Xuân Di Lặc

26/01/202308:14(Xem: 4177)
Xuân Di Lặc
Phat_Di_Lac_6



Xuân Di Lặc

 
     Nhìn hai cành đào đặt trên điện Phật, mỗi bên có treo một dây pháo và cánh thiệp chúc Tết. Đặc biệt cánh thiệp Mừng Xuân Di Lặc, không biết ai đã hoạ hai câu thơ bằng chữ Hán tả Phật Di Lặc như sau:

“Đại đỗ năng dung, liễu khước nhân gian đa thiểu sự
Mãn khang hoan hỷ, tiếu khai thiên hạ cổ kim sầu.”

Nghĩa:

Lòng rộng bao la, quét sạch trần gian vô hạn hận
Mặt đầy hoan hỷ, cười tiêu thiên hạ cổ kim sầu

 Hai câu thơ nầy rất ý nghĩa, bởi Xuân Di Lặc là mùa xuân ôm trọn cả mùa hương đạo. Đối với người Phật tử Á Đông, nhất là Phật tử Việt Nam. Lễ Giao Thừa còn gọi là Lễ Đản Sanh Phật Di Lặc Tương Lai. Bởi hiện Ngài là vị Bổ Xứ Bồ Tát ở Đâu Suất Nội Viện Thiên Cung, sẽ Giáng Thế và kế tục Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni ở Sa Bà này, chính Đức Thế Tôn đã phú chúc như thế. Cho thấy, Ngài có nhân duyên lành sâu xa đối với chúng sanh nơi cõi này.


     Theo truyền thuyết, tuy chưa đến kỳ giáng thế, Ngài đã mang niềm an vui hoan hỷ đến cho chúng sanh qua nhiều phương tiện, bằng cách hoá hiện thân tướng của một Tỳ Kheo dị thường, bụng to, áo rách không cài nút, mang dép cỏ, hoặc guốc gỗ, vác chiếc đãy vải lớn, đi đây đó khắp nơi để giáo hoá chúng sanh. Từ đó dân gian thường gọi Ngài là Bố Đại Hoà Thượng. Mỗi cách ăn mặc của Ngài là như để báo trước một điềm gì đó sắp xảy ra, hoặc thời tiết hoặc mùa màng chẳng hạn.

 Hình ảnh đó thể hiện nếp sống đầy an vui và buông bỏ, không chút ưu phiền, đi cũng không ai biết đến chẳng ai hay. 
     Có lần có người hỏi Ngài, “Phật Pháp là gì?” Ngài liền bỏ cái đãy xuống. 
 Họ hỏi tiếp, “Thế Phật Pháp có gì hay hơn nữa?” Ngài liền vác đãy lên vai và bước đi. 

     Trừu tượng một chút, chúng ta có thể hiểu hành trạng của Ngài là một hành động rất sống động, biểu hiện của Ngài là Phật Pháp có công năng giúp cho hành giả biết buông xuống (emptiness).  Với người bình thường, càng ôm cái lợi cái danh vào nhiều chừng nào thì họ càng hứng thú. Ngược lại, với một hành giả, càng biết buông xả thì càng tiến gần hơn đến sự giải thoát giác ngộ. Và cử chỉ vác đãy lên vai bước đi, là hành giả đang thật sự sống pháp, biết gánh vác trách nhiệm với sự sống còn của Chánh Pháp. Đồng thời, biết hoà đồng với niềm vui nỗi khổ của chúng sanh, mà vẫn luôn bước tới. Nghĩa là không tách rời hoặc xa lánh thế gian, mà hãy đặt lên vai mình một trách nhiệm là làm cho chúng sanh giác ngộ, bớt khổ, được an vui như mình. Đó chính là “Phật Pháp bất ly thế gian giác.”  Ngược với quan niệm rằng, người tu là phải che mắt, bịt tai, không được nghe, không được thấy, ai chết mặc ai. Quan niệm như thế là cho người tu không khác một khúc gỗ là mấy!

      Một lý giải sâu xa hơn, cũng qua hành trạng đó, Ngài đã không muốn thế gian lưu lại vết tích gì về Ngài, để như giọt nắng của thời gian chỉ chiếu xuyên qua, làm ấm dậy mùa xuân cho cây đâm chồi kết nụ. Rồi tự tan biến để soi chiếu về một nơi xa xôi đen tối khác, đã thể hiện qua bài thơ chính tay Ngài hoạ và lưu lại cho cư sĩ tên Vương Nhân Hú, là huyện trưởng huyện Bồ Điền tỉnh Phúc Kiến bên Trung Hoa thời bấy giờ như sau.

