Chùa để làm gì ?

24/09/201508:07(Xem: 13724)
Chùa để làm gì ?


borobudur17

Chùa để làm gì?

Phải nói thật rằng câu hỏi này lởn vởn trong đầu tôi nhiều lần, trong nhiều năm nay. Nghe có vẻ ngớ ngẩn. Mà cũng có thể tôi là người ngớ ngẩn. Ai đời lại đi đặt câu hỏi mà đứa trẻ học tiểu học cũng có câu trả lời thế này.

Ấy thế mà khi ngồi tĩnh tâm tại ngôi chùa lớn nhất thế giới Borobudur, Indonesia câu hỏi này lại hiện về. Hiện về 1 cách rất rõ nét.  Đây là lần thứ 3 câu hỏi này làm tôi trăn trở nhiều nhất.

Borobudur, ngôi chùa lớn nhất thế giới, trung tâm Phật giáo lớn và huy hoàng ngày nào, bây giờ thành khu du lịch. Phần lớn những người có mặt nơi đây là khách du lịch. Số lương Phật tử có mặt cõ lẽ chỉ vài phần trăm. Không còn thấy các nghi lễ tôn giáo, không thấy ai ngồi thiền, không thấy tiếng tụng kinh, không bóng dáng một nhà sư. Cảnh thì đẹp, công trình thì hùng vĩ, người thì đông, nhưng ngôi chùa lớn nhất thế giới đang đóng vai trò gì của thế kỷ XXI này đây…. Ngậm ngùi.

Tôi nhớ lại cách đây nhiều năm, lần đầu tiên là khi tôi dẫn bạn đạo từ Sài Gòn đi thăm chùa Dâu. (Nói rất thật rằng, có bất cứ nhóm bạn nào ở bất cứ nơi đâu về thăm Hà Nội, không kể từ nước ngoài về hay từ các miền khác của đất nước đến, nơi đầu tiên tôi muốn dẫn đi tham quan và cùng lắng lòng chậm bước hành thiền là chùa Dâu và các ngôi chùa khác của Bắc Ninh, Hà Tây, Ninh Bình). Chùa Dâu luôn là lựa chọn hàng đầu của tôi. Bởi đây là cái nôi của Phật giáo Việt Nam. Vậy mà không thấy bóng dáng các nhà sư. Không thấy các khóa tu, khóa thiền. Không thấy những áo nâu, áo lam lẽ ra phải có ngập trời tại một trung tâm Phật giáo lớn thế này. Phật ơi, chẳng lẽ chùa Dâu nay đã thành bảo tàng, thành điểm tham quan du lịch….. Ngậm ngùi làm sao.

Lần cuối mới đây, tôi lại dẫn sư bà Thích Nữ Giác Liên ra thăm chùa Dâu. May thay tôi gặp được một sư cô. Thấy tôi, sư cô mời “Mời chú công đức cho nhà chùa”. Tôi công đức. Sư cô lấy giấy định viết tờ công đức. Tôi bảo không cần vì mình góp chút tâm thành thôi mà. Thì ra ở đây hiện nay có 4 sư cô tất cả.

Lát sau tôi thấy sư cô ra ngồi quán nước trước cửa chùa. Tôi đứng mà mơ rằng tại đây khóa thiền được diễn ra ít nhất 1 tháng 1 lần. Tôi ngồi xuống và lại mơ tưởng rằng nơi đây có nhiều buổi thuyết pháp và Phật tử khắp nơi về đây tu học. Cơ sở vật chất tốt thế này mà lại thành bảo tàng hay sao.

Tôi nhớ rằng mình đã về chùa Bái Đính 1 lần duy nhất kể từ ngày xây dựng. Bởi biết rằng người ta bỏ tiền bỏ của ra xây dựng Bái Đính thành khu du lịch tâm linh. Ý tưởng và kế hoạch đã rất rõ: Đây là khu du lịch. Tôi cứ nghĩ rằng, rồi đây sẽ có hàng chục khu du lịch tâm linh như Bái Đính và sẽ còn to hơn Bái Đính nữa mọc lên. Và vậy là du lịch sẽ rất phát triển. Nhà đầu tư sẽ kiếm được nhiều tiền. Tuy nhiên không khéo, người dân lại biến đây thành nơi tín ngưỡng thậm chí mê tín thì nguy hiểm quá. Biết đâu sẽ có nơi mang Đức Phật và hình ảnh Ngài ra để làm bậy, làm trái lời dạy của Ngài, làm sai con đường mà Ngài đã tìm thấy. Nếu vậy thì ngậm ngùi lắm.

