Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Giáo Pháp Vô Trước

30/11/201708:56(Xem: 2101)
Giáo Pháp Vô Trước

mua sen no

Giáo  Pháp
  VÔ  TRƯỚC

Đức Hạnh Lê Bảo Kỳ

 

   Định nghĩa. Vô Trước. , nghĩa là không. Trước, nghĩa là dính mắc, bị dính vào, mắc vào, kẹt vào. Cụm từ Vô Trước, nói cho đủ: Không bị dính mắc, kẹt vào. Danh từ kép này, được chỉ cho  những hành giả trong đạo phật trên đường tu tập, để tìm cầu cho mình cơn đường giải thoát là không để cái Tâm bị dính vào, mắc vào, kẹt vào sắc trần, nói như pháp môn thiền định “đối cảnh vô tâm. Như vậy, tâm con người thường bị dính trần hay sao, mà pháp thiền phải cảnh giác ? Đúng như vậy, tâm của kẻ phàm phu ưa dính, mắc vào, kẹt vào sắc trần vật chất, ưa trách móc, ưa chấp nê, ưa nghe lời khen ngợi, không thích lời chê bai; cho nên nghĩa của chữ Trước là dính mắc, kẹt vào mọi hiện tượng lục trần, mà Tâm kẻ phàm phu là tác nhân dính vào  mọi hiện tượng sắc trần vật chất, âm thanh (thanh trần- tiếng nhạc, lời ca…), ngôn ngữ, văn chương, triết lý, Phật pháp… sau khi mắt thấy, tai nghe; thân liền hành động, miệng phát ra lời ca ngợi, khen, chê một cách triền miên không dứt ra nổi. Từ đó cái Tâm cứ Trước mãi, tức là tâm dính mãi, tâm kẹt mãi vào Hỷ, gọi là tâm hỷ trước, nộ trước, ái trước, ố trước, ai trước, dục trước, lạc trước, tham trước, chấp trước.  Những pháp trần dễ thấy nhất đó là: Tiền tài, chức quyền, danh vọng, sắc đẹp, âm thanh, ngôn ngữ xưng hô, thái độ hành xử. Qua đây cho ta hiểu thêm chữ TRƯỚC, danh từ đơn, được chỉ cho tâm Chấp của con  người phàm tục thế gian thường phát xuất ở mọi ý niệm về Ngã, trong đó cái nhân ngã:  ưa chấp, ưa trách móc về lời nói, thái độ của con người bên cạnh đối xử với mình. Chẳng hạn như đang có chức và kể cả về hưu hết chức nhưng, vẫn cứ thấy còn : Tướng, Tá, Hội trưởng, Tổng Thống, Thủ tướng, Chủ tịch,  Bác sĩ, kỹ sư, Giáo sư tiến sĩ v.v…chỉ là giả danh mà, không được người kia, người nọ gọi đúng tước vị, mà chỉ gọi tên, cho nên khởi tâm oán ghét, trách móc, giận hờn, buồn bực…

