Phần I - Bài 5 - Các Lời Tự Thuật Của Ni Sư Trưởng Lão Ambapālī

07/11/202508:23(Xem: 2410)
Phần I - Bài 5 - Các Lời Tự Thuật Của Ni Sư Trưởng Lão Ambapālī

buddha-410

Quyển II

Sự quán thấy của Đức Phật

về

sự vận hành của thế giới

(Bài 5)

Tiếp theo dưới đây chúng ta sẽ trích dẫn ba bài thơ – kinh sách Hán ngữ gọi là ‘kệ’. Trên phương diện tổng quát thì kinh điển Phật giáo nói chung không chủ trương một sự áp đặt nào cả, cũng không đưa ra một sự hứa hẹn nào cả, mà chỉ mô tả sự vận hành mang bản chất khổ đau của thế giới và đề nghị một phương pháp giúp con người thoát ra khỏi sự vận hành khổ đau đó của thế giới.

Qua góc nhìn đó thì không phải chỉ có Đức Phật thực hiện được điều đó, mà tất cả mọi người đều có thể tạo được sự giải thoát đó. Ngài chỉ là người chỉ dạy mà thôi. Trên dòng lịch sử phát triển của Phật giáo từng có rất nhiều người đã đạt được sự giải thoát đó. Kể cả ngày nay cũng có những người thực hiện được mục đích đó, chẳng hạn như Đức Đạt-lai Lạt-ma của xứ Tây Tạng. Thiết nghĩ chỉ cần nêu lên trường hợp này cũng là đủ.

Đối với Phật giáo tất cả mọi người cùng đi trên một con đường, có người đi nhanh, có người đi chậm. Có thể Đức Phật đang đi bên cạnh chúng ta nhưng chúng ta không hay biết mà thôi. Ngược về quá khứ, vào thời đại của Đức Phật, khi xã hội còn dưới chế độ phụ hệ, người phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi, nhưng cũng có nhiều người vượt được những đoạn đường thật xa. Kinh điển Phật giáo do đó không nhất thiết chỉ gồm những lời thuyết giảng của Đức Phật mà còn góp nhặt và ghi chép các kinh nghiệm và các cảm ứng của các đệ tử của Ngài, cả nam lẫn nữ.

Các kinh nghiệm, các câu chuyện cùng các cảm ứng này được gộp chung trong hai tiết mục. Tiết mục thứ nhất mang tựa là Theragāthā / Trưởng lão Tăng kệ, chữ thera có nghĩa là các nam tỳ-kheo trọng tuổi và thành đạt, chữ gāthā có nghĩa là các vần thơ. Tiết mục thứ hai mang tựa là Therigāthā, chữ therī có nghĩa là các nữ tỳ-kheo thành đạt và có một quá khứ tu tập lâu dài. Hai tiết mục này được ghép chung trong một tập bài giảng thật đồ sộ và khá quan trọng là Khuddaka Nikāya / Tiểu Bộ Kinh, chữ khuddha có nghĩa là nhỏ hay ngắn, nhưng không có nghĩa là thứ yếu. Ba câu chuyện dưới đây, trích dẫn từ tiết mục Therīgāthā / Trưởng lão Ni kệ, nêu lên sự thành đạt của ba vị ni sư trong ba bối cảnh khác nhau. Câu chuyện thứ nhất như sau:

Các lời tự thuật của Ni sư Trưởng lão Ambapālī

Ambapālītherīgāthā - Thig 13.1

Câu chuyện xảy ra tại kinh thành Vesali (Tỳ-xá-li), ngày nay là thị trấn Vaishali thuộc tiểu bang Bihar của nước Ấn. Một hôm, trong khu vườn của vua, người làm vườn bất chợt trông thấy có người vứt bỏ một đứa bé gái dưới gốc một cây xoài, bên cạnh hàng rào. Người làm vườn nhặt đứa bé, nuôi nấng và gọi nó là Ambapālī, ‘Con bé nhặt được ở gốc cây xoài’, chữ amba có nghĩa là cây xoài, chữ pālī có nghĩa là hàng rào. Lớn lên, ‘Con bé nhặt được ở gốc cây xoài’ trở thành một thiếu nữ tuyệt đẹp, và cũng là một kỹ nữ được các vương gia, công tử săn đón. Chữ ‘kỹ nữ’ là chữ dịch lại từ chữ courtesan trong các bản dịch tiếng Anh, thế nhưng trong tiếng Anh thì chữ này cũng có nghĩa là một cô gái làng chơi hạng sang, do vậy có thể hiểu chữ kỹ nữ là các ‘cô đầu’, các ‘ả đào’ hay ‘ca nương’ trong các xã hội phong kiến Việt Nam và Trung quốc.

Thế nhưng điều đáng nêu lên hơn cả là ‘Con bé nhặt được ở gốc cây xoài’ ngày xưa đã sớm biết đến Dhamma của Đức Phật, và đã trở thành một ni sư rất nhiệt tình. Tạng Luật có nhắc đến vị ni sư này, ngoài ra ngay trong tiết mục Therīgāthā / Trưởng lão Ni kệ, ngoài các vần thơ trích dẫn dưới đây, cũng thấy lưu lại các vần thơ khác của bà. Điều đáng khâm phục hơn nữa là bà đã đứng ra xây dựng một tịnh xá trong chính khu vườn của bà để hiến dâng Đức Phật và Tăng đoàn. Và đây cũng là dịp mà Đức Phật trở lại kinh thành Vesali lần sau cùng trước khi tịch diệt không lâu sau đó. Các vần thơ của Ni sư Ambapālī như sau:

Mái tóc tôi, óng ả những lọn tóc xoăn,

Đen nhánh, màu đen của các con ong,

Với tuổi già, chẳng khác gì những sợi gai thô.
Sự thật trong những lời của ‘Vị thốt lên sự thật’,

Vẫn luôn là sự thật.