Di Lặc chân Di Lặc
Hoá thân thiên bách ức
Thời thời thị thế nhân
Thế nhân câu bất thức

Dịch:

Di Lặc thật Di lặc
Hoá hiện ngàn muôn thân
Ngày ngày hiện đây đó
Người đời khó nhận chân

 Dưới bài thơ này có chín chữ, “ Bất đắc trạng ngô tướng, thử tức thị chân.” Nghĩa là: Không nên khắc, vẽ hình tướng của ta ấy mới là thực tướng vậy. Ấy chính là “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.”

         Qua đó, chúng ta thử nhìn kỹ cành đào và sẽ nhận ra, cành đào chỉ là một nhân tố khởi sắc cho cái đẹp của mùa xuân, song có mùa xuân cũng nhờ nhiều yếu tố của các nhân duyên khác hợp thành. Cái đẹp hôm nay là kết quả gom lại của bao tấm lòng đẹp từ hôm qua. Trên mấy cành đào có thoáng hiện những nụ cười đầy an lạc và thiện cảm. Trong đó chắc cũng có nụ cười của đạo hữu Nhuận Thành. Người viết nhớ lại mấy ngày trước, đạo hữu này khệ nệ khiêng mấy cành đào từ ngoài xe vào thật to, thật đẹp, nụ nào cũng no tròn, kết khắp cành, đem đặt lên bàn, lấy nước đổ vào bình, đợi người viết ra tay cắm như mấy Tết trước. Cứ mỗi năm thay vì có hai cành mai trên điện Phật chưng Tết, thì ở xứ này, chúng tôi dùng đào cắm thay mai. Đào nở thật đẹp và nét đẹp rất sang. Chẳng phải hoa anh đào hay đào ăn trái. Loại đào này một số người gọi là mai đỏ. Thật ra mai đỏ hay đào cũng không khác, miễn có chưng để làm đẹp cho không khí mùa xuân cũng là điều ý vị. Nhìn mấy cành đào người viết dặn đạo hữu Nhuận Thành, “Ngoài hai bình thầy sẽ cắm chưng bàn Phật, đạo hữu giữ lại cho thầy một cành nào đẹp đẹp, lấy thùng chứa nước dưỡng lại, có Phật tử đặt từ năm trước rồi ạ.” Đạo hữu Nhuận Thành cười cười không nói gì, vì tưởng người viết nói đùa. Nụ cười của đạo hữu vừa hiền từ mà chân thực, cho thấy bấy lâu nay ít nhiều có thực tập công phu hàm dưỡng, nên cũng tỏa ra niềm an lạc trên khuôn mặt như một món quà Xuân Di Lặc vậy. 

       Tết vừa rồi có một đạo hữu vào Chánh điện lễ Phật xong, đang ngắm nghía mấy cành đào, vừa thấy người viết từ phòng bước ra liền lên tiếng “ Bạch Thầy hai cành đào nở đều đặn đẹp ghê Thầy ơi! Đã bốn năm rồi, năm nào con cũng thấy Thầy chưng hai cành đào thật tuyệt. Có lẽ Thầy đặt mua từ Cali về hả thưa Thầy? Năm nay trễ rồi, năm tới Thầy đặt thêm giùm con vài cành chưng Tết cho vui nha thưa Thầy”. Phật tử nói thế, người viết tưởng chỉ đùa cho vui, nên cười và đùa lại, “ Không, đào này thầy đặt mua từ bên Nhật kia mà”.  “Thật hả Thầy?” “Không, thầy chỉ nói đùa thôi, chứ đào này mọc quanh bờ rào các nhà cư dân gần đây nhiều lắm”. Phật tử ngạc nhiên, “Nhưng hôm nay là ngày Tết rồi, trời còn lạnh nên đâu có cây gì đâm chồi trổ nụ đâu mà Thầy đã có đào hoa nở rồi, hơn nữa con ở đây đã hơn mười năm qua, con đâu có thấy cây đào nầy bao giờ đâu, làm sao mà nở ra như thế này được.” Tôi thầm nghĩ Phật tử nói cũng đúng, nếu không để ý nhìn và không biết cách làm cho đào nở sớm thì chẳng ai biết quanh mình có một loại cây có hoa đặc biệt như thế. Loại đào này để nó nở tự nhiên trên cây, dĩ nhiên không thấy gì đẹp, thành thử nhìn không ra thì cũng phải. Hơn nữa, để hoa nở theo thời gian tự nhiên, là phải đến cuối tháng ba, đầu tháng tư mới có hoa. Lúc đó là nhiều loại hoa thi nhau rực nở thì đâu còn ai để ý bụi (bush) hoa này nữa. 

