15. Nhàm Chán

03/01/201916:07(Xem: 26805)
15. Nhàm Chán

Nhàm Chán

(giọng đọc Lý Hùng)

 

 

Tình cảm nếu không tiến sâu vào những trạng thái tâm lý như bình yên, thấu hiểu, chấp nhận, chia sớt, nâng đỡ, tha thứ, trách nhiệm, thì nó sẽ sớm trở thành một thứ nhàm chán.

 

  

Bình thường hóa cảm xúc

 

Khi ta yêu thích một đối tượng nào đó và quyết lòng muốn chiếm hữu mà không thể kiên trì chờ đợi hay không màng đến cái giá phải trả, tức là ta đang bị cảm xúc khống chế. Do những ưu điểm của đối tượng kia đã phản ánh đúng nhu cầu hay sở thích của ta, nên tâm tưởng ta đã không ngừng tái hiện những hình ảnh tuyệt vời ấy lên bề mặt ý thức. Ngoài ra, nó còn phóng đại lên gấp nhiều lần để nâng cao mức thỏa mãn. Trong khi yêu thích mà để cho cảm xúc can thiệp quá nhiều thì chắc chắn cái nhìn của ta về đối tượng sẽ không còn chính xác nữa. Điều này cũng đúng trong trường hợp ta đang tức giận hay ghét bỏ, như câu ngạn ngữ: "Thương nhau củ ấu cũng tròn, ghét nhau trái bồ hòn cũng méo". Dù ta không hề chủ động thêu dệt hình ảnh, thậm chí ta còn không biết tâm tưởng của mình đang thêu dệt, nhưng một khi ta có ý niệm yêu thích và muốn chiếm hữu thì cơ chế tâm thức sẽ tự động tìm cách phóng đại những dữ liệu mà ta đã lưu trữ.

 

Càng yêu thích ta càng không thể nhìn thấy những khuyết điểm của đối tượng. Nếu có, thì ta cũng không cho đó là vấn đề quan trọng và thậm chí còn thấy nó thật đáng yêu. Nói chung, vì ta muốn đối tượng ấy thuộc về mình, là một phần của cuộc đời mình, nên những gì liên quan đến đối tượng ấy thì ta đều yêu thích hết. Nhưng bản chất của cảm xúc chỉ là một nguồn năng lượng tạm thời để bộc lộ sự yêu thích hay ghét bỏ, nên có lúc nó lên cao trào và có lúc nó xẹp xuống. Nghĩa là cảm xúc dù tốt hay xấu rồi cũng sẽ bão hòa. Nó sẽ trở lại trạng thái bình thường, nên còn được gọi là "bình thường hóa cảm xúc". Nếu ta càng yêu thích cuồng nhiệt thì cảm xúc càng mau chóng bão hòa. Khi ấy, ta sẽ giật mình đến nỗi không tin vào mắt mình, vì bỗng dưng ta thấy người ấy không còn tuyệt vời như trước nữa. Càng sống lâu họ càng bộc lộ nhiều khuyết điểm mà có thể ta sẽ không chấp nhận nổi. Người ta thường nói hai năm sau hôn nhân thì "bộ mặt thật" của nhau sẽ tự động phơi bày ra. Có thể là do người kia không còn đủ sức để tiếp tục trình diễn hay cố gắng nữa, vì nhu cầu thỏa mãn của họ đã đạt tới đỉnh. Một lý do quan trọng khác, đó là niềm đam mê của ta cũng đã lắng xuống nên ta đã thấy đúng đắn hơn về đối tượng.

 

Một khi đã bị những khuyết điểm của đối phương tác động, làm cho cảm xúc xấu trong ta phát sinh thì nó sẽ dễ dàng trở thành bức tường ngăn cách. Nó khiến ta không thể đến với họ một cách tự nhiên như trước nữa. Có sự dè dặt và một chút khinh thường. Nếu bức tường ngăn cách ấy quá lớn, đến nỗi cảm xúc không thể trở lại mức yêu thích như cũ thì sự nhàm chán là điều khó có thể tránh khỏi. Dù đối tượng ấy trước sau vẫn giữ nguyên vẹn tính đáng yêu, nhưng vì cảm xúc yêu thích trong ta bị bão hòa hay tự động tăng vọt vượt qua mức đáp ứng của đối tượng ấy, nên ta vẫn rơi vào trạng thái nhàm chán.