Thuở xưa, đầu tóc tôi,

Thơm phức một vòng hoa,

Với tuổi già, bốc lên mùi lông thú.

Sự thật trong những lời của ‘Vị thốt lên sự thật’,

Vẫn luôn là sự thật.

Ngày xưa, mái tóc tôi thật dầy như một khu rừng thâm u,

Mượt mà, nào là trâm cài lược giắt.
Với tuổi già, chỗ thưa chỗ hói.
Sự thật trong những lời của ‘Vị thốt lên sự thật’,

Vẫn luôn là sự thật.


Ngày xưa, mái tóc đen cài lên các chiếc trâm vàng,

Các bím tóc cột lại bằng các giải khăn xinh xinh.

Với tuổi già, đỉnh đầu tôi thưa thớt.

Sự thật trong những lời của ‘Vị thốt lên sự thật’,

Vẫn luôn là sự thật.


Ngày xưa đôi lông mày tôi cong lên,

Tuyệt vời như trong tranh của một họa sĩ.
Với tuổi già, cụp xuống, cong queo.

Sự thật trong những lời của ‘Vị thốt lên sự thật’,

Vẫn luôn là sự thật.


Ngày xưa, xanh thẳm đôi mắt tôi mở to,

Sáng ngời như những viên ngọc quý,

Với tuổi già, hóa thành mờ ảo.

Sự thật trong những lời của ‘Vị thốt lên sự thật’,

Vẫn luôn là sự thật.


Thời son trẻ, thon thon,

Sóng mũi tôi tuyệt vời.

Với tuổi già, cong queo chẳng khác gì quả ớt,

Sự thật trong những lời của ‘Vị thốt lên sự thật’,

Vẫn luôn là sự thật.


Đôi thùy tai, một thời xưa tuyệt đẹp,

Đeo các hoa tai xinh xinh,

Với tuổi già, lòng thòng, nhăn nheo và méo mó.

Sự thật trong những lời của ‘Vị thốt lên sự thật’,

Vẫn luôn là sự thật.


Tuổi trẻ hai hàm răng xinh xinh,

Trắng muốt như những cánh hoa nhài,

Với tuổi già, sứt mẻ, vàng úa một màu nâu.
Sự thật trong những lời của ‘Vị thốt lên sự thật’,

Vẫn luôn là sự thật.


Ngày xưa âm giọng tôi ngọt ngào,

Như tiếng gáy của con chim cu trong khu rừng thật sâu.

Với tuổi già, khô khan và đứt quãng.

Sự thật trong những lời của ‘Vị thốt lên sự thật’,

Vẫn luôn là sự thật.


Thời tuổi trẻ cổ tôi xinh xinh,

Nhẵn thín như chiếc vỏ sò mài bóng,

Với tuổi già, xiêu vẹo và gục xuống.

Sự thật trong những lời của ‘Vị thốt lên sự thật’,

Vẫn luôn là sự thật.

Ngày xưa, hai cánh tay tôi thật tròn,

Tuyệt vời như đôi then cài cửa.
Với tuổi già, khẳng khiu như những cành cây pāṭali
(tên khoa học là Stereospermum tetragonum).

Sự thật trong những lời của ‘Vị thốt lên sự thật’,
Vẫn luôn là sự thật.


Ngày xưa đôi bàn tay tôi tuyệt đẹp,

Các ngón đeo nhẫn vàng xinh xinh,

Với tuổi già, nào khác gì các củ khoai cong queo.

Sự thật trong những lời của ‘Vị thốt lên sự thật’,

Vẫn luôn là sự thật.


Ngày xưa, tuyệt đẹp đôi vú tôi,

Căng tròn, nhô cao và ngạo nghễ.

Với tuổi già, lòng thòng như hai bọc nước.

Sự thật trong những lời của ‘Vị thốt lên sự thật’,
Vẫn luôn là sự thật.


Ngày xưa thân thể tôi,

Nào khác gì một thoi vàng bóng loáng,

Với tuổi già, hóa thành nhăn nheo.

Sự thật trong những lời của ‘Vị thốt lên sự thật’,

Vẫn luôn là sự thật.


Ngày xưa cặp đùi tôi tuyệt đẹp,

Mềm mại như những chiếc vòi voi.

Với tuổi già, khẳng khiu như hai đốt tre.

Sự thật trong những lời của ‘Vị thốt lên sự thật’,

Vẫn luôn là sự thật.


Ngày xưa, cổ chân tôi đeo các vòng kiềng vàng,

Hai bắp chân xinh xinh.

Với tuổi già, nào khác gì các que kẹo mè.

Sự thật trong những lời của ‘Vị thốt lên sự thật’,

Vẫn luôn là sự thật.

Bọc xương này từng là như thế đó, một ngày xưa.

Hôm nay tàn tạ, nào khác gì một gian nhà đổ nát,

Bên trong cất chứa toàn là khổ đau.

Sự thật trong những lời của ‘Vị thốt lên sự thật’,

Vẫn luôn là sự thật.

Vài lời ghi chú

Bài thơ nêu lên sự vận hành tương liên và nối kết giữa tuổi thanh xuân và lúc tuổi già của một người phụ nữ, gợi lên một quá trình suy thoái: ‘cái này có, cái kia có’ theo chiều tiêu cực. Dhamma của Đức Phật, trên dòng lịch sử quảng bá lâu dài, không sao tránh khỏi các sự thêm thắt và chuyển biến, thế nhưng cốt lõi của Dhamma đó vẫn vững chắc, vẫn luôn là sự thật: nguyên lý tương liên và tương tác vẫn tiếp tục chi phối sự chuyển động của thế giới, sự sinh vẫn đưa đến sự già nua và cái chết, khổ đau vẫn hiện lên với sự hiện hữu của con người. Chẳng phải ‘Sự thật trong những lời của ‘Vị thốt lên sự thật’, vẫn luôn là sự thật’ hay sao? ‘Con bé nhặt được ở gốc cây xoài’ ngày xưa, tuy phải trải qua những thử thách thật cam go ngay từ những ngày bé bỏng, thế nhưng đã sớm trông thấy con đường, đi trọn được con đường, trông thấy sự thật và cũng đã thuật lại sự thật ấy để gửi lại cho chúng ta hôm nay. Điều đó cho thấy ‘cái này có, cái kia có’, nhưng theo chiều tích cực. Nếu khổ đau có, nghị lực có, thì chúng ta không ngã quỵ trên con đường.

