Đề Bà Đạt Đa kiểu mới

06/11/201216:36(Xem: 7425)
Đề Bà Đạt Đa kiểu mới

debadatda_1Thời Đức Phật còn tại thế, trong Tăng đoàn đã xảy ra nhiều hiện tượng lệch lạc về tư tưởng và hành động. Điển hình nhất trong nhiều trường hợp đó là sự phản bội lúc thì âm thầm lúc thì mãnh liệt của Đề Bà Đạt Đa.

Vị tu sĩ này đã luôn tìm cách làm suy yếu giáo hội do Đức Phật lãnh đạo bằng cách xuyên tạc tư tưởng của ngài. Xa hơn nữa, Đề Bà Đạt Đa còn công khai nói với Đức Phật là ngài đã già yếu rồi, nên nghỉ ngơi là vừa và ông khuyên Đức Phật nên ngừng việc hoằng pháp độ sinh, nên quán tưởng giáo pháp tối thượngmà ngài đã khám phá và giao trách nhiệm lãnh đạo Tăng đoàn lại cho ông!

Đối với những con người như Đề Bà Đạt Đa, đức Phật đã không hề ứng xử theo lối: “Im lặng như núi”. Ngược lại, ngài đã có lối ứng xử rất hợp thời và thực tế, ngài đã trả lời thẳng với Đề Bà Đạt Đa trước toàn thể hội chúng: "Này Đề-bà Đạt Đa, đừng bận tâm đến Như Lai làm gì, Như Lai sẽ biết lúc nào nên nghỉ ngơi. Hiện nay, Như Lai còn điều khiển được Tăng đoàn. Hơn nữa, khi thời điểm đến, Như Lai còn không giao quyền lãnh đạo tăng đoàn cho Xá-lợi-Phất hay Mục-kiền-liên, những bậc trí tuệ minh mẫn như ngọn đuốc sáng ngời. Còn ngươi, này Đề-bà Đạt Đa, sự hiểu biết của ngươi tầm thường quá, trí tuệ của ngươi không sánh bằng ánh đèn leo lét trong đêm!"

Đọc lịch sử các cuộc kết tập kinh điển, ta thấy rằng nguyên nhân của những cuộc kiết tập này của Phật giáo cũng không nằm ngoài mục đích là xác định rõ ràng đâu là giáo pháp thậm thâm vi diệu của Đức Phật, đâu là tà pháp điên đảo vọng tưởng của ngoại đạo.

Như vậy, chúng ta thấy rõ ràng, ngay từ thời Đức Thế Tôn còn tại thế, và sau khi ngài vừa nhập Niết Bàn trong một thời gian ngắn thì hiện tượng tà ma ngoại đạo mặc Tăng bào đã xuất hiện.

Chính những Đề Bà Đạt Đa của Phật giáo này là mối nguy hại lớn lao nhất cho sự tồn vong của chính pháp.

Vì thế, với trí tuệ của một bậc: “thầy của trời và người”, đức Phật đã dạy chúng ta: “Chỉ có trùng của sư tử mới ăn được thịt của sư tử”. Thật vi diệu thay và đúng đắn thay lời dạy cao thâm của Đức Phật.

Theo dòng Phật sử, chúng ta thấy rõ ngay trong thời đại có thể xem là rực rỡ nhất của Phật Giáo Ấn Độ, hiện tượng tu sĩ Phật giáo ăn nói quàng xiên và không hiểu biết gì về giáo pháp của Đức Phật cũng hết sức phổ biến. Chính vì thế, dù rất đau lòng, nhưng với tấm lòng trung kiên hộ pháp, đích thân vua A Dục đã mở cuộc khảo hạch các vị tu sĩ Phật giáo về trình độ Phật Pháp.

Vua A Dục chỉ hỏi những câu cực kỳ cơ bản như: Đức Phật có thừa nhận bản ngã không?, Đức Phật có chấp nhận một linh hồn bất diệt không?

Đáng tiếc thay phần đông những vị: “mặc áo Như Lai, ăn cơm Như Lai, ngồi tòa Như Lai” ấy, lại có những câu trả lời hoàn toàn trái ngược với giáo pháp của Như Lai.

Với tinh thần quyết tâm hộ pháp tới cùng, vua A Dục đã quyết định ra lệnh lột y áo và đuổi những con người bất xứng này ra khỏi Tăng đoàn.