 

Từ nhàm chán đến phản bội nhau là một khoảng cách rất ngắn, nếu mối liên hệ ấy không đề cao ý thức trách nhiệm để ràng buộc. Ta thấy hầu hết những cuộc hôn nhân đổ vỡ đều có những lý do rất chính đáng. Nhưng có một điều rất sâu sắc mà ít ai tiện nói ra đó là do bên này không thể đáp ứng được mức thỏa mãn cảm xúc cho bên kia nữa. Đó là thứ "tai nạn hôn nhân". Bởi không ai có thể lường được sự nhàm chán lại mau chóng thay thế vị trí tình yêu cháy bỏng thuở nào. Vì vậy, ta hãy cảnh giác với kiểu "yêu hết mình". Sự nồng nhiệt ấy thông thường chỉ là sự trá hình của cảm xúc thỏa mãn ích kỷ, nên càng cố gắng thăng hoa cảm xúc thì ta càng tiến gần đến sự nhàm chán nhau. Ta đừng quên, mức cảm xúc thỏa mãn thì vô cùng, còn khả năng phục vụ cảm xúc thì luôn có giới hạn.

 

 

 

Thương sao cho vẹn thì thương

 

Ngay cả với thực phẩm, y phục, xe cộ, các loại tiêu khiển giải trí, hay vật dụng bình thường mà ta cũng không ngừng thay đổi "gu" yêu thích thì chứng tỏ năng lượng cảm xúc trong ta rất mạnh. Nó rất thường xuyên can dự vào thái độ sống của ta. Hãy cẩn thận và cố


gắng tránh xa, vì cảm xúc rất dễ qua mặt những kinh nghiệm và hiểu biết sâu sắc. Do vậy, sau những trận cảm xúc thuộc dạng "cơn bão" thì ta luôn thấy hối tiếc cho những phản ứng nói năng và hành động của mình. Những cảm xúc thuộc loại cạn thường được thể hiện qua mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân xúc chạm, ý tưởng tượng. Bởi khi các giác quan ấy tiếp xúc với đối tượng thì ta hay có thói quen thể hiện thái độ thích hay không thích ngay lập tức. Có người phản ứng rất nhạy với hình ảnh, có người lại bị dao động mạnh bởi âm thanh. Các nhà quảng cáo dựa vào điểm này mà khai thác cảm xúc khách hàng. Vì khi những hình ảnh và âm thanh hấp dẫn liên tục đập vào mắt và tai thì nó sẽ tự động ghi nhớ trong não bộ. Đến lúc nào đó, nó sẽ hình thành những phản ứng yêu thích bất chợt và bằng mọi giá phải chiếm lấy đối tượng cho bằng được.

 

Người ta thường nói đàn ông "yêu bằng mắt", còn phụ nữ "yêu bằng tai". Nghĩa là cơ chế cảm xúc của phái nam thường tập trung ở phần thị giác, còn cơ chế cảm xúc của phái nữ thường tập trung ở phần thính giác. Thực tế cho thấy đàn ông luôn xem trọng về sắc đẹp của đối tượng yêu thích; còn phụ nữ lại thích nghe những lời khen ngợi, ca tụng và ngay cả những lời nói dỗ ngọt "có cánh". Nhưng chức năng của tai thường lớn rộng hơn chức năng của mắt, vì mắt luôn bị giới hạn bởi không gian. Cho nên, "yêu bằng tai" thường sâu sắc và cũng hệ lụy nhiều hơn "yêu bằng mắt". Điều này cũng dễ hiểu. Lời nói vừa thể hiện được sự hiểu biết, nghị lực và cả những cung bậc cảm xúc, hoàn toàn có lợi thế hơn sự hấp dẫn đơn điệu của hình thể. Nhưng dù "yêu bằng mắt" hay "yêu bằng tai" thì cũng là những loại tình cảm được xây dựng trên nền tảng của cảm xúc cạn. Nó sẽ dễ dàng thay đổi khi không được tiếp tục cung cấp những hình ảnh và âm thanh như thế nữa, hoặc khi nó đón nhận những hình ảnh và âm thanh khác hấp dẫn hơn. Tình cảm nếu không tiến sâu vào những trạng thái tâm lý như bình yên, thấu hiểu, chấp nhận, chia sớt, nâng đỡ, tha thứ, trách nhiệm... thì nó sẽ sớm trở thành một thứ nhàm chán.