Trong kinh điển tiếng Việt cũng có ít nhất hai bản dịch về bài thơ trên đây của Ni sư Ambapālī. Bản dịch thứ nhất của Bhikkhu Indacanda, một vị tỳ-kheo Việt Nam mang pháp danh bằng tiếng Pali, đích thân sang Tích Lan học tiếng Pali và Phật Pháp, đã dịch và chuyển bài thơ này của Ni sư Ambapālī thành văn xuôi. Bản dịch thứ hai của TT Thích Minh Châu thì lại chuyển bài thơ này của Ni sư Ambapālī thành một bài ‘kệ’. Các cách diễn đạt bằng văn xuôi và bằng lời kệ dường như làm mất đi ít nhiều xúc cảm và cái đẹp trong các vần thơ.

Dầu sao thì các nhận xét trên đây cũng chỉ là thứ yếu, mang tính cách chủ quan và thuộc lãnh vực hình thức, việc đánh giá nội dung tùy thuộc vào sự nhận định và quan điểm của mỗi người đọc. Người viết các dòng này cố tránh không trích dẫn ghép thêm các bản dịch tiếng Hán và cả các bản dịch tiếng Việt đã có từ trước, nhằm tránh sự nặng nề cho toàn bộ quyển sách. Thế nhưng các bản dịch Khuddhaka Nikāya / Tiểu Bộ Kinh sang tiếng Việt sẵn có không phân biệt và đánh số từng bài giảng, do đó rất khó truy tìm ít nhất là đối với một số độc giả không quen tìm tòi và tra cứu. Vì lý do đó bài thơ này của Ni sư Ambapālī và hai bài thơ trích dẫn tiếp theo dưới đây sẽ được kèm thêm các bản dịch tiếng Việt đã có từ trước, nhằm mục đích giúp người đọc đối chiếu, tham khảo và tìm hiểu thêm về nội dung cũng như ý nghĩa của các bài thơ này, nhưng không mất nhiều thì giờ vào việc truy tìm. Sau đây là hai bản dịch của Bhikkhu Indacanda và của TT Thích Minh Châu về bài thơ của Ni sư Ambapālī:



Bản dịch của Bhikkhu Indacanda

Bản dịch của TT Thích Minh Châu

Các sợi tóc của tôi đã là màu đen giống như màu của loài ong, có đầu ngọn bị xoắn lại.

Bởi tuổi già, chúng trở thành tương tự như những thớ sợi của vỏ cây gai; lời nói của bậc Tuyên Thuyết Sự Thật là không sai khác.

Cái đầu của tôi, đầy những bông hoa, được tỏa hương tựa như cái hộp thơm.

Bởi tuổi già, nó trở nên có mùi tương tự như lông của loài chó; lời nói của bậc Tuyên Thuyết Sự Thật là không sai khác.

Tựa như khu rừng rậm khéo được trồng trọt, (đầu tóc) được trông tuyệt đẹp với những đầu ngọn tóc được tách rời ra nhờ vào lược và kim găm.

Bởi tuổi già, nó trở nên lơ thơ chỗ này chỗ nọ; lời nói của bậc Tuyên Thuyết Sự Thật là không sai khác.

Được điểm tô với vàng ở chùm tóc đen, được trang điểm với những bím tóc xinh, (đầu tóc) trông tuyệt đẹp.

Bởi tuổi già, nó bị làm trở thành cái đầu bị sói; lời nói của bậc Tuyên Thuyết Sự Thật là không sai khác.

Tựa như đường nét được khéo tạo ra bởi người thợ vẽ, cặp lông mày xinh của tôi trước đây trông tuyệt đẹp.

Bởi tuổi già, chúng bị giăng ngang với những nếp nhăn; lời nói của bậc Tuyên Thuyết Sự Thật là không sai khác.

Đôi mắt dài, có màu đen tuyền, đã là rực rỡ, vô cùng xinh xắn giống như ngọc ma-ni.

Bởi tuổi già, chúng bị tàn phá, không còn tuyệt đẹp; lời nói của bậc Tuyên Thuyết Sự Thật là không sai khác.

Và lỗ mũi tựa như đỉnh chóp thanh tú, trông tuyệt đẹp vào thời điểm còn rất trẻ.

Bởi tuổi già, nó tựa như bị quắt lại; lời nói của bậc Tuyên Thuyết Sự Thật là không sai khác.

Hai dái tai của tôi trông tuyệt đẹp, tựa như vòng xuyến khéo được gia công, khéo được hoàn thành. Bởi tuổi già, chúng bị giăng ngang với những nếp nhăn; lời nói của bậc Tuyên Thuyết Sự Thật là không sai khác.

Những cái răng xinh xắn của tôi trước đây trông tuyệt đẹp, tựa như nụ hoa chuối.

Bởi tuổi già, chúng bị sứt mẻ và ngả màu vàng; lời nói của bậc Tuyên Thuyết Sự Thật là không sai khác.

Tôi đã thỏ thẻ giọng ngọt ngào tựa như con chim cu cu có sự di chuyển ở trong khu rừng lớn và rừng thưa.

Bởi tuổi già, giọng ấy đã bị ngập ngừng chỗ này chỗ nọ; lời nói của bậc Tuyên Thuyết Sự Thật là không sai khác.