        Thật ra chung quanh ta cây cảnh thiên nhiên đều đẹp, nhưng nét đẹp của nó có hợp với nhãn quan của người thưởng thức hay không, đấy mới là giá trị chân thật. Qua bốn mùa xuân, nay là cái Tết thứ năm sắp kề, chùa năm nào cũng có đào để chưng, cũng không ít Phật tử ngạc nhiên tại sao Thầy tìm đâu ra loại mai đỏ để chưng trên bàn Phật mà đẹp như thế. 

       Điều khác biệt là, hoa trong cửa thiền là hoa đạo, nên không chỉ chưng cho đẹp, mà còn để nhắc nhở người thưởng thức biết quán chiếu lẽ vô thường của hoa nữa. Cái đẹp không lưu lại vết tích, mới chân thật là đẹp và vẫn hiện hữu không bao giờ mất. Dù cho cái đẹp của cành đào đi nữa thì cũng quá mong manh tạm bợ, trong mấy ngày rồi sẽ héo úa tàn phai và sẽ trả về cát bụi. 

      Để hưởng trọn mùa Xuân Di Lặc hằng hữu, chúng ta thử soi tìm nét đẹp trong ta. Không phải là lớp áo choàng của thể xác bên ngoài, mà chính tâm hạnh và thể tánh hằng quang sáng bên trong không hề mất. Và không bao giờ thay đổi, như chính bài thơ mà Bố Đại Hoà Thượng đã họa để chỉ bình đẳng tánh Phật sẵn có trong mỗi chúng sanh: 

“Ngô hữu nhất Thế Tôn 
Thế gian giai bất thức
Bất tố diệc bất trang 
Bất điêu diệc bất khắc 
Vô nhất khối nê thổ 
Vô nhất điểm thái sắc 
Công họa họa bất thành 
Tặc thâu thâu bất khứ
Thể tướng bản tự nhiên 
Thanh tịnh thường hảo khiết 
Tuy nhiên thị nhất Tôn
Phân thân thiên bách ức.”

Dịch nghĩa: 

Trong ta một Đức Phật 
Người đời không ai hay 
Không đúc, không trưng bày
Không điêu, không thể khắc 
Đất nắn, nắn không xong 
Không cần tô màu sắc 
Thợ vẽ, vẽ không thành 
Giặc cướp, cướp chẳng mất 
Thể tướng vốn tự nhiên 
Thanh tịnh và sáng trong 
Dù chỉ là một Phật 
Hoá hiện ngàn muôn thân.

Tuệ Minh-Thích Phước Toàn

(trích Giai Phẩm Xuân Kỷ Mão, Chùa Phước Huệ, Năm 1999)
(ảnh Tết 2020)
Xuân Di Lặc