Phật giáo được truyền trực tiếp từ Ấn Độ sang Việt Nam bằng đường biển vào khoảng sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết Bàn khoảng 500 năm. Vài trăm năm sau đó, một dòng Phật giáo nữa được truyền vào Việt Nam từ Trung Quốc.

Kể từ đó, Phật giáo đã luôn đồng hành cùng với dân tộc Việt Nam. Phật giáo thực sự đã cùng vinh cùng nhục với dân tộc Việt Nam. Dân tộc Việt Nam và Phật giáo Việt Nam có những giai đoạn như hòa nhập làm một với nhau, đó chính là lúc dân tộc ta cường thịnh nhất và Phật Pháp được tin, hiểu và hành một cách rộng rãi nhất.

Và chính trong những hoàn cảnh như vậy, Phật giáo đã đóng góp cho dân tộc Việt Nam và thế giới những nhân cách lỗi lạc và siêu việt như Thiền Sư Vạn Hạnh, Thiền sư Ngô Chân Lưu, vua Lý công Uẩn, Phật hoàng Trần Nhân Tông và vô số nhân cách sáng ngời khác nữa.

Nhưng vận nước không phải lúc nào cũng hưng thịnh, khi người Pháp sang xâm lược nước ta thì dân tộc ta rơi vào cảnh khổ đau nhục nhã và vì thế, lẽ tất nhiên Phật giáo cũng bị rơi cảnh suy tàn.

Trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn bởi các tôn giáo núp bóng ngoại nhân, các vị cao Tăng thạc đức của Phật giáo ngày đêm đau đáu tìm cách dựng lại ngôi nhà sắp sụp đổ của đức Như Lai.

Vì lý do đó, phong trào chấn hưng Phật giáo được hình thành, nhưng các vị Tăng sĩ thực sự dấn thân hoạt động để bảo vệ và xiển dương Phật Pháp cũng chỉ đếm gần vừa đủ trên đầu ngón tay. Còn lại đa số các tu sĩ Phật giáo lúc đó thì cũng vẫn giữ thái độ: “mũ ni che tai”, “quí hồ tinh bất quí hồ đa”, đúng như lối sống ích kỷ chỉ biết có lợi dưỡng bản thân theo kiểu Đề Bà Đạt Đa của họ.

Nhờ sự hy sinh xương máu của những cao tăng và những cư sĩ thực tu thực học, thực lòng tôn kính và hộ trì cho giáo pháp của Đức Như Lai, phong trào chấn hưng Phật giáo khắp trên toàn cõi Việt Nam lúc đó đã có những thành công rực rỡ.

Khi ông Ngô Đình Diệm nắm quyền lãnh đạo miền Nam Việt Nam, ông cùng anh em của ông và Phật tử cải đạo Trần Lệ Xuân đàn áp Phật giáo một cách khốc liệt và tàn bạo chưa từng có.

Trong lúc sinh mệnh của Phật giáo tưởng đã đến hồi chấm dứt thì Thượng Tọa Thích Trí Quang và cố Thượng Tọa Thích Thiện Minh và vài bậc cao Tăng đã phát động phong trào Phật giáo đấu tranh để bảo vệ chính pháp. Khi ngọn lửa thiêng của Bồ Tát Thích Quảng Đức cháy bùng lên ở ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt, thì cả thế giới mới chú tâm đến tình trạng đau thương của Phật giáo Việt Nam.

Để rồi từ đó, nhiều ngọn lửa thiêng nữa đã theo gương Bồ Tát Thích Quảng Đức làm chấn động lương tri của toàn thể nhân loại và phải trải qua biết bao nhiêu xương máu của chư Thánh Tử Đạo và chư Phật tử trong công cuộc đấu tranh bảo vệ chính pháp thì Phật giáo mới tránh khỏi cảnh không bị tiêu diệt.

Trong cuộc đấu tranh này, thành phần cư sĩ thì rất hiếm thấy ai phản bội Phật giáo, còn trong thành phần tu sĩ thì có rất nhiều vị chống đối hai Thượng Tọa Thích Trí Quang, Thích Thiện Minh và phong trào đấu tranh tràn đầy chính nghĩa của Phật giáo đến cùng.

Những Đề Bà Đạt Đa này gây ra đủ cản trở và xáo trộn, thậm chí họ còn nghe theo lời của ông Ngô Đình Nhu, thành lập một giáo hội tiếm danh Phật giáo Việt Nam, gởi thư đến hội Phật giáo quốc tế yêu cầu “lên án” những vị tu sĩ đang “lợi dụng” Phật giáo để tranh đấu này nọ!