Cái cổ xinh của tôi trông vô cùng xinh đẹp, tựa như vỏ sò (có ba ngấn) mềm mại, khéo được chùi bóng. Bởi tuổi già, nó trở nên bị đứt đoạn và võng xuống; lời nói của bậc Tuyên Thuyết Sự Thật là không sai khác.

Hai cánh tay xinh của tôi trông vô cùng xinh đẹp, cả hai giống y như thanh gài cửa tròn trịa.

Bởi tuổi già, chúng trở thành giống như (những cành) cây hoa kèn bị khô héo; lời nói của bậc Tuyên Thuyết Sự Thật là không sai khác.

Hai bàn tay xinh của tôi trước đây trông tuyệt đẹp, được tô điểm với chiếc nhẫn thanh nhã làm bằng vàng.

Bởi tuổi già, chúng trở thành giống như rễ củ (cà rốt); lời nói của bậc Tuyên Thuyết Sự Thật là không sai khác.

Bộ ngực nhỏ xinh của tôi trước đây trông tuyệt đẹp, cả hai đều đầy đặn, tròn trịa, liền nhau, dựng đứng. Bởi tuổi già, chúng trở thành lủng lẳng giống như hai túi da hết nước; lời nói của bậc Tuyên Thuyết Sự Thật là không sai khác.

Thân thể xinh của tôi trước đây trông tuyệt đẹp, tựa như lát vàng khéo được đánh bóng.

Bởi tuổi già, nó bị tràn lan với các nếp nhăn li ti; lời nói của bậc Tuyên Thuyết Sự Thật là không sai khác.

Cặp đùi xinh của tôi trước đây trông tuyệt đẹp, cả hai tương tự như cái vòi của loài voi.

Bởi tuổi già, chúng trở thành giống như các ống tre; lời nói của bậc Tuyên Thuyết Sự Thật là không sai khác.

Hai ống chân xinh của tôi trước đây trông tuyệt đẹp, được điểm tô với các vòng kiềng thanh nhã làm bằng vàng.

Bởi tuổi già, chúng trở thành tựa như các cọng thân của cây mè; lời nói của bậc Tuyên Thuyết Sự Thật là không sai khác.

Hai bàn chân xinh của tôi trước đây trông tuyệt đẹp, cả hai tương tự như được phủ đầy bông gòn.

Bởi tuổi già, chúng bị nứt nẻ, có nếp nhăn; lời nói của bậc Tuyên Thuyết Sự Thật là không sai khác.

Thân xác này đã trở nên như thế này, già cỗi, nơi chứa đựng nhiều khổ đau, ngôi nhà cũ kỹ bị rơi xuống các lớp vữa hồ; lời nói của bậc Tuyên Thuyết Sự Thật là không sai khác.”

Trưởng lão ni Ambapālī đã nói những lời kệ như thế.-

252. Đen như sắc con ong,

Tóc dài ta khéo uốn,

Nay biến đổi vì già,

Như vải gai, vỏ cây,

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

253. Thơm như hộp ướp hương,

Đầu ta đầy những hoa,

Nay biến đổi vì già,

Hôi như lông con thỏ,

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

254. Như rừng khéo vun trồng,

Lược kim tu chói sáng,

Nay biến đổi vì già,

Tóc lơ thơ rơi rụng,

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật

255. Trang điểm với bện tóc,

Sáng chói nữ trang vàng,

Tóc mềm mại êm dịu,

Thơm ngát với mùi hương,

Nay biến đổi vì già,

Rơi rụng đầu sói trọc,

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

256. Trước lông mày của ta,

Chói sáng khéo tô vẽ,

Nay biến đổi vì già,

Nhăn nheo, rơi suy sụp,

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

257. Mắt ta xanh và dài,

Sáng đẹp như châu báu,

Nay biến đổi vì già,

Hư hại không chói sáng,

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

258. Lỗ mũi mềm và thon,

Sáng chói và trẻ măng,

Nay biến đổi vì già,

Héo khô và tàn tạ,

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

259. Trước tai ta sáng chói,

Như vàng vòng khéo làm,

Nay biến đổi vì già,

Nhăn nheo chảy xệ xuống,

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

260. Trước răng ta sáng chói,

Như búp nụ chuối hoa,

Nay biến đổi vì già,

Bể gãy vàng như lúa,

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

261. Ngọt là giọng nói ta,

Như chim cu hót rừng,

Nay biến đổi vì già,

Tiếng bể bị đứt đoạn,

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

262. Trước cổ ta chói sáng,

Mềm đầy đặn nhu nhuyến,

Nay biến đổi vì già,

Nhiều ngấn và khô cằn,

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

263. Trước cánh tay của ta,

Sáng như hai cột tròn,

Nay biến đổi vì già,

Như hoa kèn yếu ớt,

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

264. Trước bàn tay của ta,

Mềm mại như cành hoa,

Sáng như nữ trang vàng,

Nay biến đổi vì già,

Như rễ cây khô cằn,

Nhăn nheo và thô nhám,

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

265. Trước vú ta sáng chói,

Căng thẳng và tròn đầy,

Nay biến đổi vì già,

Trống rỗng treo lủng lẳng,

Như da không có nước,

Trống không, không căng tròn,

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

266. Trước thân ta chói sáng,

Như giáp vàng đánh bóng,

Nay biến đổi vì già,

Đầy vết nhăn nhỏ xíu,

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

267. Trước bắp vế của ta,

Sáng chói như vòi voi,

Nay biến đổi vì già,

Giống như những ống tre,

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

268. Trước ống chân của ta,

Mềm mại như vòng vàng,

Nay biến đổi vì già,

Chẳng khác gậy cây mè,

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

269. Trước chân ta chói sáng,

Với lông mềm như bông,

Nay biến đổi vì già,

Nứt nẻ đầy đường nhăn,

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

270. Thân này là như vậy,

Nay già chứa nhiều khổ,

Ngôi nhà đã cũ kỹ,

Vôi trét tường rơi xuống,

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

Tiếp theo dưới đây là các vần thơ của một vị ni sư khác là Vimalā:

Lời tự thuật của Ni sư Trưởng lão Vimalā

Vimalātherīgāthā - Thig 5.2

Vimalā là tên của một kỹ nữ (courtesan) trước khi trở thành một ni sư đáng kính. Ni sư Ambapālī tác giả của bài thơ trên đây cũng vậy, lớn lên từ một đứa bé sơ sinh nhặt được dưới gốc một cây xoài đã trở thành một kỹ nữ. Phải chăng số phận của người phụ nữ trong các xã hội phụ hệ cổ xưa là như vậy? Thật vậy, kinh sách thường nói đến các tỳ kheo nam giới, các người ‘chủ gia đình’, các người ‘con trai trưởng’ trong gia đình, nhưng không mấy khi nói đến những người phụ nữ. Thế nhưng trong các xã hội phụ hệ xa xưa đó cũng có những nguời phụ nữ khác thường, nhưng cũng không phải là tất cả những người đàn ông đều đáng kính như các vị tỳ-kheo. Dưới đây là các vần thơ của Ni sư Trưởng lão Vimalā:

Thuở thanh xuân,

Say sưa với vóc dáng,

Với thân hình, với sắc đẹp, với sự lừng danh,

Tôi khinh thường những người phụ nữ khác.

Trang điểm, tôi biến thân thể tôi tuyệt đẹp,

Khiến những tên điên rồ trầm trồ .

Tôi đứng ở cửa nhà thổ,

Tương tự như một tên thợ săn giăng mồi.

Vì họ tôi cởi phăng quần áo,

Phô bày các kho tàng dấu kín trong tôi,

Gợi lên một ảo giác thật khó tả ,

Bật cười, tôi trêu chọc những tên đàn ông ấy.

Hôm nay tôi ôm bình bát khất thực,

Đầu cạo trọc, đắp thân tôi trong hai lớp áo.

Dưới một cội cây, tôi ngồi xuống,

Trong tâm thức, một sự trống không.

Dù thuộc thuộc cấp bậc con người hay thiên giới,

Tất cả mọi gông cùm đều bị bẻ gãy.

Thoát ra khỏi mọi ô nhiễm, tôi hóa thành nguội lạnh,

Không một bám víu nào trong tôi.

Bài thơ tuy ngắn, bộc trực nhưng ý nghĩa thật mạnh và sâu sắc, nêu lên một sự tương kết giữa thân phận và nghị lực của một người phụ nữ, một sự tương kết mang tính cách tích cực, có nghĩa là từ một cái gì đó thấp kém đưa đến cái gì khác cao cả hơn. Cốt lõi của Phật giáo là quyết tâm và nghị lực, không phải chỉ có cầu xin. Vì thế thiết nghĩ đôi khi chúng ta cũng nên nhìn vào thân phận mình hầu phát huy một nghị lực để biến cải nó. Dưới đây là hai bản dịch của TT Thích Minh Châu và của Bhikkhu Indacanda về bài thơ của Ni sư Vimalā:



Bản dịch của Bhikkhu Indacanda

Bản dịch của TT Thích Minh Châu

Bị đắm say với màu da, dáng vóc, vẻ đẹp, và tiếng tăm, và kiêu kỳ với tuổi thanh xuân, tôi đã khinh khi những người đàn bà khác.

Sau khi trang điểm thân này vô cùng sặc sỡ, khiến những kẻ ngu trầm trồ, tôi đã đứng ở cửa lớn của tiệm buôn hương bán phấn, tựa như người thợ săn giăng ra bẫy mồi.

Trong khi phô bày sự chưng diện, bộ phận kín được bộc lộ nhiều nơi, tôi đã làm nhiều trò ma mãnh trong khi cười giỡn với đám đông người.

Hôm nay, tôi đây, sau khi đi khất thực, đầu cạo, trùm lên y hai lớp, ngồi xuống ở gốc cây, có sự đạt được trạng thái vô tầm (nhị thiền).

Tất cả các sự ràng buộc thuộc về cõi trời và thuộc về loài người đã được trừ tuyệt. Sau khi quăng bỏ tất cả các lậu hoặc, tôi có được trạng thái mát mẻ, chứng được Niết Bàn.”

Trưởng lão ni Vimalā đã nói những lời kệ như thế.

72. Say mê với giai cấp,

Với dung sắc tuổi xuân,

Với danh xưng, danh vọng,

Ta ỷ lại tuổi trẻ,

Đối với những người khác,

Ta khinh bỉ khinh thường.

73. Thân này ta trang điểm,

Ta khêu gợi kẻ ngu,

Ta đứng trong khung cửa,

Tại cửa hàng buôn sắc,

Như thợ săn, ác độc,

Đang gieo đặt bẫy mồi.

74. Ta khoa trương trang sức,

Phô bày nhiều chỗ kín,

Để châm biếm nhiều người,

Ta làm nhiều ảo thuật,

Hôm nay ta khất thực,

Đầu trọc, đắc đại y,

Ta ngồi dưới gốc cây,

Ta chứng định không tầm.

75. Mọi khổ ách đoạn tận,

Cả cõi trời, cõi người,

Quăng bỏ mọi lậu hoặc,

Ta mát lạnh tịch tịnh. -

Nếu hai bài thơ trên đây là của hai ni sư trưởng lão xuất thân từ các cấp bậc khiêm tốn trong xã hội, thì bài thơ dưới đây là những lời tự thuật của một ni sư trưởng lão trong giới hoàng tộc.

