Quán tưởng về vô thường và cái chết

02/05/201209:44(Xem: 6297)
Quán tưởng về vô thường và cái chết
QUÁN TƯỞNG VỀ

VÔ THƯỜNG VÀ CÁI CHẾT

Lama Zopa Rinpoche & Kathleen McDonald

Lama_Zopa_2

Lama Zopa Rinpoche là giám đốc đỡ đầu của FPMT (Trung tâm Bảo Tồn Truyền Thống Đại Thừa), là một hệ thống các trung tâm, tự viện, trạm xá, trường học Phật giáo trên toàn thế giới. Ngài là tác giả của nhiều đầu sách như Làm thế nào để được Hạnh phúc; Chuyển hóa khổ đau thành hạnh phúc; và Sự Làm Lành Tối Thượng.

Kathleen McDonald xuất gia theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng năm 1974. Bà cũng là tác giả của nhiều sách Phật giáo nổi tiếng như bộ sách Phương Cách Hành Thiền; Đánh Thức Tâm Từ Bi: Thiền quán về Tâm từ bi.

Chúng ta cần luôn quán tưởng về cái chết. Làm được điều đó thì tâm ta sẽ duy trì được chánh niệm về những biến đổi không dừng dứt đang xảy ra bên trong ta, về sự ngắn ngủi của cuộc sống, và cuộc sống đó đang ngắn dần đi trong từng phút giây. Điều đó sẽ đem đến cho chúng ta bao lợi ích. Biết bao vị tu chứng đã bắt đầu bằng cách quán chiếu về sự ngắn ngủi của kiếp người, về vô thường và về cái chết. Sự giải thoát, Giác Ngộ và pháp hành của họ, tất cả đều bắt đầu bằng sự quán chiếu này.

Sức mạnh và khả năng chịu đựng để sống khổ hạnh ở những nơi hoàn toàn hoang vắng, để thực hành những đề mục thiền quán thâm sâu, bao quát nhằm đưa đến các đạo quả cao thượng hơn, nhằm kích hoạt nguồn năng lượng bao la hầu tiếp tục việc tu hành của họ –tất cả đều bắt nguồn từ việc quán chiếu sâu sắc về sự ngắn ngủi của kiếp con người, về vô thường, về cái chết. Lý do khiến họ có thể đạt được giải thoát ngay trong kiếp sống này đều là nhờ họ luôn quán tưởng đến cái chết.

Để đạt được giải thoát đòi hỏi biết bao nỗ lực; và chúng ta càng nôn nóng muốn được giải thoát bao nhiêu, thì chúng ta càng cần tăng nỗ lực đó lên bấy nhiêu. Chúng ta cần năng lực mạnh mẽ để chế ngự những trở ngại trong việc tu tập, và đi theo con đường đạo. Năng lực đó từ đâu đến? Nó đến từ việc nhớ nghĩ đến sự vô thường của sống chết. Ngay cả những ân sủng mà các vị chứng đắc luôn ban cho tất cả chúng sanh cũng có thể truy nguyên trở về từ việc quán tưởng về cái chết.

Quán tưởng đến vô thường và cái chết cũng rất quan trọng nếu chúng ta muốn tự giải thoát khỏi vòng luân hồi. Quán tưởng về vô thường và cái chết giúp chúng ta chấm dứt được 84,000 tâm uế nhiễm. Tất cả các trạng thái tâm uế nhiễm khác nhau –phát xuất từ gốc căn của tham, sân và si, tất cả những vô minh này làm trở ngại sự giải thoát khỏi luân hồi –có thể được chấm dứt bởi năng lựơng phát khởi từ việc quán tưởng đến vô thường và chết. Thiền quán này là nguồn gốc chính của việc chấm dứt mọi vọng tưởng, đưa đến Giác Ngộ. Nó rất mạnh mẽ.

Nếu chúng ta luôn quán tưởng đến vô thường và cái chết, ta có thể tránh làm phát khởi các tâm tiêu cực tầm thường như tham, vô minh, sân hận, tự ái, ganh tỵ, vân vân –các loại tâm khiến chúng ta khó chịu, khổ đau và phiền não. Chúng không thể phát khởi vì khi luôn quán tưởng đến vô thường và chết, chúng ta thực sự biết sợ cái chết và sự ngắn ngủi của kiếp con người. Cái sợ đúng đắn này là cái sợ rất cần thiết, giúp tâm ta được bình ổn, ngay chính trong hiện tại.

Quán tưởng đến vô thường và cái chết không chỉ ích lợi lúc ta bắt đầu tu tập –khi nó khiến chúng ta tìm đến Phật Pháp và bắt đầu tu tập thay vì chỉ chạy đuổi theo các tâm vọng tưởng- mà nó cũng hữu ích suốt trong quá trình hành Pháp của ta. Một khi chúng ta đã bước trên con đường đạo, nó sẽ tạo động lực để ta tiếp tục đi tới. Vì dầu đã biết đạo, quán tưởng đến cái chết sẽ giúp ta không lạc hướng trong tu tập và nó sẽ giúp ta tiếp tục không ngừng nghỉ để tiến đến những mức độ tu chứng cao hơn trên đường đạo. Do đó, quán tưởng đến vô thường và cái chết cũng hữu ích ở khúc cuối của quá trình tu tập của chúng ta.

