Kể Chuyện Năm Ngọ

13/01/201417:43(Xem: 9048)
Kể Chuyện Năm Ngọ
con_ngua_10
Kể Chuyện Năm Ngọ

Một cây cầu có thể đưa hết tất cả người, súc vật, hàng hóa đi qua trên đó. Đưa qua hết thảy, không kể sang hèn quí tiện. Cái chính là có đưa qua hết - tất cánh độ khứ - được hay không? Nếu không qua lọt, hoặc đi qua một cách khó khăn thì đích thị là cầu khỉ rồi. Hoặc đôi khi người qua rồi, bóng còn kẹt lại bên cầu.





CHUYỆN CON NGỰA KIỀN TRẮC

Một trong bảy hiện tượng sanh cùng một ngày với Thái tử Tất-đạt-đa: Thái tử, Công chúa Da-du, Ca-lưu-đà-di (Kaludàyin), Xa-nặc (Channa), Kiền-trắc (Kanthaca), voi báu và cây Bồ-đề - theo kinh tạng Pàli.

Kiền-trắc vì thế là một con ngựa nổi tiếng, đáng kể nhất với công lao đưa Thái tử vượt thành xuất gia. Truyền thuyết về chuyến đi này cho tới nay vẫn còn đọng vẻ hùng tráng. Thái tử cưỡi trên lưng ngựa bay qua sông. Xa-nặc bám theo sau đuôi ngựa. Có chỗ nói chư Thiên đã nâng gót chân ngựa bay qua cổng thành, hoặc trời Đế-thích hóa phép cho mấy tên lính canh cổng ngủ gục, và cũng có thể Xa-nặc biết một ngõ sau nào đó, để dẫn Thái tử và con ngựa đi qua êm thấm.

Đêm đó ba thầy trò đi hơn mười dặm đường, đến địa phận thành Tỳ-xá-ly (Vesali), qua sông Anoma (Nesa njarã) thì trời vừa sáng. Tại đây dừng ngựa, cắt tóc, giao áo mão cho Xa-nặc đem về. Đó là chuyến đi cuối cùng của Kiền-trắc đưa Thái tử.

Trước đó trong ngày hội kén rể của vua Thiện Giác, với sức phi nhanh của Kiền-trắc, đã bỏ rơi các con ngựa của các công tử khác đến hai vòng đua. A-nậu-lâu-đà kêu lên:

- Không ai có thể sánh với con Kiền-trắc.

Cuộc thi phải đổi sang cách khác. Người ta dẫn ra một con ngựa hung hăng bất trị, giao hẹn người nào cưỡi lên lưng nó được là thắng cuộc. Rốt cuộc cũng chỉ có Thái tử điều phục ngựa dữ, thêm một lần thắng.

Về chàng Xa-nặc, sau này Thái tử thành đạo, Ngài trở về hoàng cung, Xa-nặc cũng đi theo xuất gia. Chú Sa-di này ỷ lại vào sự thân cận của mình với đức Thế Tôn, lòng tự phụ, tự đắc đối với “Đức Phật của chúng ta, giáo pháp của chúng ta”, đã trở thành một nhân vật ương ngạnh, cứng đầu trong tăng đoàn, không ngán một ai. Điều này gây trở ngại đến nỗi trước giờ đức Thế Tôn nhập Niết-bàn, các Trưởng lão phải hỏi Ngài cách đối xử với Xa-nặc. Đức Phật dạy “mặc tẩn”. Sau đó Xa-nặc hổ thẹn, sửa đổi và không bao lâu chứng quả A-la-hán. Vị Trưởng lão này sung sướng nói lên bài kệ:

Sau khi nghe chánh pháp
Vị ngọt lớn pháp lớn
Do nhất thiết thắng trí
Thuyết giảng và trình bày
Ta dấn thân trên đường
Đường đưa đến bất tử...
(Trưởng Lão Tăng Kệ 69)


CON NGỰA CỦA NGÀI HUYỀN TRANG

Chuyến Tây du cầu pháp của ngài Huyền Trang xảy ra vào đời Đường Thái Tông (629) Con đường bộ từ kinh đô Trường An về biên giới phía Tây Trung Hoa, qua vùng Tân Cương, sa mạc Qua-bích (Gobi), qua 24 nước Trung Á, vượt đèo Thiết Lĩnh núi Hy Mã, đến thành Vương Xá, cả thảy khoảng mười ngàn cây số. Trên đường đi Ngài dùng ngựa, có khi tự mua sắm, có khi được vua chúa dâng tặng...