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/01/2016(Xem: 8339)
Hiện nay, ở một số chùa có trưng bày tượng ba con khỉ trong sân chùa. Nhưng không phải ai cũng biết về nguồn gốc cũng như hiểu đầy đủ ý nghĩa sâu xa mà người xưa muốn truyền dạy lại cho thế hệ sau qua bức tượng tưởng chừng như vô tri đó. Thoạt đầu khi mới nhìn qua bức tượng này có lẽ ai trong chúng ta cũng tưởng như đã hiểu được ẩn ý của nó. Đó là: “không nói, không thấy, không nghe”. Nhiều người cho rằng bức tượng ấy muốn dạy chúng ta hãy ở yên và sống cuộc sống của mình, đừng quan tâm đến chuyện của người khác hay những gì đang xảy ra xung quanh. Nhưng nếu hiểu như vậy thì thiếu chính xác và chưa đầy đủ.
15/01/2016(Xem: 19925)
Ngày xưa ở tại ven sông Có chàng khỉ sống ung dung một mình Mạnh sức lực, lớn thân hình Thêm tài nhảy nhót tài tình kể chi. Giữa sông có đảo đẹp kia Bao nhiêu cây cối rậm rì xanh tươi Trái cây ngon ngọt khắp nơi Nào hồng, nào chuối chào mời khỉ ta. Từ bờ tới đảo khá xa May thay có đá nhô ra giữa dòng
15/01/2016(Xem: 6950)
Nhân dịp Xuân về, thay mặt Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan, chúng tôi trân trọng kính gởi đến Chư Tôn đức Trưởng lão, Chư Tôn Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni, quý Cộng đồng, Hội đoàn, Tổ chức, Cơ quan Truyền thông, thân hào nhân sĩ, thiện hữu tri thức, cùng toàn thể Đồng hương Phật tử tại Úc Châu và các châu lục, lời vấn an sức khỏe và lời Chúc Mừng Năm Mới tốt đẹp nhất, cầu mong tất cả thân tâm an lạc, vạn sự cát tường, sở cầu như nguyện.
15/01/2016(Xem: 22326)
Năm nay Bính Thân, cầm tinh con Khỉ, ai cũng biết loài khỉ xưa nay vốn được xem là động vật thông minh và nhanh nhẹn. Vì vậy, nhiều người Mẹ hy vọng sinh con năm Thân để con có thể sở hữu những đặc tính nổi trội này. Con khỉ cũng được lựa chọn tượng trưng cho sự may mắn, tốt lành. Khỉ thường được điêu khắc hoặc dán trên tường và cửa chính ra vào, với mục đích đem lại sự may mắn và niềm vui, hạnh phúc. Riêng đối với người con Phật, hình ảnh con khỉ lại rất gần gũi qua lời dạy của Đức Phật với 4 chữ " Tâm Viên Ý Mã", có nghĩa là tâm chúng ta như con khỉ chuyền cây, ý của ta sinh diệt liên tục như con ngựa chạy rong ngoài đồng nội. Đó là hình ảnh so sánh cực kỳ sống động, giúp cho chúng ta biết rõ nhược điểm của tâm mình mà khéo điều phục cho được thuần hóa. Trong Kinh A Hàm, Phật kể câu chuyện, có một bầy khỉ đi ăn, khỉ Chúa dạy các khỉ nhỏ không được tự ý tách đoàn đi ăn một mình mà bị sập bẫy mất mạng. Trong đoàn có một con khỉ kiêu mạn, lại tham ăn, tách đoàn đi ăn một mình để được
12/01/2016(Xem: 7450)
Hôm nay là ngày đầu tiên đi làm cho năm mới. Trời không nóng lắm, nên cũng dễ chịu. Năm mới, năm tinh khôi, đời tinh khôi... Có những tin buồn của bạn hữu, lòng chùng xuống mênh mang... Ở tuổi gần tri thiên mệnh, bạn bè, người thân của bạn bè lần lượt như những chiếc lá thả xuống dòng sông để trôi vào vô tận... Chỉ biết cầu mong người đi thanh thản, người ở lại thân tâm an tịnh... Cuộc sống như một cái cây lớn, mầm này nhú lên, thành nụ, thành hoa, rồi lại thành hạt, lại nảy mầm... Cứ thế tuần hoàn, nhưng sao không khỏi những day dứt...
12/01/2016(Xem: 15668)
Trang Nhà Quảng Đức chúc xuân Đạo tràng Tu viện một lòng hướng quê “Dê” đi năm “khỉ” lại về “Tâm Viên Ý Mã” nguyện thề phải tu Là “khỉ” tâm rất lu bu Lăng xăng chạy nhảy oán thù tạo gieo
11/01/2016(Xem: 17282)
Tiền thân Đức Phật một thời Từng là chú khỉ sống nơi khu rừng Thân hình to lớn hào hùng Xiết bao mạnh mẽ, vô cùng thông minh, Nhân từ nổi tiếng rừng xanh Giúp người hoạn nạn tâm thành chứa chan. Một ngày rực rỡ ánh vàng Nắng trời tỏa ấm, gió ngàn vờn quanh
10/01/2016(Xem: 6639)
Cuộc sống và cuộc đời luôn luôn thay đổi trong từng hơi thở và từng nhịp đập; Thay đổi cuộc đời trong Năm mới chính là Làm mới chính mình, nuôi dưỡng suối nguồn hạnh phúc. Hãy suy ngẫm và làm theo những gì trái tim ta mách bảo, rất có ích cho chúng ta! Có ích cho một năm mới để gieo trồng và nuôi dưỡng hạnh phúc cho chính mình và những người thân thương trong cuộc đời mình.
09/01/2016(Xem: 5804)
Thông Bạch Xuân Bính Thân 2016
07/01/2016(Xem: 6161)
Nước kia có một ông vua Vốn ham việc lạ, lại ưa chuyện đùa Tuổi vua bẩy chục có thừa Một hôm cao hứng nhân mùa đầu Xuân Vua truyền lệnh khắp xa gần Từ quan cho chí tới dân hay rằng Nhà vua ban thưởng ngàn vàng Cho ai dạy khỉ nói năng như người. Các quan phải dự cuộc chơi Cố công tìm khỉ các nơi đưa về Quan nào dạy khỉ lành nghề Thưởng vàng, tăng chức đôi bề vui thay!