X. Tóm Tắt

11/12/201017:07(Xem: 11248)
X. Tóm Tắt

J. KRISHNAMURTI
CÁ THỂ VÀ XÃ HỘI
INDIVIDUAL & SOCIETY
Lời dịch: ÔNG KHÔNG Tháng 7-2010

X- TÓM TẮT

 

B

ây giờ, một con người mà thấy chính xác điều gì đang xảy ra trong thế giới, và thực sự muốn tìm ra liệu Thượng đế, sự thật, là một thực tế hay chỉ là một sáng chế ranh mãnh của vị giáo sĩ? Rốt cuộc, bạn và tôi là kết quả của tập thể, đúng chứ? Và phải có những con người cá thể đã hoàn toàn phá vỡ khỏi tập thể, khỏi xã hội, được tự do khỏi tình trạng bị quy định, không phải trong những tầng hay trong những mảnh, nhưng tổng thể, bởi vì chỉ những cá thể như thế mới có thể tìm được sự thật hay Thượng đế là gì – không phải cái người của truyền thống, không phải cái người mà lặp lại những từ ngữ, rung một cái chuông, trích dẫn kinh Gita, và đi đến đền chùa mỗi ngày. Chính là những người vô-tôn giáo mới làm điều đó. Nhưng con người mà thực sự muốn tìm ra chuyển động lạ thường của sống này là gì, không những phải hiểu rõ qui trình của tình trạng bị quy định riêng của anh ấy, nhưng còn có thể vượt khỏi nó. Bởi vì cái trí có thể tìm ra sự thật là gì chỉ khi nào nó được tự do khỏi tất cả tình trạng bị quy định, không phải khi nó chỉ lặp lại những từ ngữ nào đó hay trích dẫn những quyển sách thiêng liêng. Một cái trí như thế không là tự do.

Vì vậy, làm tự do cái trí là điều khó khăn cực kỳ trong thế giới này. Người chính trị và người tạm gọi là tôn giáo nói về tự do – đó là một trong những khẩu hiệu của họ – nhưng họ chăm sóc kỹ lưỡng để cho bạn không được tự do bởi vì, khoảnh khắc bạn được tự do, chắc chắn bạn trở thành một nguy hiểm cho xã hội, cho tôn giáo có tổ chức, đối với tất cả những sự việc suy đồi tồn tại quanh bạn. Chỉ cái trí tự do sẽ tìm ra sự thật là gì, chỉ cái trí tự do có thể là sáng tạo; và trong một văn hóa thuộc loại này, rất cần thiết rằng sự quan trọng phải được trao cho, không phải tuân theo một khuôn mẫu, một giáo điều, hay một truyền thống, nhưng cho phép cái trí được sáng tạo. Nhưng cái trí có thể sáng tạo chỉ khi nào nó được tự do khỏi tình trạng bị quy định của nó, và tự do như thế không dễ dàng hiện diện, bạn phải làm việc gian nan cho nó. Bạn làm việc cực nhọc cho sống hàng ngày của bạn, bạn trải qua nhiều năm tháng với toàn công việc của bị sai bảo loanh quanh để kiếm sống, nuốt trọn những sỉ nhục, những lo lắng, những lăng mạ, những nịnh nọt. Nhưng làm việc để cho cái trí được tự do còn gian nan hơn nhiều; nó yêu cầu sự thấu triệt vĩ đại, sự hiểu rõ lạ thường, một nhận biết bao la trong đó cái trí nhận biết tất cả những cản trở của nó, những bủa vây của nó, những chuyển động của tự-lừa dối, những ý tưởng kỳ quặc của nó, những ảo tưởng của nó, những hoang đường của nó. Ngay khi cái trí được tự do, nó có thể bắt đầu tìm hiểu, thâm nhập, nhưng một cái trí tìm hiểu khi không có tự do chẳng có ý nghĩa gì cả. Bạn hiểu chứ? Cái trí mà muốn thâm nhập sự thật, Thượng đế, vẻ đẹp và chiều sâu lạ thường này của sống, sự phong phú của tình yêu, trước hết phải được tự do. Nó không có ý nghĩa gì đối với cái trí mà bị định hình, bị quy định, bị nhốt trong những biên giới của truyền thống, khi nói, ‘Tôi đang tìm kiếm sự thật, Thượng đế.’ Một cái trí như thế giống như một con lừa bị cột tại một cái cọc: nó không thể đi xa hơn chiều dài của sợi dây cột.