Lời tự thuật của Ni sư Trưởng lão Sundarī-Nandā

Sundarīnandātherīgāthā - Thig 5.4

Theo Tạng Luật (Vinaya Nikāya) thì Ni sư Sundarī -Nandā là con gái của bà Maha Pajapati, vợ thứ của vua Suddhodana, và cũng là em gái của mẹ của Đức Phật là bà Mayadevi. Mẹ của Đức Phật sau khi hạ sinh Ngài thì qua đời vì hậu sản. Trước đó vài ngày thì bà Maha Pajapati, dì của Đức Phật, cũng hạ sinh, nhưng là một bé gái, đặt tên là Nandā. Trước tình cảnh mồ côi mẹ của cháu mình vừa mới sinh, bà Maha Pajapati giao con của mình cho các vú nuôi và tự mình đích thân chăm lo và nuôi nấng cháu mình là Đức Phật tương lai. Lớn lên Đức Phật không hề biết người mẹ sinh ra mình là ai cả. Phải chăng đấy cũng là một niềm đau trong lòng người thanh niên Gotama trước khi đạt được sự Giác ngộ.

Trong khi đó thì người con gái Nandā, con của người dì và cũng là em cùng cha với mình, lớn lên và trở thành một thiếu nữ tuyệt đẹp, tính tình hân hoan và vui vẻ, do vậy đã được ghép thêm biệt danh là Sundarī (chữ sundara có nghĩa là xinh đẹp / elegant, nice, pretty…). Cô công chúa Sundarī-Nandā được hoàng gia dự trù gả cho một thanh niên dòng giỏi quý phái, nhưng cô đã khước từ và bước theo con đường Dhamma của Đức Phật và sau đó đã đạt được thể dạng Arahant. Ngoài ra cũng xin lưu ý là thời đại của Đức Phật thuộc thời kỳ tiền lịch sử của nước Ấn, kinh điển Pali là một nguồn tư liệu vô cùng quý giá giúp các sử gia ngày nay tìm hiểu về các bộ tộc, lãnh thổ, vua chúa, các sự sinh hoạt xã hội, các thói tục dân gian vào thời bấy giờ. Dưới đây là các vần thơ của Ni sư Sundarī-Nandā:

« Này Nandā, hãy nhìn vào cái bọc xương này,

(Xin lưu ý đây là lời của Ni sư Sundarī-Nandā nêu lên sự suy nghĩ của mình, tự gọi mình và tự nói với mình)

Như là một thứ gì đó dơ bẩn, hôi thối, cất chứa đầy bệnh tật,

(dù rằng Ni sư Nandā nổi tiếng là một phụ nữ xinh đẹp)

Với một tâm thức mở rộng, hãy nhìn vào sự uế tạp đó,

Để hợp nhất hóa nó (để trông thấy bản chất của nó từ bên trong nó)

và mang lại cho nó sự trong sáng.

Cái này có, cái kia có (thân xác… có, bệnh tật, dơ bẩn và hôi thối… có).

Cái này [sinh ra] là như thế này, cái kia [sinh ra] là như thế kia,

(thân xác… sinh ra là như thế này; bệnh tật, dơ bẩn và hôi thối… sinh ra là như thế kia: hai thể dạng liên kết với nhau)

Khi mùi buồn nôn [của thân thể] xông lên,

Thì đấy lại là sự thích thú của những kẻ điên rồ.

Sau khi suy nghĩ như thế,
Không mệt mỏi, ngày cũng như đêm,

Tôi nhận thấy được các điều ấy,

Qua sự quán xét về con người của chính tôi.

Khi quán xét thật chú tâm về thân xác này [của tôi],

Đúng với nó cũng chỉ là như thế –

Thì tôi trông thấy được nó,

Từ [bản chất] bên trong chính nó và cả [dáng vẻ] bên ngoài của nó,

Tỉnh ngộ về [bản chất của] thân xác này,

Tôi vỡ mộng đối với nó từ bên trong chính nó.

Phát huy sự cảnh giác, tôi tách ra khỏi nó,

Sự thanh thản hiện lên trong tôi.

Dưới đây là hai bản dịch của Bhikkhu Indacanda và của TT Thích Minh Châu về bài thơ này. Theo hai bản dịch này thì có thể hiểu lầm những lời tự thuật của Ni sư Sundarī-Nandā là những lời dạy bảo của Đức Phật. Sự sơ sót này quả là một điều đáng tiếc (xin lưu ý các chữ in đậm).



Bản dịch của Bhikkhu Indacanda

Bản dịch của TT Thích Minh Châu

GS Trần Phương Lan

“‘Này Nandā, cô hãy nhìn thấy xác thân là bệnh hoạn, không trong sạch, hôi thối, hãy tu tập tâm được chuyên nhất, khéo được định tĩnh, về (đề mục) tử thi.

Thân này như thế nào thì xác kia như vậy, xác kia như thế nào thì thân này như vậy. Nó bốc mùi khó chịu, hôi thối, lại được hứng thú đối với những kẻ ngu.

Trong khi xem xét xác thân này như thế, không biếng nhác, cả ngày lẫn đêm, từ đó, với trí tuệ của mình, sau khi đã phân tích thấu đáo, cô sẽ nhìn thấy.’

Tôi đây, không bị xao lãng, trong lúc đang suy xét theo đúng đường lối, đã nhìn thấy thân này đúng theo bản thể, cả bên trong lẫn bên ngoài.

Rồi tôi đã nhàm chán xác thân, và tôi đã không còn luyến ái ở nội phần. Không bị xao lãng, không còn bị ràng buộc, tôi có được trạng thái an tịnh, chứng được Niết Bàn.”

Trưởng lão ni Sundarīnandā đã nói những lời kệ như thế.

Rồi đức Phật thuyết pháp cho cô như sau:

82. Nandā, hãy nhìn thân!

Bệnh bất tịnh , hôi thối,

Hãy tu tâm bất tịnh ,

Nhất tâm khéo định tĩnh.