    Nghĩa của chữ Trước xa hơn nữa, đó là đem tâm chấp vào sự hiểu biết về thi, ca, văn hóa, nhạc lý triết học, văn học, Khoa học kỹ thuật của mình hơn người, gọi là ngã kiến, kiến chấp. Những thứ vật chất như: Nhà cửa, xe cộ, v.v…Kể cả sách vở văn học, đạo lý thánh hiền, kinh điển của Phật không học, không đọc, cứ trưng bày mãi trong tủ kính để chứng tỏ Ta là hàng trí thức. Nói như lời HT Thiện Siêu : “Sách vở Thánh hiền, kinh điển Phật không học, không đọc đến, thà đem ra vấng thuốc Rê để hút còn ích lợi hơn, thờ mãi trong tủ bị mọt ăn, cũ kỷ rách nát”. Ấy vậy mà có người cứ đem tâm dính mắc vào đó, không muốn bỏ; nói như lời kinh Phật : Chánh Pháp mà có lúc phải buông bỏ, huống là phi pháp càng vất bỏ hơn. Ngay cả chánh pháp Phật, sau khi tâm đã ngộ chơn lý vô ngã tánh không rồi, đâu còn gì nữa mà chấp vào chánh pháp, ôm cất vào lòng. Điều này được Đức Phật ví dụ : Giáo pháp Phật trong kinh điển, được chứa đựng chơn lý, như ngón tay chỉ mặt trăng; nhờ ngón tay được thấy mặt trăng; sau khi thấy rõ mặt trăng rồi, thì ngón tay hết lý do tồn tại. Tức là hành giả đã ngộ đạo tánh không vô ngã rồi, thì đâu cần giáo pháp nữa mà ôm giữ lấy. Qua đây cho quý vị thấy giáo pháp Phật, trong đó được sử dụng văn chương, ví dụ để diễn tả lý, nghĩa của giáo lý, gọi là “giả lập” để làm sáng tỏ lý và đạo, để cho các hành giả dễ thấy lý mà ngộ đạo. Cho nên văn tự trong kinh điển Phật, chỉ là tương đối để biểu thị cho chơn lý tuyệt đối, giống như dùng ngón tay, để chỉ mặt trăng. Chơn lý tánh không vô ngã ẩn tàng trong giáo pháp. Nhờ học và nghe, cùng tu tập giáo pháp, mà hành giả được thấy tánh không vô ngã (ngộ) cho nên Phật mới nói rằng; giáo pháp phật được ví như ngón tay chỉ mặt trăng là như vậy. Nhờ ngón tay mà thấy mặt trăng. Cũng như nhờ giáo lý  mà  thấy lý, ngộ đạo. Sau khi thấy mặt trăng rồi. Thì ngón tay được cất đi. Cũng như vậy, hành giả đã thấy chơn lý rồi (Chơn lý vô ngã), thì giáo pháp không còn tồn tại nữa. Cho nên Phật mới khẳng định rằng, giáo pháp phật như là chiếc bè đưa hành giả qua bờ giác ngộ, giải thoát. Đến bờ giải thoát rồi (đáo bỉ ngạn) thì bỏ lại bè bên mé sông, để nó trôi đâu thì trôi, không đem tâm luyến tiếc làm chi nữa, hãy quên đi, đừng tôn thờ giáo pháp, lụy tình vào giáo pháp, vô tình bị giáo pháp trói buộc, thì bao giờ mới thấy được chơn lý vô ngã giải thoát ? Mọi việc trên đời này, sau khi đạt được cứu cánh rồi, thì phương tiện trở nên vô dụng.

     Một ví dụ. Có một chàng thanh niên, đứng bên này bờ sông, thấy bờ bên kia bờ đang có nhiều loại hoa tươi đẹp, ánh đèn sáng trưng, người người vui cười, chuẩn bị đi đến cảnh giới Niết bàn… Anh chàng biết đó là bờ giải thoát, rất muốn qua mà không có phương tiện, nên chi chặt cây tạo thành cái bè, rồi chèo qua đó; khi bè cặp vào bờ, anh chàng thấy một số bè đang lững lờ trôi theo dòng nước; nhưng, anh lại vác bè của anh lên bờ luôn; vừa vác vừa đi theo mọi người. khi đó có một người thấy vậy, bèn hỏi anh đi đâu ? Anh trả lời, đến cõi Niết bàn. Người kia liền nói rằng, vào cõi Niết bàn không mang theo gì hết, hãy bỏ bè lại ra giữa dòng sông. Anh thấy chúng tôi, đâu có ai vác bè theo như anh. Hãy bỏ bè dưới bờ sông, cho nó trôi đâu thì trôi, đừng vác bè theo; vì cõi Niết bàn, anh và tôi chuẩn bị vào, là hai tay không, mới vào được. Nghe vậy, anh chàng bỏ xuống một hồi thì lại vác lên vai, không muốn bỏ. Anh nghĩ rằng; “bè này ta làm ra rất công kỹ, bỏ thì uổng lắm, đâu có thể bỏ được” ! Tâm còn luyến tiếc bè, cuối cùng anh ta vác bè xuống sông, chèo về bến cũ, bờ sông xưa. Câu chuyện trên, được ví dụ cho quý vị thấy rằng; hành giả đang học và tu tập Phật pháp cho mục đích đạt đạo vô ngã giải thoát, thì đừng để tâm bị sắc trần lôi cuốn, đừng lụy vào giáo pháp mà bị chìm đắm vào sông mê. Vấn đề này, có một Tiên Nhân hỏi Đức Phật : “ Làm cách nào để vượt thoát dòng thác đang đổ ào ào ?” Phật trả lời : “Này, Tiên Nhân, không bước tới dòng thác, vì bước tới sẽ bị ngã, trôi theo dòng thác; không bước lui, vì lui sẽ tiếp tục bị chìm ngập trong dòng thác. Hãy tìm cách vượt lên trên, để ra khỏi dòng thác ”.