Vì vậy, nếu chúng ta muốn tìm ra trạng thái lạ thường mà vượt khỏi những thất thường của cái trí – thực sự trải nghiệm nó, sống cùng nó, và biết ý nghĩa trọn vẹn của nó – chắc chắn phải có tự do, và tự do hàm ý làm việc chăm chỉ vượt mức hơn hầu hết chúng ta sẵn lòng thực hiện. Chúng ta thích bị dẫn dắt hơn khám phá, nhưng người ta không thể bị dẫn dắt đến sự thật. Làm ơn hãy hiểu rõ sự kiện rất đơn giản này. Không tước hiệu, không hệ thống yoga, không tổ chức tôn giáo, không giáo điều hay niềm tin nào có thể dẫn dắt bạn đến sự khám phá sự thật. Chỉ cái trí tự do có thể khám phá. Điều đó rõ ràng, đúng chứ? Bạn không thể khám phá sự thật của bất kỳ điều gì bằng cách chỉ được chỉ bảo nó là gì bởi vì lúc đó sự khám phá không là sự khám phá của bạn. Nếu bạn được chỉ bảo hạnh phúc là gì, đó là hạnh phúc hay sao?

Muốn tìm ra sống này là gì, muốn biết toàn nội dung của nó và không chỉ những tầng hời hợt mà chúng ta gọi là sống, muốn nhận biết được sự hân hoan của nó, những chiều sâu lạ thường của nó, sự mênh mang và vẻ đẹp của nó, mà gồm cả sự bẩn thỉu, sự cực khổ, sự đấu tranh, sự thoái hóa của nó – muốn hiểu rõ ý nghĩa của tất cả điều đó, chắc chắn cái trí của bạn phải được tự do. Nếu điều đó được hiểu rõ, vậy thì sự liên hệ của bạn với tôi, và sự liên hệ của tôi với bạn, không bị đặt nền tảng trên uy quyền. Tôi không thể dẫn dắt bạn đến sự thật, và bất kỳ người nào cũng không thể; bạn phải khám phá nó mỗi khoảnh khắc của ngày khi bạn đang sống. Nó phải được tìm ra khi bạn đang dạo bộ ngoài đường phố hay đang ngồi trong xe buýt, khi bạn đang cãi cọ với người vợ hay người chồng, khi bạn đang ngồi một mình hay nhìn ngắm những vì sao. Khi bạn biết thiền định đúng đắn là gì, vậy thì bạn sẽ tìm được sự thật là gì; nhưng một cái trí được chuẩn bị trước, được tạm gọi là có giáo dục, bị quy định để tin tưởng hay không-tin tưởng, tự gọi chính nó là một người Ấn độ, một người Thiên chúa giáo, một người cộng sản, một người Phật giáo – một cái trí như thế sẽ không bao giờ khám phá được sự thật là gì, mặc dù nó có lẽ tìm kiếm sự thật được một ngàn năm. Vì vậy, điều quan trọng là cái trí phải được tự do. Và, liệu cái trí có thể được tự do?

Các bạn hiểu rõ nghi vấn chứ, thưa các bạn? Chỉ cái trí được tự do mới có thể khám phá sự thật là gì – khám phá, không phải được chỉ bảo sự thật là gì. Sự diễn tả không là sự thật. Bạn có lẽ diễn tả điều gì đó trong ngôn ngữ mĩ miều nhất, đặt nó trong những từ ngữ mê mẩn và tinh thần nhất, nhưng từ ngữ không là sự thật. Khi bạn bị đói, sự diễn tả về thức ăn không cho bạn no bụng. Nhưng hầu hết chúng ta lại bị thỏa mãn bởi sự diễn tả về sự thật, và sự diễn tả, biểu tượng, đã thay thế vị trí của sự thật. Muốn khám phá liệu có một sự thật hay không, chúng ta phải có thể thấy sự thật như sự thật, giả dối như giả dối, và không phải chờ đợi để được dạy bảo giống như nhiều trẻ em không-chín chắn.