Tôi rất thích các tu viện của Làng Mai. Dù ở đâu cũng được xây dựng rất đơn giản. Có khi chỉ là nhà tranh, mái lá. Tuy nhiên trong đó luôn có hàng trăm tăng và ni tu học. Nơi đây, các khóa tu dành cho cư sỹ liên tục diễn ra. Lợi ích to lớn vô cùng cho cả giới xuất gia và cư sỹ tại gia.

Có phải càng ngày hình như càng khó tìm ra những ngôi chùa theo đúng nghĩa của từ này. Nhiều ngôi chùa đã biến thành nơi sinh hoạt tín ngưỡng, thậm chí cúng lễ đồ mặn, thậm chí bà đồng ông cốt cũng vào cả chùa. Có những ngôi chùa vắng tanh vắng ngắt, chỉ có ông từ, bà từ hương khói trông nom.

Có phải càng ngày càng ít đi các ngôi chùa tốt đẹp. Hình như bây giờ các chùa cũng đầu tư nhiều hơn cho việc nghiên cứu và học hỏi các giáo lý của Phật mà thiếu đi phần thực hành. Nhiều nơi người ta đốn cây, phá rừng làm chùa to, tượng lớn nhưng hình như chưa đầu tư vào việc luyện tâm. Chùa để tu chứ nhỉ. Quý thầy quý sư cô tu cả đời. Phật tử tại gia đến đây tu và thực hành lời Phật dạy thông qua cách huấn luyện tâm mình thường xuyên.

Tôi nhớ rằng, ngày xưa, các nhà sư sống trong rừng, sống với thiên nhiên, không kiến tạo hay xây dựng gì cả. Ngày nay, có nơi xem việc xây dựng chùa chiền là việc chính và nhiều người, thậm chí cả các nhà sư  cũng thích làm việc này. Tôi thì nghĩ bụng, có lẽ 80% thời gian của các nhà sư là dành cho thực hành những lời Phật dạy. Thực hành giáo pháp của Đức Phật mới là quan trọng nhất. Thời gian còn lại là giúp đỡ mọi người. Liệu có những nhà sư đang dành nhiều thời gian lo xây chùa và làm những việc không phải là pháp hành không. Nếu có thì tiếc lắm Phật ơi.

Tôi lại ngẫm từ mình ra và nghĩ thầm rằng muốn dạy người khác, tự mình phải kiểm soát được mình, tự mình phải có những kết quả của pháp hành nhất định. Có kiểm soát được chính mình thì mới có thể giúp được người khác. Nếu không ta lại đi gánh việc của người khác mất. Nghe pháp, đọc kinh là rất quan trọng nhưng việc thực hành những điều đã học hỏi mới là đích chính của những người con Phật chúng ta.

Tôi luôn tự đặt câu hỏi: Mình đã tìm thấy những lời dạy dỗ này trong chính mình chưa? Mình đã thưc hành đúng những lời dạy của Phật chưa? Mình đã có kết quả gì  rồi? Mình đang đi đúng đường chưa? Ai giúp mình và cùng mình tu tập?

Chùa là nơi có các quý thầy sống và tu tập. Chùa là nơi tứ chúng cùng bên nhau tu tập để chuyển hóa thân và tâm. Chùa không phải là bảo tàng hay nơi thực hành các nghi lễ mê tín. Chùa là nơi tâm của chúng ta được huấn luyện. Rồi về nhà mình tiếp tục luyện tâm mỗi ngày.

Chùa quan trọng nhưng tăng tài mới là quan trọng nhất. Nếu có sự đầu tư cho tăng và ni, nếu có thật nhiều quý thầy và quý sư cô chú tâm vào pháp hành để có chứng ngộ, để tu tập có kết quả thì nhất định Phật giáo Việt Nam của chúng ta sẽ lại hưng thịnh. Tôi nhớ về tổ Khương Tăng Hội và các tổ ngày xưa của nước Nam quá đi thôi.

Tự nhiên tôi nhớ đến câu chuyện của Đức Phật. Ngài nói rằng”

"...sống giữa những kẻ chất chứa đầy hận thù nhưng vẫn không đánh mất từ tâm, sống giữa những kẻ hung hăng hiếu chiến nhưng vẫn giữ được tâm ôn hòa bình thản, sống giữa những kẻ bị danh vọng vật chất cuốn đi nhưng vẫn an nhiên vô nhiễm. Ta gọi kẻ đó là một Brahmana, kẻ có trái tim tinh khiết như giọt nước đầu nguồn."

Tôi mong sao có nhiều ngôi chùa của thế kỷ XXI này vẫn giữ đúng vai trò và nhiệm vụ của ngôi chùa. Tôi rất rất muốn được đọc, được thăm những ngôi chùa đang sống chứ không phải những bảo tàng hay những khu du lịch.