  Trong tất cả giáo pháp của Phật để tu tập vượt thoát khỏi bến mê, đến bờ giác, thì giáo pháp Vô Trước được xem là tối thượng. Do vậy, Kinh pháp Hoa phẩm phương tiện, Phật nói : “ Ta từ khi thành Phật đến nay đã dùng biết bao nhân duyên, ví dụ diễn giảng rộng rãi các giáo lý, dùng vô số phương tiện (ngôn ngữ giả lập) để dẫn dắt chúng sanh, cũng chỉ vì muốn chúng sanh hãy loại bỏ bao sự tham muốn dính mắc, đừng thu nhiếp (vô trước), cầm nắm, hãy buông bỏ hết, cả thiện cả ác đều vất bỏ, thì mới đúng là con đường giải thoát khỏi bến mê, đến bờ giác.

       Hai ví dụ trên, cho quý hành giả đi tìm cho mình con đường giải thoát trong Đạo Phật, mà phương tiện qua bờ giải thoát là cái tâm Vô trước trống rỗng. Để được cái tâm vô ngã, vô trước trống rỗng, là phải hủy bỏ hết cái tâm Chấp trước. Tâm chấp trước, gọi là tâm vọng tình cố chấp sự vật là muôn đời tồn tại không hư hoại. Chấp loài người muôn đời vẫn là người, súc sinh muôn đời vẫn súc sinh. Pháp trước, là chấp các pháp là thường còn không bị biến dịch, hư hoại bởi định luật vô thường. Vì chấp mà chẳng thông đạt, không sáng suốt, chẳng tin tưởng chánh pháp Phật nói về nhân quả, luân hồi, mà không chịu nghe, cứ cố chấp triền miên, để rồi có nhiều hành động tội ác đối với đồng loại, bị pháp luật xử tội : vào các địa ngục trần gian (nhà tù). Ra khỏi địa ngục trần gian (nhà tù) tội vẫn còn trong tâm, sau khi chết, thần thức tiếp tục đọa vào ba đường ác : địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh.

   Năng lực pháp Vô Trước.

Trước khi tìm hiểu về năng lực và vai trò của pháp Vô trước, chúng ta phải hiểu thấu lại tính chất của Trước. Danh từ đơn Trước, là tính đen tối, u mê, dơ nhớp, nếu không nói là đui mù ý thức, không có trí giác, chỉ có giác hồn, sinh hồn, tức là cái biết theo bản năng sinh tồn, cho nên có mắt người mà không hề đọc đến sách vở Phật pháp, để thấy trong đó lời Phật nói về những cái nhân : hành động giết người, ăn cấp, trộm cướp, nói dối, vu khống, gian trá, lừa đảo để tước đoạt của cải vật chất người khác làm của mình, là cái quả bị đọa vào các cõi khổ đau : địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh làm trâu, ngựa bị kéo cày, kéo xe để trả nợ cho đời. Mà trước tiên sẽ bị pháp luật nhà nước đương thời bắt vào tù. Vào nhà tù hiện tại vẫn chưa hết tội, sau khi chết bị đọa vào các cõi khổ đau như đã nói trên, do bởi cái tâm Trước quá nặng, là lực dắt dẫn đi vào các cõi khổ đau thực tại ở trần gian và bên kia cõi chết là một quy luật nhân quả.

    NĂNG LỰC PHÁP VÔ TRƯỚC.