Trong lúc chuẩn bị ra khỏi địa phận cuối của Trung Hoa để băng qua sa mạc Qua-bích, Ngài được một ông già bản xứ đề nghị đổi cho con ngựa sắc lông màu hung đỏ, gầy gò, già nua, nhưng đã qua lại đoạn đường sa mạc hơn 30 lần nên rất cần thiết. Sau khi qua khỏi năm phong hỏa đài (trạm gác), được tặng túi nước và chỉ dẫn đường đi, Ngài và con ngựa đi dần vào sa mạc. Suốt một ngày đi trong bão cát, Ngài bị lạc đường không tìm ra suối nước, và rủi ro hơn, lại tuột tay làm rơi túi nước hộ thân. Ngài đã quay ngựa về hướng Đông, định trở lui tìm trạm gác, nhưng đi một khoảng lại ân hận, bèn phát thệ “Thà tiến về phương Tây mà chết”.

Suốt bốn đêm năm ngày giữa bãi cát mênh mông nóng bỏng, không một giọt nước, người và ngựa mệt lả, nằm lịm bên phiến đá. Chợt nửa đêm một trận gió mát lạnh thổi qua, Ngài hơi tỉnh lại, con ngựa cũng gượng lên được. Đến sáng đi một khoảng con ngựa vùng chạy sang lối khác, nhờ bản năng nó đã đánh hơi được chỗ có cỏ và nước. Quả nhiên tìm ra con suối Dã Mã, cứu tinh của khách qua sa mạc. Từ đó mất thêm hai ngày hai đêm mới vượt qua hết chặn đường khốc liệt.

Ngô Thừa Ân khi viết lại chuyện Tây Du cũng để cho con ngựa của thầy Tam Tạng góp một phần công đức trong chuyến thỉnh kinh.

Một lần trong vô số lần gặp yêu, thầy Tam Tạng bị con quái Huỳnh Bào hóa phép biến thành con cọp, nhốt Ngài trong cũi. Đại đệ tử Tôn Ngộ Không đã bị thầy từ, trở về động Thủy Liêm chơi với khỉ, còn hai đồ đệ Sa Tăng, Bát Giới chẳng hay biết gì. Ngựa Kim - vốn không phải ngựa thường, là một con rồng bị phạt, được Bồ-tát Quan Âm cho làm ngựa đưa thầy thỉnh kinh để đoái công chuộc tội - nóng ruột thầy, nửa đêm hóa thành mỹ nữ, đến chỗ Huỳnh Bào dâng rượu, múa hát rồi tìm cách hạ thủ, bị Huỳnh Bào võ nghệ cao, đâm cho một giáo phải hóa thành rồng, bay ra khỏi cung điện.

Sáng hôm sau, Sa Tăng ra chuồng ngựa thấy con ngựa hổn hển, lông ướt đẫm mồ hôi, một bên chân có vết thương, bèn ngạc nhiên đến gần vuốt ve. Con ngựa phát thinh nói:

- Sư phụ gặp nạn ở trong triều vua, hai anh mau tìm cách cứu thầy.

Sa Tăng hết hồn toan bỏ chạy, bị ngựa cắn áo kéo lại nói:

- Em không phải ngựa thường...

Rồi kể lại đầu đuôi câu chuyện mình đánh với yêu, xúi Sa Tăng đi cầu viện Tôn Hành Giả mới xong. Sa Tăng đến động Thủy Liêm, bị Hành Giả làm mặt lạ, sai khỉ con rượt đuổi. Đến Bát Giới, Bát Giới lập mưu kế, biết tánh Hành Giả cao ngạo, tự ái nên lập kế nói khích. Sau một hồi quì lạy, rồi kiếm chuyện nói thầy nhớ, sai mình đi tìm anh. Hành Giả không tin, tra gạn đôi ba phen, Bát Giới mới tỏ thật chuyện thầy mắc nạn. Hành Giả nói:

- Khi ra đi ta có dặn, gặp yêu nhớ xưng tên ta là đại đồ đệ của thầy, thì yêu quái nào dám hành hung.