 

Những người sống bằng những nghề phải thể hiện những cung bậc cảm xúc cao độ, hoặc những người nổi tiếng được rất đông người ngưỡng mộ, thường sở hữu một "kho tàng" cảm xúc khổng lồ từ sự cộng hưởng. Mức độ nhạy cảm đối với cảm xúc tốt hay cảm xúc xấu của họ vì thế cũng hơn hẳn người bình thường. Họ rất dễ nhàm chán những cảm xúc cũ kỹ, luôn mong muốn tìm tới cảm xúc mới lạ và mạnh mẽ hơn. Đây là nguyên nhân đưa tới sự thiếu thủy chung trong tình cảm hay hôn nhân của những người có cảm xúc quá mạnh. Đôi khi họ thật sự không muốn có sự đổ vỡ. Họ cũng đã cố gắng tìm mọi cách để níu kéo, nhưng họ lại không thể đối đầu mãi với cảm xúc nhàm chán rất khó chịu của mình. Nói chung, người có cảm xúc quá mạnh sẽ rất dễ thua cuộc với chính mình - biết điều không nên làm mà vẫn làm, biết điều nên làm mà vẫn làm không được.

 

Bây giờ người ta hay dùng chữ "yêu" để chỉ cho việc thỏa mãn xác thân. Làm như tình yêu chỉ có bấy nhiêu đó thôi vậy. Nhan nhản trên khắp các báo đài, người ta luôn đặc biệt quan tâm đến cách "yêu" như thế nào để cho đôi bên được thỏa mãn. Nhưng kết quả thực tế cho thấy, con người ngày nay càng biết cách thăng hoa cảm xúc lên tới đỉnh thì càng mau chóng nhàm chán rồi từ bỏ nhau. Đó là con đường rất sai lầm, sai lầm từ tâm lý đến cả đạo đức. Trong Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du đã từng nhắc nhở: "Thương sao cho vẹn thì thương". Chữ "vẹn" tức là vừa có tình vừa có nghĩa. "Tình" là mang lại những cảm xúc thỏa mãn; còn "nghĩa" là đem tới sự nâng đỡ và chia sớt. Nếu ta tuyên bố thương người nào thì ta phải tự hỏi mình có đủ cả tình lẫn nghĩa không? Tất nhiên, cái nghĩa mới là chất liệu gắn bó lâu dài, còn cái tình vốn rất ngắn ngủi nhưng nó lại là thứ không thể thiếu trong tình yêu. Cụ Nguyễn Du đã thật tinh tế khi khuyên ta phải nên có đủ cả hai.

 

Tuy nhiên, tâm thức hay cảm xúc của con người cũng sẽ biến đổi theo thời gian. Đến độ tuổi nào đó, nhất là qua nhiều thăng trầm trong cuộc đời, tự nhiên ta sẽ sống với nhau vì nghĩa nhiều hơn. Nhưng ngay khi còn trẻ mà ta có thể làm được việc ấy, đặt chữ nghĩa trước chữ tình mà vẫn an ổn đi tới, thì chắc chắn tình cảm ấy sẽ tỏa sáng và rất bền chặt.