Hành giả trong các tông phái: Thiền, Tịnh độ, Mật tông, hay pháp môn nào khác…Tất cả đều cùng tri hành pháp Vô Trước một cách thường hằng  trên vận hành sống và tu tập các pháp môn của mình. Vị Bồ Tát có pháp hiệu Vô Trước trước sắc trần, là Bồ Tát VÔ TRƯỚC, anh của Bồ Tát Thế Thân trong nhóm luận sư về Tánh Không và DUY THỨC HỌC.(Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân).

   Vô trước của hành giả Thiền định, là đối cảnh vô tâm.   Vô trước của hành giả Tịnh độ, là một tâm không rối loạn.  Vô trước của hành giả Mật tông (trì tụng Thần chú Đà la ni, là tâm luôn an trú trong tỉnh thức.

   Đối với ba giới hành giả tu Thiền, Tịnh, Mật nói trên, thật sự có quyết tâm tu tập để vào cõi Phật; tất cả đã thấu triệt năng lực của pháp vô Trước, nếu không nói rằng; pháp Vô trước cả ngàn khối trong tâm, cho nên vừa thấy những hình thái (sắc trần) mang tính quyến rũ, động tâm, tức khắc quây chỗ khác, tránh xa, tỉnh thức trở về thực tại. Cũng như luôn đề cao cảnh giác sẵn sàng buông xả hết, không còn dính mắc, kẹt vào bất cứ trần cảnh nào dù nhỏ hay lớn trong đạo hay ngoài đời, luôn sống trên dòng sóng thanh tịnh.

   Với chư vị đạo sư xuất gia, dĩ nhiên tâm của quý ngài thường hằng vô trước  trên vận hành tu tập và hoằng hóa độ sanh bằng lời thuyết pháp, viết những bài giảng luận Phật pháp, dịch kinh điển Phật ra ngôn ngữ của quốc độ sở tại, không khác với tinh thần của Phật ngày xưa đã làm. Tinh thần của Phật ngày xưa, đó là gì ? Tinh thần của Phật là vô trước, không chấp vào ngôn ngữ, văn tự của mình đang sử dụng ở lời nói và câu văn giảng luận. Vì văn tự, tuy rất cần nhưng, tương đối, mượn tương tương đối để làm sáng tỏ tuyệt đối là đạo lý tánh không vô ngã, nếu không nói rằng; văn tự luôn luôn là hữu  hạn. Vì vậy, kinh điển của Phật bất luận trong mọi thời đại xưa khi Phật nói ra, và thời nay không có Phật hiện hữu nhưng, tất cả lời kinh Phật, đều là giả lập. Nếu không giả lập, vô tình chấp nhận có Trước, tức bị dính mắc, chấp trước vào lời nói.

     Giả lập, là lời pháp xác định, mượn ngôn từ diễn giải, cùng ví dụ, để cho người nghe hay đọc được ngộ lý, thấy đạo để hành, gọi là giả lập. Sở dĩ có giả lập lời thuyết pháp, là muốn cho các giới con người  thấu hiểu chơn lý vô ngã giải thoát nhưng, sau đó Phật liền phủ định ngay, vì không muốn con người bị lụy, bị chấp vào lời kinh, lời giảng pháp của Phật ngày xưa, chư Tăng ngày nay.(y kinh diễn nghĩa tức đồng ma thuyết. Ly kinh diễn nghĩa, tam thế Phật oan- Tùy duyên, căn cơ, mà bất biến). Tuy nhiên không phải phủ định không. Mà có cả hai; xác định giả lập và phủ định. Xác định trước (giả lập) phủ định sau. Phủ định ở đây, chính là Vô trước.

    Có lời Pháp xác định, giả lập, mà không phủ định, chưa phải là Phật pháp. Ngược lại, có phủ định mà không có giả lập, không phải là Phật pháp. Cả hai: giả lập và phủ định trong giáo pháp của Phật, mới đúng là Như Lai, Phật. Vì thế cho nên Phật giáo không thể bị ai đó đem lời phê bình, bài bác, vì đâu có tỳ vết, toàn là chơn lý tuyệt đối.