Bát Giới:

- Nếu không xưng tên anh thì còn khá. Bởi kể tên anh, yêu quái mới làm hung, nói: “Tề Thiên là con khỉ ốm, tài cán bao lăm mà đem ra dọa.”

Hành Giả nổi giận, hét lớn:

- Cha chả! Vậy là quá lắm, để ta đi tìm nó đập một trận. Còn chuyện cứu thầy tính sau. Rồi xách thiết bảng chạy như giông.


CHÚ TIỂU NGỰA

Tôi có đọc câu chuyện lâu quá không nhớ đến tên người, nhưng được ghi trong phần cảm ứng của kinh Pháp Hoa.

Một vị tăng có thói quen, khi đi đến nhà đàn-việt, thường trì thầm bộ Pháp Hoa. Thầy thường cưỡi ngựa, đường xa trì trọn bộ, đường gần một vài phẩm. Lâu dần thành thói quen, cứ lên lưng ngựa, từ chùa đi hoặc từ nhà đàn-việt về, đều trì tụng Pháp Hoa.

Sau này con ngựa của thầy già chết, thầy nằm mộng thấy nó sanh làm con trai một nhà hàng xóm. Ba năm sau, thầy đi qua xóm đó, có chú bé ba tuổi chạy ra chào, thưa rằng:

- Thưa thầy, thầy là thầy con.

Rồi theo thầy về chùa tu. Lớn lên chú không thể học được, chỉ có dạy truyền miệng bộ kinh Pháp Hoa là tụng thuộc lòng thôi. Như thế cho đến suốt đời, đến khi chết điềm lành rất nhiều.

Loài súc sanh không thể nói là không cảm được Phật pháp.


CON NGỰA CỦA QUAN HUYỆN ÚY

Thiền sư Tự Bảo ở Động Sơn, khi làm tăng tu theo hạnh đầu-đà, giới luật cẩn thận. Tham vấn thiền sư Giới, được phát minh tâm địa. Ở hội Ngũ Tổ, sư Giớùi làm chủ tự. Một hôm Hòa thượng Giới bệnh, sai cư sĩ lấy gừng sắc thuốc, bị Sư không cho. Hòa thượng phải bảo đem tiền đến, Sư mới trao gừng. Nhân đây Sư có danh là “Ông thầy bán gừng.”

Khi Sư trụ trì núi Qui Tông, có lần Sư xuống núi, giữa đường gặp lúc xe quan Huyện Úy đi ngang. Lính nạt bảo tránh đường. Sư đứng nép bên đường. Con ngựa kéo xe quan Huyện Úy thấy Sư liền quì mọp. Sư nói: “Súc sanh này cũng biết người.” Quan Huyện Úy xuống xe đảnh lễ Sư, sau đó ngựa mới chịu chạy.



CẦU ĐƯA LỪA, ĐƯA NGỰA

Một công án nổi tiếng là “Cầu đá Triệu Châu”. Thành Triệu Châu có cây cầu bằng đá do Lý Ưng kiến tạo. Vị tăng đến hỏi Triệu Châu:

- Từ lâu nghe danh cầu đá Triệu Châu, mà đến đây chỉ thấy cây cầu khỉ.

Triệu Châu đáp:

- Xà-lê chỉ thấy cầu khỉ mà chẳng thấy cầu đá Triệu Châu.

- Thế nào là cầu đá?

- Đưa lừa qua, đưa ngựa qua.

Câu trả lời của Triệu Châu hết sức đơn giản. Là công án nên chúng ta không thể suy nghĩ, toan tính gì trên đó. Nhưng theo thường tình thử gẫm xem. Một cây cầu có thể đưa hết tất cả người, súc vật, hàng hóa đi qua trên đó. Đưa qua hết thảy, không kể sang hèn quí tiện. Cái chính là có đưa qua hết - tất cánh độ khứ - được hay không? Nếu không qua lọt, hoặc đi qua một cách khó khăn thì đích thị là cầu khỉ rồi. Hoặc đôi khi người qua rồi, bóng còn kẹt lại bên cầu, như hồi nhỏ tôi đọc đâu đó một bài thơ dịch, thấy có lý:

Hôm nao đứng bên cầu
Nhìn sông, em cúi đầu
Chiều nay anh thả lưới
Vớt lại bóng yêu kiều.