Vì vậy, muốn tìm được sự thật là gì, trước hết cái trí phải được tự do, và được tự do là công việc gian nan lạ thường, gian nan hơn tất cả những luyện tập yoga. Những luyện tập như thế chỉ quy định cái trí của bạn, và chỉ cái trí tự do mới có thể sáng tạo. Một cái trí bị quy định có lẽ sáng chế; nó có lẽ nghĩ ra những ý tưởng mới, những cụm từ mới, những đồ dùng cải tiến; nó có lẽ xây dựng một đập nước, lập kế hoạch một xã hội mới, và mọi chuyện như thế; nhưng đó không là sáng tạo. Sáng tạo là điều gì đó còn hơn cả khả năng thâu lượm một phương pháp kỹ thuật. Do bởi vì trong hầu hết chúng ta không có cái sự việc lạ thường được gọi là sáng tạonày nên chúng ta mới nông cạn, trống rỗng, nghèo khó. Và chỉ cái trí được tự do mới có thể sáng tạo.

Vì vậy, vấn đề của chúng ta là: Làm thế nào cái trí được trả lại tự do? Và, liệu có thể trả lại tự do cho cái trí – không phải trong những tầng hay những mảnh, không phải trong những đốm nhỏ đó đây, nhưng tổng thể, xuyên suốt, cả tầng ý thức bên trong cũng như tầng ý thức bên ngoài? Hay, liệu cái trí có khi nào bị quy định, có khi nào bị định hình? Bạn phải tự-tìm ra cho chính bạn và không chờ đợi tôi giải thích cho bạn liệu cái trí có thể được tự do. Liệu cái trí chỉ suy nghĩvề tự do, như một tù nhân suy nghĩ, và thế là phải chịu số phận bi đát không bao giờ được tự do nhưng mãi mãi bị giam giữ bên trong ngục tù của tình trạng bị quy định của nó?

Bạn hiểu rõ nghi vấn chứ? Liệu cái trí có thể được tuyệt đối tự do, hay chính bản chất của cái trí là phải bị quy định? Nếu chính chất lượng cơ bản của cái trí là bị giới hạn, vậy thì chẳng cần đặt vấn đề tìm ra sự thật là gì; vậy thì bạn có thể tiếp tục lặp lại rằng có Thượng đế hay không có Thượng đế, rằng đây là điều tốt lành và kia là điều xấu xa, tất cả việc đó đều ở trong khuôn mẫu của một văn hóa được cho sẵn. Nhưng, để tìm được sự thật của vấn đề, bạn phải tự-thâm nhập vào liệu cái trí có thể thực sự được tự do. Tôi nói nó có thể – mà không phải để cho bạn chấp nhận hay phủ nhận. Nó có lẽ đúng thực, hay nó có lẽ là quan điểm của tôi, tưởng tượng của tôi, ảo tưởng của tôi. Và bạn không thể đặt nền tảng sống của bạn vào sự khám phá của người khác, hay vào ảo tưởng của anh ấy, tưởng tượng của anh ấy, hay chỉ vào một ý tưởng. Bạn phải tìm ra.