Cuối cùng, đến giờ phút ta phải ra đi, sự quán tưởng này cũng hữu ích vì nó giúp chúng ta ra đi một cách bình an, tự tại, với tâm buông xả, không còn vướng bận điều gì nữa. Việc quán tưởng này giúp ta ra đi với tâm hoan hỷ. Người mà cả đời đã luôn hằng ngày quán tưởng đến cái chết, sẽ không ngừng thanh lọc tâm mình, tạo nhiều công đức, tạo ít nghiệp xấu, thì chắc chắn sẽ không có vấn đề gì trước giờ ra đi của mình.

PHƯƠNG CÁCH QUÁN TƯỞNG VỀ VÔ THƯỜNG

blankLiên hệ những gì chúng ta nhìn thấy ở thế giới bên ngoài với nội tâm chúng ta rất hữu ích, nó có thể trở thành một loại thiền phân tích. Do đó:


Khi chúng ta ngắm một dòng sông, nhìn dòng nước chảy, ta có thể nghĩ là cuộc đời ta cũng qua đi nhanh chóng như dòng nước chảy.

Khi nhìn mặt trời mọc lên và lặn xuống, hãy quán tưởng đến cuộc đời ta cũng nhanh chóng qua đi như thế.

Như dầu trong ngọn đèn đang cháy, liên tục bị tiêu hao, và cuộc đời chúng ta cũng thế.

Như những mùa qua đi, cuộc đời chúng ta cũng thế; như hạ, thu, đông và xuân qua đi nhanh chóng, cuộc đời chúng ta cũng trở nên càng lúc càng ngắn hơn, càng lúc càng nhanh chóng qua đi.