Vì vậy mọi khi tụng kết thúc bài Bát Nhã: “Yết đế, yết đế...”(bản chữ Hán dịch: Độ khứ, độ khứ...), mình hiểu là đưa qua, đưa qua... tôi lại băn khoăn cầu nguyện cho mình đưa qua hết mọi thứ trên đời.

Về cách đối đáp của thiền sư Triệu Châu, có nhiều đoạn thú vị, tưởng cũng nên chép ra đây cho vui:

* Trấn phủ Đại Vương hỏi Triệu Châu:

- Sư được bao nhiêu tuổi, còn mấy cái răng?

Sư đáp:

- Chỉ có một cái răng.

- Đâu ăn được cái gì?

- Tuy chỉ có một cái - mà thứ gì cắn cũng đứt.

Có bà lão đến hỏi:

- Đàn bà là thân của năm chướng, làm sao thoát?

Sư đáp:

- Hãy nguyện cho mọi người đều sinh lên cõi trời, còn cái thân của bà thì vĩnh viễn trầm luân.



MÃ LANG PHỤ

Đời Đường đất Thiểm Tây, có một thiếu nữ xinh đẹp, bao nhiêu người đến cầu hôn. Điều kiện của người đẹp cũng lạ: “Trong một buổi phải tụng thuộc phẩm Phổ Môn” . Có hai mươi tám người thi đậu. Điều kiện sau hơi khó một chút, để gạn lọc: “Trong một ngày tụng thuộc kinh Kim Cang.” Còn lại mười người trúng tuyển. Thôi thì kỳ hẹn ba hôm phải tụng thuộc trọn bộ Pháp Hoa. Chỉ còn một mình chàng họ Mã kiên trì đáp ứng lời yêu cầu.

Lễ cưới tổ chức long trọng, mời nhiều bạn bè tham dự. Ngay hôm ấy, tiệc chưa tan, quan khách còn đủ, cô dâu bỗng lăn ra chết, thân thể sình trương rồi rã nát trước mắt mọi người. Chàng họ Mã chôn cất - không biết có còn đủ lòng thương tiếc?

Vài hôm sau có một vị tăng già đến thăm lấy gậy bới hài cốt ra chỉ còn thấy một bộ xương vàng. Sư nói:

- Đây là Bồ-tát Quan Âm thương các người mà lập phương tiện giáo hóa.

Nói rồi bay mất. Từ đó dân vùng Thiểm Tây tin phụng Phật pháp rất đông, nhất là đối với đức Bồ-tát Quan Thế Âm.

Như Đức

- - -

Tinh tấn giữa đám người buông lung, tỉnh táo giữa đám người mê ngủ, kẻ trí như con tuấn mã thẳng tiến, bỏ lại sau lưng con ngựa gầy hèn.
(Pháp cú 29)