Madras, nói chuyện trước công chúng

Ngày 12 tháng 12 năm 1956

Tuyển tập những Lời giảng

__________________________________

Bắt đầu dịch ngày 28 tháng 5 năm 2010

Dịch xong: 14:40 ngày 08-6-2010

In nháp: ngày 10-6-2010

Kết thúc sửa nháp, in sách: ngày 27-6-2010

Đã dịch:

1 – Sổ tay của Krishnamurti
Krishnamurti’s Notebook
2 – Ghi chép của Krishnamurti
Krishnamurti’s Journal
3 – Krishnamurti độc thoại
Krishnamurti to Himself
4 – Ngẫm nghĩ cùng Krishnamurti
Daily Meditation with Krishnamurti
5 – Thiền định 1969
Meditation 1969
6 – Thư gửi trường học
Letters to Schools
7 – Nói chuyện cuối cùng 1985 tại Saanen
Last Talks at Saanen 1985
8 – Nghĩ về những việc này
Think on these things
9 – Tương lai là ngay lúc này
The Future is now
10 – Bàn về Thượng đế
On God
11– Bàn về liên hệ
On Relationship
12 – Bàn về giáo dục
On Education
13 – Bàn về sống và chết
On living and dying
14 – Bàn về tình yêu và sự cô độc [2-2009]
On Love and Loneliness
15 – Sự thức dậy của thông minh Tập I/II [2009 ]
The Awakening of Intelligence
16 – Bàn về xung đột [4-2009]
On Conflict
17 – Bàn về sợ hãi
On Fear
18 – Vượt khỏi bạo lực [6-2009]
Beyond Violence
19 – Bàn về học hành và hiểu biết [8-2009]
On Learning and Knowledge
20 – Sự thức dậy của thông minh Tập II/II [12-2009 ]
The Awakening of Intelligence
21 – Nghi vấn không đáp án [2009]
The Impossible Question
22 – Tự do đầu tiên và cuối cùng [4-2010]
The First and Last Freedom
23 – Bàn về cách kiếm sống đúng đắn [5-2010]
On Right Livelihood
24– Bàn về thiên nhiên và môi trường [5-2010]
On Nature and The Environment
25– Tương lai của nhân loại [5-2010]
The Future of Humanity
26– Đoạn kết của thời gian
The Ending of Time [5-2010]
27– Sống chết của Krishnamurti – 2009
The Life and Death of Krishnamurti
A Biography by Mary Lutyens [Đã dịch xong]
28–Trách nhiệm với xã hội [6-2010]
Social Responsibility
29– Cá thể và xã hội [7-2010]
Individual & society