83. Như thân này thân ấy,

Như thân ấy thân này,

Hôi thối và rữa nát,

Chỉ kẻ ngu thích thú .

84. Như vậy quán thân này,

Ngày đêm không mệt mỏi ,

Với trí tuệ của con,

Do vậy hãy thoát ly ,

Với trí tuệ của con,

Thoát khỏi kiêu sắc đẹp,

Và người si nhìn thấy,

Với cái nhìn như thật .

Rồi cô nghe theo lời dạy, với trí tuệ an trú vững chắc trên quả thứ nhất. Muốn giúp cô đạt được những quả vị cao hơn, Thế Tôn dạy thêm cho cô: “Này Nandā, trong cái thân này không có một chút gì là tinh túy , chỉ là một đống xương và thịt bị già chết chi phối .”

85. Thành này làm bằng xương,

Quét tô bằng máu thịt,

Ở đây già và chết,

Mạn, lừa đảo chất chứa .

Khi đức Phật nói xong, cô liền chứng quả A-la-hán. Và nghĩ đến sự chiến thắng của mình, cô sung sướng với lời dạy của đức Bổn Sư […]

Bures-Sur-Yvette, 04.11.25

Hoang Phong

(Còn tiếp)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/09/2021(Xem: 28976)
Bắt đầu gặp nhau trong nhà Đạo, người quy-y và người hướng-dẫn biết hỏi và biết tặng món quà pháp-vị gì cho hợp? Thực vậy, kinh sách man-mác, giáo-lý cao-siêu, danh-từ khúc-mắc, nghi-thức tụng-niệm quá nhiều – nghiêng nặng về cầu-siêu, cầu-an – không biết xem gì, tụng gì và nhất là nhiều người không có hoàn-cảnh, thỉnh đủ. Giải-đáp thực-trạng phân-vân trên, giúp người Phật-tử hiểu qua những điểm chính trong giáo-lý, biết qua sự nghiệp người xưa, công việc hiện nay và biết đặt mình vào sự rèn-luyện thân-tâm trong khuôn-khổ giác-ngộ và xử-thế, tôi biên-soạn cuốn sách nhỏ này. Cuốn sách nhỏ này không có kỳ-vọng cao xa, nó chỉ ứng theo nhu-cầu cần-thiết, mong giúp một số vốn tối-thiểu cho người mới vào Đạo muốn tiến trên đường tu-học thực-sự. Viết tại Sài-thành mùa Đông năm Mậu-tuất (1958) Thích-Tâm-Châu
23/07/2021(Xem: 31564)
Giữa tương quan sinh diệt và biển đổi của muôn trùng đối lưu sự sống, những giá trị tinh anh của chân lý bất diệt từ sự tỉnh thức tuyệt đối vẫn cứ thế, trơ gan cùng tuế nguyệt và vững chãi trước bao nổi trôi của thế sự. Bản thể tồn tại của chân lý tuyệt đối vẫn thế, sừng sững bất động dẫu cho người đời có tiếp nhận một cách nồng nhiệt, trung thành hay bị rũ bỏ, vùi dập một cách ngu muội và thô thiển bởi các luận điểm sai lệch chối bỏ sự tồn tại của tâm thức con người. Sự vĩnh cửu ấy phát xuất từ trí tuệ vô lậu và tồn tại chính bởi mục đích tối hậu là mang lại hạnh phúc chân thật cho nhân loại, giúp con người vượt thoát xiềng xích trói buộc của khổ đau. Tuỳ từng giai đoạn của nhân loại, có những giai đoạn, những tinh hoa ấy được tiếp cận một cách mộc mạc, dung dị và thuần khiết nhất; có thời kỳ những nét đẹp ấy được nâng lên ở những khía cạnh khác nhau; nhưng tựu trung cũng chỉ nhằm giải quyết những khó khăn hiện hữu trong đời sống con người và xã hội.
07/05/2021(Xem: 33033)
Phật Điển Thông Dụng - Lối Vào Tuệ Giác Phật, BAN BIÊN TẬP BẢN TIẾNG ANH Tổng biên tập: Hòa thượng BRAHMAPUNDIT Biên tập viên: PETER HARVEY BAN PHIÊN DỊCH BẢN TIẾNG VIỆT Chủ biên và hiệu đính: THÍCH NHẬT TỪ Dịch giả tiếng Việt: Thích Viên Minh (chương 11, 12) Thích Đồng Đắc (chương 1, 2) Thích Thanh Lương (chương 8) Thích Ngộ Trí Đức (chương 7) Thích Nữ Diệu Nga (chương 3, 4) Thích Nữ Diệu Như (chương 9) Đặng Thị Hường (giới thiệu tổng quan, chương 6, 10) Lại Viết Thắng (phụ lục) Võ Thị Thúy Vy (chương 5) MỤC LỤC Bảng viết tắt Bối cảnh quyển sách và những người đóng góp Lời giới thiệu của HT Tổng biên tập Lời nói đầu của Chủ biên bản dịch tiếng Việt GIỚI THIỆU TỔNG QUAN Giới thiệu dẫn nhập Giới thiệu về cuộc đời đức Phật lịch sử Giới thiệu về Tăng đoàn: Cộng đồng tâm linh Giới thiệu về các đoạn kinh của Phật giáo Thượng tọa bộ Giới thiệu về các đoạn kinh của Phật giáo Đại thừa Giới thiệu về các đoạn kinhcủa Phật giáo Kim cương thừa PHẦN I: CUỘC ĐỜI ĐỨC
29/11/2020(Xem: 20290)