Nếu bạn biết những ngôi chùa đang là chùa, hãy chia sẻ để thật nhiều người được biết đến. Tôi thật sự muốn những ngôi chùa vô nhiễm, nhưng ngôi chùa – giọt nước đầu nguồn. Nhưng những ngôi chùa ấy đang ở đâu… ở đâu….

Thiện Đức Nguyễn Mạnh Hùng  

Bài viết liên quan chủ đề:


Chùa để làm gì ?
Chùa chết

Ai giết chùa?

 

Ý kiến bạn đọc
23/04/201914:16
Khách
có ai muốn lên rừng núi sống đời ẩn sĩ? https://timbanansi.blogspot.com/
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25/03/2011(Xem: 7280)
Bất kỳ tôn giáo, giáo phái, hay học thuyết nào xuất hiện trên đời, cũng đều có lập trường, tư tưởng và mục đích riêng. Mỗi trường phái đều có nhận xét, đánh giá của mình về các trường phái khác. Ở đây, bằng cái nhìn của một người theo đạo Phật, chúng ta thử phân tích đường lối hành đạo của giáo phái Thanh Hải. Điều đầu tiên chúng ta nên tìm hiểu là Pháp Môn Quán Âm của họ.
10/03/2011(Xem: 5984)
Tác phẩm "The Buddhist Conquest of China", xuất bản từ năm 1959, cũng đủ chứng tỏ tác giả, Erik Zurcher, là một trong vài sử gia sáng giá nhất của Tây phưông về Phật giáo, nhất là về Phật giáo Trung Quốc. Dưới đây là một bài tham luận của ông tại hội nghị chuyên đề được tổ chức bởi Pháp Quốc Học hội (Collège de France) (*2), ngày 23 và 25.2.1988 (*3). Bị chinh phục bởi kiến thức quảng bác và cách so sánh rất tinh tế của tác giả, giúp thấy được những khác biệt nền tảng trong quá trình phổ biến và phát triển của Phật giáo và của Catô giáo tại Trung Quốc, nên dịch ra đây với hy vọng người đọc sẽ rút ra được những điều bổ ích. Đây là bản hiệu chính của bản dịch tháng 5.1993 (đã đăng trên Bông Sen Âu châu, tháng 6.1993).
08/03/2011(Xem: 7857)
Thế giới đang chuyển mình để bước vào thế kỷ 21. Giáo hội Thiên Chúa La Mã cũng đang chuyển mình để Bước qua ngưỡng cửa hy vọng. Sự chuyển mình của Giáo Hội La Mã đã khởi sự từ đầu thập niên 60 dưới triều đại Giáo Hoàng John 23 bằng Đại hội Công Đồng Vatican 2 vào ngày 11 tháng 10 năm 1962. Giáo Hoàng này là một người có tinh thần canh tân và là người nhìn xa trông rộng. Ngài được bầu lên thay Giáo Hoàng Pius 12 vào ngày 28 tháng 10 năm 1958 khi đó đã 76 tuổi. Đúng ba tháng sau ngày nhậm chức, vào ngày 25-1-1959 Ngài công bố ba quyết định lớn: 1- Mở một hội nghị của giáo khu La Mã thuộc Tòa thánh. 2- Mở một cuộc hội nghị Công Giáo toàn thế giới (Công Đồng Vatican 2). 3- Tổng xét lại các nghi thức phụng vụ.
24/02/2011(Xem: 13371)
Sự ra đời đạo Tin lành Sự phân liệt lần thứ hai của đạo Kitô vào đầu thế kỷ XVI dẫn đến sự ra đời của đạo Tin lành. Cuộc cải cách này gắn liền với tên tuổi hai đại biểu la Máctin Luthơ (1483 – 1546) và Giăng Canvanh (1509 – 1546). Thế kỷ XVI là thế kỷ mở đầu cho các cuộc cách mạng tư sản châu Âu. Máctin Luthơ chịu ảnh hưởng của tư tưởng tự do tư sản, phản kháng lại những quy định khắc nghiệt của của Công giáo. Ông thừa nhận Thánh kinh nhưng phủ nhận truyền thống của nhà thờ, bãi bỏ những nghi lễ phiền toái, cải cách lại ngày phục sinh của chúa, chủ trương cho phép các mục sư lấy vợ... Những tư tưởng cải cách này đã dẫn tới xung đột gay gắt quyết liệt với Toà thánh Vaticăng và dẫn đến việc ra đời một tôn giáo mới : đạo Tin Lành.
23/02/2011(Xem: 5116)