Các ngươi hãy điều phục lấy mình như thương khách lo điều phục con ngựa lành.
(Pháp cú 380)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/02/2026(Xem: 1300)
Tết năm nay rơi vào ngày thường và ai cũng phải đi làm. Dù vậy, người Việt ở Hoa Kỳ vẫn gìn giữ ngày Tết thiêng liêng này nơi quê hương mới. Chúng ta hội tụ nơi chùa, gia đình, cộng đồng... để cùng nhau đón Tết mà nòi giống đã gìn giữ từ ngàn xưa. Mỗi sắc tộc đều có ngày Tết. Và Tết của từng cộng đồng đều hiển lộ những nét đặc thù riêng của họ. Đây là lòng bao dung và đa văn hóa của một đất nước tự do.
01/02/2026(Xem: 3881)
Xuân đến, xuân đi là lẽ vận hành tự nhiên của đất trời. Nhưng đối với dân tộc Việt Nam chúng ta, mỗi khi nhắc đến hai chữ “Xuân về”, lòng người lại rộn ràng nghĩ đến Tết Nguyên Đán, thời khắc thiêng liêng chuyển giao năm cũ sang năm mới, ai ai cũng ấp ủ niềm hy vọng về những đổi thay tốt đẹp, và gửi trao cho nhau những lời chúc an lành, cát tường.
16/01/2026(Xem: 1101)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật. Trong tâm thức Việt: Bụt là cánh cửa tâm hồn, nơi lòng tin nhân hậu được gieo. Phật là con đường dấn thân tiếp nối vào đời, nơi trí tuệ và giải thoát được mở ra.
15/01/2026(Xem: 1015)
Ngựa (Equus ferus caballus) là một loài động vật có vú trong họ Equidae, bộ móng guốc (Perissodactyla). Loài này được Linnaeus mô tả năm 1758, và là một trong số 8 phân loài còn sinh tồn cho tới ngày nay của họ Equidae. Ngựa đã trải qua quá trình tiến hóa từ 45 đến 55 triệu năm để từ một dạng sinh vật nhỏ với chân nhiều ngón trở thành dạng động vật lớn với chân một ngón như ngày nay.
21/08/2025(Xem: 5589)
Chủ Nhật 8/2/ 2026, nhằm ngày 21 tháng Chạp -11: 00am: Lễ Cúng Tất Niên, Thượng Nêu -Cầu An, Cung tiến Chư Hương Linh -Chùa bắt đầu có: Bông Vạn Thọ, Thức Ăn Chay thuần khiết Chủ Nhật 15/2/ 2026, nhằm 28 Tết -10:00am: Khai Xuân Bính Ngọ -Gian hàng Bông Mừng Xuân, Thức Ăn Chay thuần khiết -11:00am: Cúng Ngọ Phật - Cúng Tiến Chư Giác Linh, Chư Hương Linh
28/03/2025(Xem: 3190)
Những thuật ngữ: nghiệp, vô thường, nhân quả…rất quen thuộc với chúng ta, ngay cả những người khác đức tin hay vô thần cũng biết đến. Những thuật ngữ này nói lên một phần căn bản của giáo lý Phật pháp lại vừa mang màu sắc triết lý dân gian, ấy là do bởi sự giao thoa giữa Phật giáo và văn hóa bản địa. Hàng ngày, mọi người chúng ta vẫn thường nói “nghiệp nó vậy, nghiệp không thể khác được, thiện nghiệp, ác nghiệp, sanh nghề tử nghiệp, trả nghiệp, đổ nghiệp, sự nghiệp… vậy nghiệp là gì? Nghiệp tiếng Phạn là Karma, là kết quả của quá trình tạo tác bởi thân – khẩu – ý, nói dễ hiểu hơn thì nghiệp là hậu quả của tất cả những gì đã nghĩ, đã nói và đã làm (sự là đang tạo tác, nghiệp là quả đã thành)
21/02/2025(Xem: 6779)
Đào muộn Xuân về khoe sắc hương An yên cảnh tịnh đẹp sân vườn Nắng vàng trải cỏ trang nghiêm tượng Trúc biếc lay cành tịch tĩnh phương Nấu chữ rèn kinh công đức dưỡng Soi tâm tỉnh ý nghĩa ân tường Tăng nhân nguyện thắp mong thiền vượng Phật pháp hoằng thông ánh đạo trường..!
15/02/2025(Xem: 3054)
Tâm Tình Đầu Xuân Ất Tỵ 2025 với HT Thích Nguyên Siêu, Chủ Tịch Giáo Hội PGVNTN Hoa Kỳ
15/02/2025(Xem: 4783)
“Tâm linh” vốn là cụm từ mà đối với nhiều người vẫn xem đó là những gì thuộc về thế giới siêu linh, huyền bí, thuộc về cõi âm. Với không ít người, khi nói đến “tâm linh”, người ta cho rằng đó là một cụm từ mang tính đe dọa và đáng sợ. Thế nhưng thực ra, tâm linh được lý giải như thế nào, bài viết hôm nay xin chia sẻ một góc nhìn về “Tâm linh” qua lăng kính Khoa học và Phật giáo, cũng như trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, trong sự hữu hạn của một bài viết cũng như những giới hạn trong khả năng hiểu biết của con người, sẽ chỉ phác họa được một phần nào đó về thế giới tâm linh vốn mênh mông và đầy huyền bí.
13/02/2025(Xem: 3271)
Ngọc Hoàng vạn tuế 1. Táo Lớn: Minh Đạo Chúng thần bái kiến Ngọc Hoàng Võ văn Thiên tướng hàng hàng uy nghiêm Vân du hết mấy ngày đêm Cưởi đàn Cá Chép đến thềm thiên oai Trang nghiêm mũ mão cân đai Chúng thần một vợ mà hai ông chồng Người người kính trọng gọi ông Chép ghi nhân quả tội công dưới trần.