Trong thế kỷ XXI, ngôi nhà của Như Lai lại một lần nữa đứng trước nguy cơ bị lấn lướt vì sự tấn công bằng sách lược cải đạovà nhiều sách lược tinh vi khác của các tôn giáo hữu thần.

Khi mà một người cực kỳ đức độ và ôn hòanhư Đức Đạt Lai Lạt Ma, vì lo lắng cho sự suy tàn của Phật Pháp, đã lên tiếng mạnh mẽ và quyết liệt chống lại việc cải đạo, thì lại có những Đề Bà Đạt Đa kiểu mới, xuất hiện với những phát ngôn cực kỳ nguy hiểm cho Phật Pháp như họ cho rằng việc cải đạo là không quan trọng, không có gì phải lo lắng, rằng những người quan tâm đến việc cải đạo là: “…suy nghĩ có phần hời hợt với chính đạo lý mình đang tu học.” “…Không khéo chúng ta bỏ chánh đạo để tập tễnh làm chánh trị thì chết dở…” .

Những Đề Bà Đạt Đa này không phá hoại trực diện Phật giáo, không có gì đáng chê trách về tuân thủ giới luật, thậm chí cũng có trình độ, nhưng lại có tư tưởng yếm thế, an phận, không dấn thân, tinh tiến trên con đường hoằng pháp độ sinh, để mặc hiện tượng tín đồ của mình dần dần bị cải đạo rơi vào tay tôn giáo khác. Đáng tiếc hơn, lại còn reo rắc tư tưởng an phận, yếm thế, ít hơn nhiều đó.

Đối diện với những Đề Bà Đạt Đa thời hiện đại, chúng ta phải ứng xử với họ như thế nào.

Thiết nghĩ, chúng ta là người con Phật, vì thế cách chúng ta ứng xử với những Đề Bà Đạt Đa của Phật giáo không gì hơn là cố gắng học theo gương ứng xử của Đức Phật và các vị Thánh Tăng. Đức Phật đã vạch trần bộ mặt tệ hại và kém cỏi của Đề Bà Đạt Đa trước toàn thể Tăng đoàn. Các vị Thánh Tăng đã chiến đấu không khoan nhượng với các Đề Bà Đạt Đa trong thời đại của quý ngài để bảo vệ chính pháp.

Đức Phật đã cất lên tiếng sư tử hống làm những kẻ phá hoại và tà ma ngoại đạo run sợ và họ phải cải tà quy chính.

Các bậc Thánh Tăng đã kiên quyết cầm gươm trí tuệ chặt đứt hết mọi tối tăm và mê muội.

Vậy thì chúng ta, nếu còn tự xem mình là đệ tử của Đức Phật là đệ tử của chư hiền Thánh Tăng thì hãy gánh vác lấy trọng trách nặng nề trong một cuộc chiến chống cải đạo không phân biệt rõ giới tuyến này để bảo vệ chính pháp. Đó là tự sửa mình theo lời Phật dạy, dấn thân đem Phật pháp đến tất cả mọi người bằng các phương tiện phù hợp.

Đó là nhận biết những chiến lược, thủ thuận cải đạo để có giải pháp ứng xử phù hợp

Chúng ta cũng không hộ trì, cúng dàng, nghe theo những Đề Bà Đạt Đa không tinh tiến trên đường hoằng pháp lợi sinh, phổ độ chúng sinh mà chỉ biết lợi dưỡng hoặc tự ru ngủ.