Phật Giáo Hoà Hảo được khai sáng từ năm 1939 trong dòng lịch sử cận đại của dân tộc - một nền đạo quy nguyên Phật pháp, với phương thức hành đạo đơn giản, không chuộng hình tướng lễ mễ, rườm rà mà cốt yếu hướng về tâm, chủ trương nhập thế tích cực vào mọi phương diện của xã hội, đã nhanh chóng phù hợp với phong hoá nhân sinh vốn mộc mạc, thuần phác ở vùng châu thổ sông Cửu Long.
23/02/2011(Xem: 5176)
Chính thức ra đời từ tháng 11-1926 với một lễ rất long trọng (gọi là Khai minh Đại đạo) tại chùa Gò Kén, làng Long Thành,[1] đạo Cao Đài dần dần hình thành những cộng đồng Cao Đài khác nhau trong lịch sử phát triển của nền tôn giáo bản địa mới mẻ. Mỗi cộng đồng bao gồm nhiều tín đồ với những sinh hoạt tu hành lâu đời kết tập. Sự thấm nhuần giáo lý và hàm dưỡng trong việc thực hành pháp môn trải qua thời gian mấy mươi năm đã hình thành những sắc thái riêng trong nếp nghĩ, trong hành vi, trong tình cảm của các tín đồ Cao Đài. Như vậy là có tâm lý của người tín đồ Cao Đài, nếu hiểu thật đơn giản rằng: Tâm lý là những đặc điểm về tình cảm và hành vi của một cá nhân, một nhóm người, hay một hoạt động.[2]
19/02/2011(Xem: 4546)
(VOV) - Hình ảnh những tảng thịt xâu, móc trên giá, máu còn nhỏ đỏ tươi, có miếng trơ xương, có miếng còn nguyên da lủng liếng ở một góc “chợ” trên đường vào Chùa Hương thật gây phản cảm cho người hành hương. Mới đây Đài Truyền hình Trung ương đã chiếu một phóng sự ngắn, lên tiếng về việc thịt thú rừng được treo, bày bán vô tội vạ gần thắng cảnh Hương Sơn. Hãy khoan nói về việc đó có thể là thịt thú rừng thuộc danh mục cấm săn bắn, việc có thể thú nhà giả thú rừng.v.v… Ở đây tôi chỉ muốn nói đến những hình ảnh gây phản cảm đối với khách hành hương.
19/02/2011(Xem: 5694)
Tôi chỉ là một Tu Sĩ tầm thường nhất, cho nên khi đọc những bài viết mang tính công kích, bài trừ mê tín về Hoa Trời. Tôi không chắc là Hoa Mạn đà la hay Mạn thù sa, cho nên tôi tạm gọi là Hoa Trời. Khi tôi nhận được các E-mail của Quý Ngài, cũng như vào các Websites thấy hình ảnh Hoa Trời, và nhất là lúc hành lễ Phật Ngọc có vòng hào quang xuất hiện trên trời. Lúc đó tôi rất mừng và vô cùng hoan hỷ để được chút Công Đức Tùy Hỷ. Vì mình không có góp công, góp của trong việc thỉnh Phật Ngọc Hòa Bình, nhưng có tâm tuỳ hỷ cũng được Tùy Hỷ Công Đức. Do đó, tôi thấy niềm tin của tôi phát khởi mạnh thêm, làm cho tôi tinh tấn thêm. Những Phật tử cũng điện thoại và E-mail cho tôi, thấy những hiện tượng này, làm cho gia đình họ vô cùng hoan hỷ và phát lòng tin mạnh mẽ để tinh tấn hơn. Những hình ảnh đó, đã có tác dụng làm cho bao nhiêu triệu người Phật tử trên thế giới vui tươi. Giúp họ rơi rụng đi biết bao nhiêu nhiệt não, bao nhiêu đau khổ bởi cuộc đời. Những hình ảnh ấy, đã làm cho tâm hồn h
19/02/2011(Xem: 5129)
Trong Ca Khúc Đông và Tây (The Ballad of East and West), văn hào người Anh Rudyard Kipling (1865–1936) đã viết “Ôi, Đông là Đông và Tây là Tây, cả hai chẳng nên hề gặp gở” (Oh, East is East, and West is West, and never the twain shall meet) đã trở nên câu nói thời thượng diễn tã sự dị biệt khó hòa giải giữa hai nền văn hóa.
19/02/2011(Xem: 5956)
Ai đó dựng ra câu chuyện “sư cô trụ trì” cải đạo theo Chúa là người có tâm lý cạnh tranh tôn giáo kém lành mạnh, nếu không muốn nói là hành vi thiếu lương thiện, và những người lợi dụng tình cảnh đau đớn, lúc mê lúc tỉnh của bệnh nhân để đạt mục đích cưỡng đoạt niềm tin tôn giáo là phi đạo đức.