khía cạnh vi tế và phức tạp của đời sống đã làm cho đạo Phật mỗi ngày một hiển lộ trước cái nhìn tỉnh thức của nhân loại.
09/01/2012(Xem: 23325)
Con người và loài thú đều giống nhau: đói thì kiếm ăn,khát thì kiếm nước uống, cũng đều duy trì bản năng sinh tồn như nhau. Loài thúcũng biết tổ chức theo từng đàn để bảo vệ cho nhau. Chúng cũng có cảm xúc âu yếm, đùa giỡn bên nhau, đó làsự biểu lộ hạnh phúc của chúng. Nhưng chúng không biết tư duy, vì vậy chúng vẫnlà loài thú...
07/01/2012(Xem: 9941)
Trong sự phát triển quá nhanh chóng của xã hội ngày nay, phật tử khắp nơi trên thế giới trở nên linh hoạt hơn trong việc bảo vệ lẫn truyền bá tư tưởng đạo Phật của họ. Với con số khoảng 500 triệu phật tử, đạo Phật được xem là tôn giáo lớn nhất thứ tư của hành tinh này. Đạo Phật có hai tông phái chính: Theravada (Phật giáo Nguyên thủy) và Mahayana (Phật giáo Đại thừa) cùng nhiều môn phái khác, trong đó gồm có môn Thiền quen thuộc cùng những bản kinh dịch khác nhau của người Tây Tạng...
05/01/2012(Xem: 7192)
Nền giáo dục hòa bình của Đạo Phật là một con đường đạo đức nhân bản và thiết thực, là căn cứ trên chân lý từ bi, công bằng và ngay thẳng để thông cảm giữa những quốc gia, chủng tộc, cộng đồng và tôn giáo, nhằm mục đích thiết lập một cuộc sống ổn định, hạnh phúc cho gia đình và xã hội. Việc diệt trừ tham ái thì có rất nhiều lợi ích, mang lại cuộc sống an lạc, hạnh phúc và giải thoát ngay trong cuộc đời này. Trên thực tế thì có rất nhiều lợi ích, ở đây người viết chỉ nêu những lợi ích chính về hòa bình, về môi trường, và đạo đức.
31/12/2011(Xem: 9338)
Mọi người đều biết là Đức Phật không hề bắt ai phải tin vào giáo lý của Ngài và Ngài khuyên các đệ tử hãy sử dụng lý trí của mình dựa vào các phương pháp tu tập...