Diệu Liên Lý Thu Linh
(Trích dịch theo Transforming Your Anxiety about Impermanence and Death
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/10/2010(Xem: 16886)
Tham sống sợ chết, đó là sự thật của người đời. Thế nhưng tại sao lại giết hại, cắt đứt sự sống của chúng sanh khác? Trong bài viết ngắn này chúng tôi sẽ đề cập đến vấn đề "Không sát sanh" hay "tôn trọng sự sống" như là thái độ sống của một người Phật tử.
29/10/2010(Xem: 10188)
Kính lễ Tam Bảo. Kính lễ các luận sư Jamyang Khyentse Rinpoche, Dilgo Khyentse Rinpoche và Sogyal Rinpoche đã giải thích giáo lý trung ấm. Trước hết nhắc lại có sáu trung ấm hay bạt đô: trung ấm trong mộng, trung ấm trong đại định, trung ấm tự nhiên của đời sống; trung ấm đau đớn của cái chết; trung ấm pháp tính (thời gian của Ánh sáng căn bản xuất hiện ngay sau khi chết); và trung ấm tái sinh. Sở dĩ có trung ấm là vì tâm vô minh bất giác: bất giác lúc sống, bất giác lúc chết, bất giác lúc gặp ánh sáng chân lý, bất giác lúc tìm tái sinh. Để hiểu bạt đô tái sinh, có lẽ nên nói thêm về tính chất của tâm.
28/10/2010(Xem: 6778)
Dưới đây là một bài thuyết giảng của Lạt-ma Dagpo Rimpoché tại ngôi chùa Tây tạngKadam Tcheuling tọa lạc tại Aix-En-Provence miền nam nước Pháp, vào ngày 23tháng 3, năm 2003. Thôngdịch viên : Marie-Stelle Boussemart. Ghi chép : Laurence Harlé, MichelLanglois, Cathérine Baguet, Marie-Stella Boussemart
21/10/2010(Xem: 6453)
Khi Đức Phật còn là thái tử, trong lúc đi dạo chơi, Ngài đã trông thấy những cảnh khổ đau của kiếp sống con người là bệnh hoạn, già yếu và chết. Từ đó, cuộc sống khổ đau và tạm bợ của con người đã khiến cho thái tử suy tư rất nhiều và thôi thúc Ngài quyết tâm đi tìm cuộc sống an lạc, vĩnh hằng, bất tử. Trải qua năm năm tìm đạo, sáu năm khổ hạnh chốn rừng già và sau 49 ngày Thiền định ở Bồ đề đạo tràng, Đức Phật đã nhận thấy rõ đặc tính của cuộc sống con người nói riêng và của muôn vật, muôn loài nói chung ở trong thế giới sanh diệt là vô thường (Anicca), khổ (Dukkha) và vô ngã (Anatta).
13/10/2010(Xem: 5563)
Nếu bạn có bạn bè hay người thân đang lâm trọng bệnh hoặc sắp qua đời, tôi biết là không có ai bảo bạn hãy cứ thản nhiên với họ. Mọi người đồng ý rằng bạn nên khởi lòng bi mẫn. Vấn đề là, cách lòng bi mẫn chuyển thành những hành động cụ thể thì lại không mấy giống nhau. Đối với một số người, bi mẫn có nghĩa là kéo dài mạng sống càng lâu càng tốt; nhưng đối với một số người khác, bi mẫn là chấm dứt đời sống - thông qua việc trợ tử - khi mà phẩm chất đời sống của người bệnh không còn là bao. Và không có ai trong hai nhóm này xem nhóm khác là có lòng bi mẫn thực sự. Nhóm trước xem nhóm sau là tội phạm; còn nhóm sau xem nhóm trước là tàn nhẫn và độc ác.
13/10/2010(Xem: 8853)
Chiến tranh đi liền với sát sanh. Chiến tranh đồng nghĩa với tội ác. Sát sanh là nhân, chiến tranh là quả và ngược lại. Hai yếu tố này hỗ trợ cho nhau để tạo nên chia lìa, đau đớn, khủng hoảng, tan tóc, đau thương cho cuộc đời. Khi nào còn chiến tranh, nghĩa là con người còn phải gánh chịu đau khổ, giết hại, thù hằn, đấu tố. Chiến tranh sẽ không bao giờ chấm dứt nếu con người còn tâm địa giết hại thú vật không thương tiếc, giẫm lên mạng sống của muôn vật, không biết quý trọng mạng sống của đồng loại! Nhân trả lời một nghi vấn của một Phật tử: “Tổng thống Bush có phạm tội sát sanh hay không khi đem quân đi đánh Afghanistan hay không?” Người viết xin trình bày sơ bộ các cách phán đoán tội của một người phạm tội sát sanh cũng như các cấp độ của sát sanh và vài vấn đề liên hệ đến chiến tranh để bổ sung cho câu trả lời trên.
13/10/2010(Xem: 5230)
Gần đây, trên thế giới nhất là tại Mỹ, dư luận bị kích động vì vài người y sĩ công khai tham gia hành động "trợ tử" (Euthanasia), và chấp nhận trách nhiệm, tự ý đưa tay vào còng của cảnh sát, hầu như thách đố pháp luật. Dư luận quần chúng rất phân tán, kẻ chê vô lương, người thì yểm trợ và đặc biệt là các tôn giáo lớn trong nước đều lên tiếng xác định lập trường. Câu hỏi ta tự đặt ra để tìm hiểu là lập trường của đạo Phật trong một vấn đề nặng về đạo đức, triết lý như vấn đề trợ tử, đã được đức Phật ngày xưa và kinh điển của Ngài để lại minh định như thế nào.
11/10/2010(Xem: 10480)
Hạnh phúc hay đau khổ là số phận chung của mọi chúng sinh, nhất là con người, và theo quan điểm Phật giáo thì đây không phải là phần thưởng hay hình phạt do Thượng Đế ban cho một sinh linh đã làm điều thiện hay điều ác. Tín đồ Phật giáo tin vào một định luật tự nhiên, gọi là “ luật nhân quả”, áp dụng chung cho tất cả mọi hiện tượng trong thế giới này. Tín đồ Phật giáo không tin vào một Đấng Thượng Đế toàn năng, và do đó một Đấng Thượng Đế như vậy, và ngay cả Đức Phật đại từ bi cũng không thể ngăn cản được định luật này.
07/10/2010(Xem: 8165)
Các lý thuyết tôn giáo cũng như các nhà khoa học đã cố gắng đưa ra những lý giải khác nhau về nguồn gốc xuất hiện của con người trên trái đất này. Phải chăng con người là sản phẩm do Thượng Đế tạo dựng hay chỉ là một giống vượn người trải qua một chuổi quá trình tiến hoá lâu dài rồi biến thành người theo thuyết tiến hoá của Darwin? Trước vấn đề này, Phật giáo vốn tin tưởng vào thuyết tái sanh, luân hồi, cho rằng tất cả các loài chúng sanh luôn quanh quẩn trong vòng luân hồi sinh tử (samsâra), và được tái sinh qua bốn cách thế khác nhau: noãn sinh - andaja, tức là sự sanh ra từ trứng; thai sinh - jatâbuja, tức là sanh ra từ bào thai của người mẹ; thấp sinh - samsedja, tức là sanh ra từ sự ẩm thấp hay từ rịn rỉ của các thành tố, đất, nước v.v... ; và hóa sinh - oppâtika, tức là do hóa hiện mà sanh ra, không phải trải qua các giai đoạn phôi thai; những con người đầu tiên là những chúng sanh thuộc loại hoá sinh này.
06/10/2010(Xem: 11942)
Thưa thớt vài chục nóc nhà xong thôn Tân Mỹ (Thừa Thiên Huế) lại có cả trăm ngôi mộ được xây dựng công phu, hoành tráng như một thành phố ma với chi phí lên tới vài ba tỷ đồng cho một ngôi.