 

Nếu biết mình có tính hay nhàm chán thì ngay từ bây giờ ta hãy quyết tâm thực tập chuyển hóa - buông bỏ bớt cảm xúc tốt và chấp nhận những cảm xúc xấu. Ngay khi đón nhận bất cứ cảm giác nào qua các giác quan thì ta cũng chỉ nên nhận diện rõ đối tượng và cảm giác ấy, mà đừng cho thêm vào đó thái độ của mình nếu thấy không cần thiết. Cảm giác nếu không cộng thêm thái độ thích hay không thích thì nó sẽ không biến thành cảm xúc. Trong trường hợp ta đang bị năng lượng nhàm chán thúc đẩy thì hãy cố gắng đừng tin đó là cảm xúc thật mà có những quyết định nông nổi. Ta phải mau chóng dừng lại mọi tranh đấu lao xao bên ngoài, cố gắng tạo ra một môi trường thuận lợi để nhìn lại và làm mới cảm xúc của mình. Dưới ánh sáng của tỉnh thức, những đòi hỏi nhỏ nhen sẽ tan biến và những năng lượng tích cực như yêu thương hay trách nhiệm sẽ được khơi dậy.

 

Cảm xúc luôn đóng vai trò khá quan trọng trong việc thể hiện tình cảm và thái độ sống. Tuy nhiên, nếu không được sự tỉnh thức và hiểu biết đúng đắn dẫn đường thì nó sẽ khiến ta trở thành nạn nhân khổ đau của chính mình. Trong đó, sự nhàm chán và phản bội nhau là điều đáng tiếc nhất. Cho nên, người nào có khả năng điều tiết được cảm xúc của mình thì người ấy mới có hy vọng nắm giữ được hạnh phúc lâu bền.

 

 

Không đuổi theo cảm xúc
Luôn nhìn lại chính mình
Đã thương thì phải hiểu
Mới vẹn nghĩa trọn tình.