   Giả lập, mà Phật chủ trương, là để cho các hành giả học và tu tập Phật pháp được thấy rõ lý của giáo pháp, là nền tảng ngộ đạo. Phủ định, mà Phật chủ trương, là phương cách làm cho hành giả mau tiến lên chơn lý tuyệt đối. Điều này được thấ y trong kinh Kim Cang, Phật nói : Chúng sanh (xác định), tức chẳng phải chúng sanh(phủ định) cho nên gọi là chúng sanh (xác định lại). Phật nói: Phật pháp, tức chẳng phải Phật pháp, nên gọi là Phật pháp. Phật nói A nậu đa la, tam miệu tam Bồ đề, tức chẳng phải A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề, cho nên gọi là A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề.  Phật nói thế giới, chẳng phải thế giới, nên gọi là thế giới.

  Đó là cách thuyết pháp của Phật; vừa nói xong, Phật liền phủ định. Đúng như lời Phật nói : “ Ta thuyết pháp suốt 45 năm, mà chưa hề nói một lời nào”. Theo đạo lý tánh không của Phật giáo, trên đời này làm gì có bản thể vạn hữu chúng sanh…Tức là không có con người, không có Phật, không có thế giới, v.v…Sở dĩ có, là do các duyên giả hợp kết tụ mà có. Các duyên tan rã, không còn bản thể, sao gọi là có ? Các duyên hợp lại có, sao gọi là không ?. Mọi vật trên đời, không có vật nào mất, chẳng có vật nào còn ! Mất, là mất bản thể cũ, còn là còn bản thể mới tại chốn nào đó, như cái chén bị vỡ, mất hình thể cũ, nhưng còn, đó là những mảnh vỡ ở ngoài góc cây, đống rác, đúng với tư tưởng “không, tức thị sắc”.

    Hình thể chúng sanh, hay Phật pháp, A nậu đa la tam miệu tam….Tất cả đều là giả hợp, giả lập, giả tạo, giả danh, cho nên có rồi, cũng trở về không. Từ không trở về có, rồi lại không (sắc sắc, không không, không tức thị sắc). Cứ quanh quẩn trên bánh xe luân hồi. Do đó, sau khi Phật thuyết pháp, Phật liền phủ định sự thuyết pháp của Phật. Bởi vì ngôn ngữ hạn hẹp, dù cho giả lập đến đâu, cũng không có thể bày tỏ hết được cảnh giới chơn như. Các hành giả nương theo lời pháp giả lập để thấy lý, thấy đạo. Thấy lý rồi, ngộ đạo rồi, lời pháp hết lý do tồn tại. Cho nên Phật mới nói : Chúng sanh, tức chẳng phải chúng sanh, nên gọi là chúng sanh. Cái gọi là a nậu đa la tam miệu tam bồ đề (chỉ lời pháp giả lập để khai mở tâm con người được thấy lý, ngộ đạo. Thấy lý, ngộ đạo rồi, đạo  nằm trong tâm, câu văn giả lập tự nhiên biến mất).Chẳng phải a nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nên gọi là a nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Phật nói Phật pháp, CHẲNG PHẢI LÀ PHẬT PHÁP, NÊN GỌI LÀ PHẬT PHÁP. Phật pháp vốn không có nhưng, có là do con người tu chứng thành Phật, bậc giác ngộ mà thấy được (Thái Tử Tất Đạt Đa). Nói lại cho chúng sanh thấy, biết mà bắt chước tu theo để ngộ đạo giải thoát. Nói xong lời pháp rồi, không chấp vào lời pháp, không thấy mình nói pháp, không thấy người nghe pháp, không thấy bài pháp mình nói (chẳng phải là Phật pháp). Nhưng nhờ Phật pháp mà ngộ đạo (nên gọi là Phật pháp- không tức thị sắc; tức nhờ không mà có, như Trái đất  nhờ không gian trống rỗng mà Trái đất đứng vững tự xoay vòng chung quanh mặt trời, cho nên mới nói “KHÔNG” chẳng phải là “KHÔNG”.

    KẾT LUẬN.