Nam Mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/08/2010(Xem: 6069)
Phải chờ thêm 12 năm nữa, cho đến 1871, khi không thể giấu mãi niềm tin chắc của mình, ông mới xuất bản tác phẩm "Thủy tổ của con người". Darwin viết thầm trong Nhật Ký: "Để tránh khỏi phải nói rằng tôi đã trở thành duy vật đến thế, tôi phải nhẹ nhàng trong cách nói, chỉ nói rằng những cảm xúc, những bản năng, những mức độ tài năng, tất cả đều di truyền, bởi vì bộ não của đứa bé giống như bộ não của cha mẹ nó" (18). Ông viết trong thư gửi Karl Marx: Đừng tấn công trực tiếp Thiên chúa giáo làm gì, vô ích đối với quần chúng; "hãy làm giàu trí óc con người bằng tiến bộ của khoa học, chỉ nhờ thế tự do tư tưởng mới phát triển thêm. Và bởi vậy, tôi tránh nói đến tôn giáo, chỉ hạn chế vào khoa học" (19).
16/07/2010(Xem: 10427)
Nhà nước xác nhận ý muốn thực hiện sự tách rời giáo quyền ra khỏi chính quyền. Giáo quyền và chính quyền là hai lãnh vực riêng biệt không có quyền can thiệp vào nhau. Nhưng cả giáo quyền và chính quyền đều phải có đạo đức, nếu cả hai đều không muốn phá sản. Vì vậy tôn giáo có thể giúp cho chính trị và chính trị có thể giúp cho tôn giáo, nhưng cả hai bên đều phải theo luật pháp quốc gia. Bên tôn giáo có thể đóng góp tuệ giác và nhắc chừng về chiều hướng tâm linh đạo đức trong cả hai ngành lập pháp và hành pháp, bên chính trị có thể đóng góp ý kiến về sự suy thoái đạo đức trong tôn giáo và sự lạm dụng giáo quyền trong việc tìm cầu danh lợi và quyền bính, và yểm trợ cho tôn giáo trong những công tác giáo dục đạo đức và thực tập đưa tới lành mạnh hóa xã hội.
04/07/2010(Xem: 7119)
1. Người Cộng Sản Việt Nam cảm thấy thoải mái trong nếp sống văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam và nguyện sống như thế nào để có thể mỗi ngày làm đẹp thêm nếp sống ấy.
03/07/2010(Xem: 6905)
“Kính thưa các bạn, tôi đã từng có dịp đọc Phúc Âm với con mắt của một thiền sư. Chúng tôi đã từng có giao lưu với các linh mục và các vị mục sư. Chúng tôi đã từng sinh hoạt chung, những sinh hoạt này không phải chỉ là trao đổi ý kiến và kinh nghiệm mà còn là sống chung và tu tập chung. Chúng tôi xin phát biểu trên cơ bản đó. Chúng tôi cũng đã tham dự nhiều buổi họp, nhiều hội nghị đối thoại giữa đạo Phật, đạo Ki Tô và những đạo khác. Tôi nhớ ngày xưa có một thiền sư Việt Nam đã đọc kinh Dịch và đã trình bày kinh Dịch theo cái nhìn của một thiền sư.
03/06/2010(Xem: 6276)
"Phải có gì của riêng ta thì mới dung thông được với cái của người. Khi ta không biết ta là ai mà mở cửa đón nhận thì mất luôn cả mình. Điều đáng sợ nhất trong văn hóa VN là đánh mất bản sắc của mình, vậy nhưng, hình như ta còn chưa nhất trí được bản sắc của mình là gì nữa"
21/05/2010(Xem: 6367)
Tôi mới đây được xem bộ phim 'Kẻ trộm sách' của đạo diễn Brian Percival và trong đầu luôn ghi nhớ hình ảnh cô bé xinh xắn, đáng yêu Liesel Meminger nghiêng mình bên trang sách.
20/05/2010(Xem: 6582)
30 tháng 7, 2009 Vấn đề Alexandre de Rhodes chưa thể quên đối với người dân Việt nhất là với giới nghiên cứu vì vài lý do: a- Sau năm 1993 “bia 1941” của A. de Rhodes, được dựng lại tại khuôn viên thư viện Hà Nội và tên đường A. de Rhodes cũng được tái lập tại TP. Hồ Chí Minh/
10/03/2010(Xem: 5724)
Ông Đỗ Trung Hiếu là người Khánh Hòa, nguyên là giáo sư của trường Trung học Bồ Đề Nha Trang. Khoảng năm 1962-1963, Ông xuất hiện trong phong trào tranh đấu Phật Giáo Nha Trang và Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc . Sau đó không ai biết tông tích ông. Sau năm 1975 ông xuất hiện và giữ vai trò trọng yếu trong Ban Tôn Giáo chính phủ. Năm 1990 ông đã được ra khỏi đảng do bất đồng chính kiến. ‘Niềm Riêng’ ở cuối bài Thống nhất Phật giáo nói lên rất nhiều điều.
26/09/2009(Xem: 8612)
Thi hành Giáo chỉ số 9 của Đức Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ ra Thông bạch thành lập cơ cấu mới của Giáo hội tại Hoa Kỳ, Canada, Âu châu, Úc châu và Tân Tây Lan gồm những thành viên trung kiên theo đường lối dân tộc và Phật giáo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
15/09/2009(Xem: 8645)
Để đối phó với tình hình khó khăn, bị vu cáo trắng trợn và đe dọa thường trực, Đức Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang ban hành Giáo chỉ thành lập Văn phòng II Viện Hóa Đạo mới