Không cao cũng không thấp

Không sang cũng không hèn

Tất cả đều mầu nhiệm

Bụi đời làm ta quên.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/02/2012(Xem: 15197)
Được xuất bản nhân dịp một trăm năm ngày sinh của J.Krishnamurti, Lửa trong Cái Trílàmột quyển sách của sự thâm nhập quan trọng được hướng dẫn bởi Krishnamurti.Được tổ chức từ cuối những năm 1960 đến ngày 28 tháng 12 năm 1985, bảy tuầntrước khi ông chết vào ngày 17 tháng 2 năm 1986, những đối thoại này bao gồm vôvàn những quan tâm của con người – sợ hãi, đau khổ, chết, thời gian, lão hóa vàsự mới mẻ lại của bộ não.
17/01/2012(Xem: 11846)
Vô tận trong lòng bàn tay, Sự dị biệt giữa tôn giáo và khoa học được đánh dấu khởi đầu từ luận đề của Galilée và từ đó đã khiến nhiều người cho là hai thế giới này không thể nào gặp nhau được. Einstein khi đối chiếu Phật Giáo với các tôn giáo khác đã cho là: nếu có một tôn giáo có thể đáp ứng được những nhu cầu đòi hỏi của khoa học, thì chính đó là Phật giáo. Einstein muốn nói tới tính cách thuần lý và thực tiển của Phật Giáo, khi ông so sánh thấy các tôn giáo khác chỉ dựa trên kinh điển và giáo điều. Đúng như điều Einstein cảm nhận, Ph
15/01/2012(Xem: 6591)
Theo Phân tâm học, tâm của con người chia làm hailà ý thức và vô thức. Duy thức học thì phân làm tám và ý thức là một trong támphần đó. Như vậy, nhìn theo quan điểm nào thì ý thức cũng chỉ là một phần củatâm. Tuy vậy, ý thức rất năng động và có phạm vi hoạt động rất lớn... Với Duy thức học, mắt, tai… là các căn. Căn có hai phần, là “phù trần căn” và “thắng nghĩa căn”. “Phù trần căn” là năm giác quan mắt, tai… mà ta có thể nhận biết.
15/01/2012(Xem: 7275)
Từ một tình trạng không có gì, phi thời gian không gian, không cần một nguyên nhân ngoại lai, có một sự bùng nổ, phát ra năng lượng và vật chất. Đó là hiệu ứng được mệnh danh là “hiệu ứng lượng tử”, xuất phát từ sự tăng giảm không đều của năng lượng. Nói tóm gọn, vũ trụ là kết quả của một sự sáng tạo mà không có người sáng tạo.
07/01/2012(Xem: 11082)
Chúng ta hãy đừng lừa dối chính mình, điều này tưởng chừng như không khó khăn nhưng thật sự đó là điều khó nhất trong tất cả các trạng thái mà chúng ta có thể đạt được. Bằng cách "Không lừa dối chính mình", nghĩa là tôi muốn nói chúng ta hãy ngưng vẽ một bức tranh của thế giới ngày nay bằng những sai lầm với các màu sắc khoái lạc, vì tiện nghi và an toàn cho riêng mình. Chúng ta, toàn thế giới, phải đương đầu với sự sai lầm này, thật là tệ. Chúng ta phải thật sự lưu tâm đến hoàn cảnh của chúng ta đang sống. Chúng ta cần phải truy nguyên tận căn để của tất cả các mối nghi ngờ và hiểu lầm của mình, và chúng ta có thể bắt đầu như thế nào để loại trừ nó một cách tốt nhất. Và chúng ta phải luôn luôn nhớ rằng, nếu chúng ta không thực hiện điều này, chúng ta phải đối đầu với các trở ngại đó.
02/01/2012(Xem: 4452)
Với tư cách một nhà vật lý thiên văn học nghiên cứu sự hình thành và tiến hóa của những thiên hà, công việc làm tôi không ngừng tự vấn về những khái niệm về thực tại, vật chất, thời gian và không gian. Là một người Việt lớn lên trong truyền thống đạo Bụt, tôi không thể không tự hỏi đạo Bụt chú ý tới những khái niệm này như thế nào. Thế nhưng, lập luận dựa vào việc đối chiếu khoa học và đạo Bụt chưa chắc sẽ có ý nghĩa. Nhất là ở phương diện thực tập của đạo Bụt, con đường giúp đạt tới sự hiểu biết về cái ngã, phát triển tâm linh hoặc trở thành một con người tốt đẹp hơn.
30/12/2011(Xem: 11289)
Trên đời này có hai thứ cao quý nhất đó là bảy thứ: vàng, bạc, ngọc lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não còn được gọi là thất bảo và phật pháp tăng. Các thứ cao quý ấy được xuất phát từ thế gian. Các loại ngọc và vàng bạc được có trong lòng đất với thời gian cả ngàn năm, tỷ năm do môi trường của đất tạo nên. Các thứ ngọc gọi là đá quý, còn vàng bạc gọi là kim loại quý.
25/10/2011(Xem: 10857)
Thái độ của Phật giáo liên quan đến sự hòa điệu phi thường này như thế nào? Phật giáo có chấp nhận ý niệm có một Đấng Sáng Tạo toàn tri hay là một nguyên lý sáng tạo có khả năng điều chỉnh sự tiến triển của vũ trụ một cách tuyệt vời? Hay Phật giáo cho rằng sự hòa điệu chính xác và tuyệt vời của vũ trụ chẳng qua chỉ là một tình cờ may mắn? Vấn đề có hay không một Đấng Sáng Tạo?
15/10/2011(Xem: 5797)
Trong Phật giáo có những phương pháp dùng để thực hành Thiền từ bi. Các thiền giả nhằm khích động lòng từ bi đối với tất cả chúng sinh...
13/10/2011(Xem: 8505)
Nhiều người nói thực hành thiền Chánh Niệm tốt cho não bộ, nhưng ai có thể chứng minh được điều này? Một vị sư Phật giáo, Thiền sư, Triết gia, và trước đây là một khoa học gia, Matthieu Ricard tham dự án nghiên cứu cho thực tập Thiền có ảnh hưởng tích cực cho não bộ. Ông tình nguyện làm một đối tượng nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trong những cuộc nghiên cứu quan trọng về Thiền và Não Bộ và ít có người ở trong một vị thế đặc biệt như ông để mô tả cuộc gặp gỡ giữa khoa học và Thiền quán.