Giáo Pháp Phật, là những môn học để phá trừ  kiến chấp, mà pháp VÔ TRƯỚC là tối thượng;  do vậy tất cả hành giả trên vận hành tu tập, đều phải phá trừ mọi ý niệm ngã chấp, kiến chấp. Qua đây cho ta có nhận thức về Phật học, là giáo lý không có học thuyết, cũng chẳng có giáo điều. Một giáo lý khai phóng tâm con người học Phật là không nên sùng bái giáo lý Phật, không tôn vinh mình và cũng không bắt ai sùng bái mình. Nếu không nói là, cái ưu điểm tối thượng của tinh thần học Phật là chỗ đó. Điều này được thấy chính Đức Thích Ca đã nói : Từ đêm thành đạo, cho đến lúc nhập Niết bàn, Ta không nói một lời nào ! Cũng như sau khi thuyết pháp, Phật liền phủ định ngay sự thuyết pháp của Ngài.

   

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25/04/201720:19(Xem: 3788)
Đức Phật đôi khi có đề cập tới tính chất và các thành phần của vũ trụ. Theo Ngài, có nhiều hình thức đời sống hiện hữu ở các nơi khác trong vũ trụ. Với đà tiến bộ nhanh chóng của khoa học ngày nay, có lẽ không bao lâu nữa chúng ta sẽ khám phá ra các loài sinh vật khác đang sống ở các hành tinh xa nhất trong dãi thiên hà của chúng ta. Có thể các chúng sanh nầy sống trong những điều kiện và qui luật vật chất khác, hay giống như chúng ta. Họ có thể hoàn toàn khác chúng ta về hình thể, thành phần và cấu tạo hoá học
24/04/201720:25(Xem: 2334)
Lời giới thiệu: Chúng tôi viết quyển sách này với mong muốn được trình bày theo cái hiểu và suy nghĩ của riêng mình. Kính mong rằng các bậc cao Tăng thạc đức niềm tình tha thứ nếu có chỗ nào sai xót. Chúng con hàng hậu học, vừa học, vừa tu vừa hướng dẫn lấy Kinh luật luận làm nền tảng. Trước tiên, chúng ta cần phải hiểu biết rõ ràng về Phật giáo và ứng dụng lời Phật dạy trong đời sống hằng ngày. Chuyển nghiệp là quá trình nỗ lực làm cho phàm tính trong con người trở thành Thánh tính của bậc hiền.
18/04/201706:14(Xem: 2580)
Hai năm về trước, ngẫu nhiên đọc được bài diễn văn ‘Giá Trị của Khoa Học’ (The Value of Science) bởi Dr. Richard Feynman, Mùa Thu, 1955, (in Volume XIX, ENGINEERING AND SCIENCE, December 1955) rất nổi danh ở trên internet nhưng lúc đó tôi chưa đủ trình độ để hiểu nổi cái trí tuệ thậm thâm viên diệu của ông ta dù lúc đó tôi cảm thấy rất hấp dẫn.
18/04/201706:00(Xem: 2202)
Bài viết này được trình bày qua công trình nghiên cứu, suy luận, tham khảo, sáng tác và phóng dịch từ những nguồn gốc tài liệu giá trị bởi những khối óc vĩ đại của các khoa học gia Tây Phương cũng như của những cao tăng và những thiện tri thức, đã được tôi tư duy hóa, đồng cảm hóa, và Phật Giáo hóa để chứng minh vài công án nan giải của khoa học. Nó được xem như là một phương tiện trí tuệ của Phật Thừa để giải thích những gì khoa học hiện đại chưa thể vượt qua được.
17/04/201701:46(Xem: 1963)
Đa số chúng ta, ít ra đã có một lần, từng đọc qua lời tuyên bố nổi danh của nhà bác học Albert Einstein, tôi xin dịch lại cho sát ‘ý của Einstein từ Tây sang.’ “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo của vũ trụ. Nó cao cả hơn một thượng đế nhân tạo và loại bỏ những giáo điều và thần học. Bao gồm cả thực tại và tâm linh, nó nên được đặt trên nền tảng của một tôn giáo trí tuệ, vượt trên tất cả những kinh nghiệm của hiện tại, tự tánh và Tâm Thức, đầy ý nghĩa ‘Đồng Nhất Thể.’ Phật Giáo đáp ứng được công án này. “The religion of the future will be a cosmic religion. It would transcend a person God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sense, arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers this description.” Albert Einsteinle