“Ma” tiếng Phạn gọi là Mara, Tàu dịch là “Sát,” bởi nó hay cướp của công đức, giết hại mạng sống trí huệ của người tu. “Ma” cũng chỉ cho những duyên phá hoại làm hành giả thối thất đạo tâm, cuồng loạn mất chánh niệm, hoặc sanh tà kiến làm điều ác, rồi kết cuộc bị sa đọa. Những việc phát sanh công đức trí huệ, đưa loài hữu tình đến Niết-bàn, gọi là Phật sự. Các điều phá hoại căn lành, khiến cho chúng sanh chịu khổ đọa trong luân hồi sanh tử, gọi là Ma sự. Người tu càng lâu, đạo càng cao, mới thấy rõ việc ma càng hung hiểm cường thạnh. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong "Niệm Phật Thập Yếu", Ma tuy nhiều, nhưng cốt yếu chỉ có ba loại: Phiền não ma, Ngoại ma và Thiên ma
04/11/2020(Xem: 13934)
Những chúng sanh thuộc hàng Thanh Văn: Các chúng sanh thuộc hàng Thanh Văn được chứng ngộ khi nghe được những học thuyết về các Uẩn, Giới, Xứ, nhưng lại không đặc biệt lưu tâm đến lý nhân quả. Họ giải thoát được sự trói buộc của các phiền não nhưng vẫn chưa đoạn diệt được tập khí của mình. Họ đạt được sự thể chứng Niết-Bàn, và an trú trong trạng thái ấy, họ tuyên bố rằng họ đã chấm dứt sự hiện hữu, đạt được đời sống Phạm hạnh, tất cả những gì cần phải làm đã được làm, họ sẽ không còn tái sinh nữa. Những vị nầy đã đạt được Tuệ kiến về sự Phi hiện hữu của “Ngã thể” trong một con người, nhưng vẫn chưa thấy được sự Phi hiện hữu trong các sự vật. Những nhà lãnh đạo triết học nào tin vào một "Đấng Sáng Tạo" hay tin vào “Linh hồn” cũng có thể được xếp vào đẳng cấp nầy.
03/10/2020(Xem: 34222)
Đây là một bài nghị luận về Lý Duyên Khởi được Ajahn Brahm viết lần đầu tiên hơn hai thập niên trước. Vào lúc đó, ngài quan tâm nhiều hơn đến những chi tiết phức tạp trong việc giảng dạy kinh điển. Vì lý do đó bài nghị luận này có tính cách hoàn toàn chuyên môn, so với những gì ngài giảng dạy hiện nay. Một trong những học giả Phật học nổi tiếng nhất hiện nay về kinh điển Phật giáo đương đại là Ngài Bhikkhu Bodhi, đã nói với tôi rằng “Đây là bài tham luận hay nhất mà tôi được đọc về đề tài này”.
05/04/2020(Xem: 19622)
Luận Đại Thừa Trăm Pháp do Bồ tát Thế Thân (TK IV TL) tạo nêu rõ tám thức tâm vương hàm Tâm Ý Thức thuộc ngành tâm lý – Duy Thức Học và là một tông phái: Duy Thức Tông - thuộc Đại Thừa Phật Giáo. Tâm Ý Thức như trở thành một đề tài lớn, quan trọng, bàn cải bất tận lâu nay trong giới Phật học thuộc tâm lý học. Bồ Tát Thế Thântạo luận, lập Du Già Hành Tông ở Ấn Độ, và sau 3 thế kỷ pháp sư Huyền Trang du học sang Ấn Độ học tông này với Ngài Giới Hiền tại đại học Na Lan Đà (Ấn Độ) năm 626 Tây Lịch. Sau khi trở về nước (TH) Huyền Trang lập Duy Thức Tông và truyền thừa cho Khuy Cơ (632-682) xiển dương giáo nghĩa lưu truyền hậu thế.
30/03/2020(Xem: 14904)
Những người Cơ đốc giáo thường đặt vấn đề: Thượng đế có phải là một con người hay không? Nếu Thượng đế không phải là một con người thì làm sao chúng ta có thể cầu nguyện? Đây là một vấn đề rất lớn trong Cơ đốc giáo. (God is a person or is not a person?)
23/03/2020(Xem: 18178)
Có một con sư tử mẹ đang đi kiếm ăn. Nó sắp làm mẹ. Buổi sáng đó nó chạy đuổi theo một chú nai. Chú nai con chạy thật nhanh dù sức yếu. Sư tử mẹ dầu mạnh, nhưng đang mang thai, nên khá chậm chạp. Sư tử mẹ chạy sau chú nai con rất lâu, khoảng 15 phút, mà vẫn chưa bắt kịp. Sau đó chúng tới một rãnh sâu. Chú nai lẹ làng nhảy qua rãnh, sang bờ bên kia. Sư tử mẹ rất bực tức vì không bắt kịp con mồi, và vì nó đang cần thức ăn cho cả nó và đứa con trong bụng. Vì thế, nó cố hết sức để nhảy qua cái rãnh sâu. Nhưng tai họa đã xảy ra, sư tử mẹ đã sẩy đứa con khi cố nhảy qua rãnh. Dầu qua được bờ bên kia, nhưng sư tử mẹ biết rằng mình đã đánh mất đứa con mà nó đã chờ đợi từ bao lâu, đã yêu thương hết lòng, chỉ vì một phút vô tâm của mình. Nó đã quên rằng nó đang mang một bào thai trong bụng, và nó cần phải hết sức cẩn trọng. Chỉ một phút lơ đễnh, nó đã không giữ được đứa con của mình.
01/03/2020(Xem: 18064)
Kinh Viên Giác là kinh đại thừa đốn giáo được Phật cho đó là “Con mắt của 12 bộ kinh”. “Con mắt” ở đây theo thiển ý có nghĩa là Viên Giác soi sáng nghĩa lý, là điểm tựa, là ngọn hải đăng cho các bộ kinh để đi đúng “chánh pháp nhãn tạng”, không lạc vào đường tà và tu thành Phật. Khi nghe kinh này, đại chúng kể cả chư Phật và chư Bồ Tát đều phải vào chánh định/tam muội, không bình thường như những pháp hội khác.