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/02/2012(Xem: 5590)
Trong hai thập kỷ qua, tôi đã tiếp xúc liên tục với các cộng đồng Phật giáo, trong cả hai: văn hóa truyền thống và công nghiệp hóa phương Tây. Những kinh nghiệm này đã làm cho tôi nhận thức được rằng sự phát triển công nghiệp không chỉ ảnh hưởng đến cách sống của chúng ta, nhưng còn là quan điểm thế giới của chúng ta. Tôi cũng đã học được rằng nếu chúng ta muốn tránh một sự hiểu sai đối với giáo lý Phật giáo, chúng ta cần phải xem xét chặt chẽ vào sự khác biệt cơ bản giữa các xã hội là bộ phận của nền kinh tế toàn cầu công nghiệp hóa và điều này phụ thuộc vào nhiều nền kinh tế địa phương.
15/02/2012(Xem: 5685)
Đức Phật xuất thân từ một chiến binh đẳng cấp và ngài được sinh ra trong xã hội với các vị vua, hoàng tử và các quần thần. Mặc dù nguồn gốc và sự liên hệ của Ngài như thế, Ngài không bao giờ viện đến sự ảnh hưởng của quyền lực chính trị để giới thiệu trong sự giảng dạy của Ngài, và cũng không cho phép Giáo pháp của Ngài lạm dụng sự ảnh hưởng này để đạt được quyền lực chính trị.
15/02/2012(Xem: 5963)
Lý tưởng nhất, giáo dục là công cụ chủ yếu của việc tăng tiến con người, cần thiết cho việc thay đổi trẻ con mù chữ thành một người lớn trưởng thành và có trách nhiệm. Tuy nhiên, ngày nay ở khắp mọi nơi, cả trong các nước phát triển và các nước đang phát triển, chúng ta có thể thấy rằng hình thức giáo dục đang gặp rắc rối nghiêm trọng. Sự giảng dạy lớp học đã trở thành thông lệ và được vỗ về rằng trẻ em thường cân nhắc việc học và thực tập trong sự kiên nhẫn chứ không phải là một cuộc mạo hiểm trong học tập.
14/02/2012(Xem: 8688)
Phật Giáo khuyên chúng ta phải luôn giữ sự chính xác và phải chú tâm đến từng cảm nhận của mình trong cuộc sống, trong mỗi tư duy, trong từng xúc cảm, và mỗi hành động của mình.
25/01/2012(Xem: 7070)
Phật tử phải có trách nhiệm bảo tồn và duy trì di sản Phật đã để lại. Phật tử phải sống với triết lý của vô thường và tìm ra những phương thức mới để khuyến khích đa số quần chúng.
25/01/2012(Xem: 6880)
Tôn giáo có mặt cùng thời với lịch sử con người. Có vật chất, tất phải có tinh thần. Có sống chết, có hiện tượng còn mất trong đời sống vật lý, tất phải có các mô thức tâm lý và tâm linh để chống lại sự mất còn bèo bọt đó. Từ đấy, tham vọng bất tử của con người là phải xây dựng một hệ thống thần linh để nuôi lớn hy vọng (có thật)thành đức tin (ước mơ)rằng, con người sẽ sống đời vĩnh hằng sau khi chết trong một thế giới thiêng liêng của thần linh... Sự chuyển mình từ sức mạnh thần quyền sang sức mạnh nhân quyền trong nhiều khía cạnh vi tế và phức tạp của đời sống đã làm cho đạo Phật mỗi ngày một hiển lộ trước cái nhìn tỉnh thức của nhân loại.
09/01/2012(Xem: 22257)
Con người và loài thú đều giống nhau: đói thì kiếm ăn,khát thì kiếm nước uống, cũng đều duy trì bản năng sinh tồn như nhau. Loài thúcũng biết tổ chức theo từng đàn để bảo vệ cho nhau. Chúng cũng có cảm xúc âu yếm, đùa giỡn bên nhau, đó làsự biểu lộ hạnh phúc của chúng. Nhưng chúng không biết tư duy, vì vậy chúng vẫnlà loài thú...
07/01/2012(Xem: 9183)
Trong sự phát triển quá nhanh chóng của xã hội ngày nay, phật tử khắp nơi trên thế giới trở nên linh hoạt hơn trong việc bảo vệ lẫn truyền bá tư tưởng đạo Phật của họ. Với con số khoảng 500 triệu phật tử, đạo Phật được xem là tôn giáo lớn nhất thứ tư của hành tinh này. Đạo Phật có hai tông phái chính: Theravada (Phật giáo Nguyên thủy) và Mahayana (Phật giáo Đại thừa) cùng nhiều môn phái khác, trong đó gồm có môn Thiền quen thuộc cùng những bản kinh dịch khác nhau của người Tây Tạng...
05/01/2012(Xem: 6909)
Nền giáo dục hòa bình của Đạo Phật là một con đường đạo đức nhân bản và thiết thực, là căn cứ trên chân lý từ bi, công bằng và ngay thẳng để thông cảm giữa những quốc gia, chủng tộc, cộng đồng và tôn giáo, nhằm mục đích thiết lập một cuộc sống ổn định, hạnh phúc cho gia đình và xã hội. Việc diệt trừ tham ái thì có rất nhiều lợi ích, mang lại cuộc sống an lạc, hạnh phúc và giải thoát ngay trong cuộc đời này. Trên thực tế thì có rất nhiều lợi ích, ở đây người viết chỉ nêu những lợi ích chính về hòa bình, về môi trường, và đạo đức.
31/12/2011(Xem: 9005)
Mọi người đều biết là Đức Phật không hề bắt ai phải tin vào giáo lý của Ngài và Ngài khuyên các đệ tử hãy sử dụng lý trí của mình dựa vào các phương pháp tu tập...