23/03/201711:20(Xem: 3237)
Thực tại, nghĩa là nơi chốn, chỗ, vị trí, cũng có tên không gian. Không gian, nói một cách tổng thể, là bề mặt của vũ trụ từ bao la, rộng lớn, cho đến hạn hẹp đối với mỗi con người chúng ta đang có mặt ở một nơi nào đó, như tại : Núi cao, thác ghềnh, quán cà phê, phòng làm việc, phòng ngủ, phòng ăn, sân chùa,
20/03/201719:28(Xem: 3909)
Thức A-lại-da không phải là linh hồn. Đạo Phật bác bỏ không có linh hồn tồn tại trong một bản thể muôn loài hữu tình chúng sanh. Thức A-lại-da, là cái biết linh diệu của muôn loài, trong đó có loài người là tối thượng hơn tất cả. Cho nên Thức A-lại-da là con người thật của con người, chứ thể xác không phải là con người thật vì sau khi xác thân con người nói riêng, muôn loài chúng sanh nói chung bị chết đi, xác thịt sẽ bị bỏ lại, rồi từ từ tan rã thành đất, cát, tro, bụi bay tứ tung trong không gian, không thể mang theo qua bên kia cõi chết. Duy chỉ còn lại một mình thức A- lại-da ra đi và tồn tại trong một bản thể nào đó bên kia cõi chết.
20/03/201713:18(Xem: 2589)
Nhân dịp đức Phật về Thành Ca Tỳ La Vệ giáo hóa hay tin công chúa Da Du Đà La mới bảo con mình đến gặp Phật xin chia gia tài, Phật mới nói rằng ta bây giờ không còn nắm giữ tài sản thế gian, chỉ có tài sản của bậc Thánh, nếu con muốn ta sẽ chia cho con? La Hầu La nghe Phật nói liền chấp nhận và sau đó phát tâm xuất gia tu theo Phật. Các bạn biết gia tài tâm linh đó là gì không? Này các bạn, đức Phật của chúng ta trước khi đi tu vẫn có vợ có con, sau khi thành đạo dưới cội Bồ đề thấu rõ mọi nguyên lý sai biệt như phải quấy, tốt xấu, nên hư, thành bại trong cuộc đời đều do chính mình tạo lấy, sau đó Phật mới trở về tiếp chúng độ sinh. Bảy thứ gia tài Thánh nếu chúng ta biết ứng dụng vào trong đời sống hằng ngày, thì chúng ta sẽ giàu có và tràn đầy hạnh phúc, không một ai có thể cướp đi được. Đức Phật của chúng ta đã thừa hưởng gia tài đó, nên đã không còn luyến tiếc cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, và thần dân thiên hạ.
20/03/201702:48(Xem: 2756)
Sau khi nhịp đập của con tim bị ngừng lại và cùng lúc 5 giác quan của toàn thân con người không còn biết cảm giác, gọi là Chết. Nhưng thức A-lại-da bên trong vẫn còn hằng chuyển liên tục và hoạt động một mình. Sự hoạt động đơn phương của nó y như lúc con người còn sống đang ngủ say.Thức A-lại-da hoạt động một mình, không có 5 giác quan của cơ thể bên ngoài cộng tác
16/03/201711:10(Xem: 2455)
Trong bài “Sức Mạnh Của Tâm” kỳ trước có nói đến Tâm là chủ tể. Đích thực, con người trên đời này làm nên vô số việc tốt, xấu, học hành, nên danh, nên nghiệp, mưu sinh sống đời hạnh phúc, khổ đau, cho đến tu tập phật pháp được giác ngộ thành Phật, thành Thánh, Nhân bản, v.v…đều do tâm chỉ đạo (nhất thiết duy tâm tạo). Qua đây cho ta thấy rằng; tâm là con người thật của con người, (động vật có linh giác, giác hồn thật siêu việt hơn tất cả các loài hữu tình khác trên trái đất này). Phi tâm ra, bản thân con người, chỉ là một khối thịt bất động.