Xuân Thời Gian

28/01/201107:00(Xem: 6372)
Xuân Thời Gian
hoa mai 6
XUÂN THỜI GIAN
Thích Thông Huệ

Trong một năm, thời khắc thiêng liêng đầy xúc cảm, đó là đêm giao thừa, thời điểm giao thoa giữa năm cũ và năm mới, cảm xúc giữa cái cũ và cái mới. Đối với thế giới phàm tục và thế giới siêu nhiên hòa quyện vào nhau, dường như có sự giao cảm vào thời khắc đó. Đây là một nét đẹp trong truyền thống văn hóa tâm linh của người dân Á Đông nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng. Nét đẹp truyền thống đó được giữ gìn, tô bồi từ nghìn xưa đến nay, tạo nên một cái Tết Nguyên Đán cổ truyền, đậm đà bản sắc dân tộc.

Một mùa xuân nữa lại về trên quê hương đất Việt. Chúng ta đang trưởng thành trong gia tài văn hóa tâm linh của dân tộc, cũng chính là gia tài văn hóa tâm linh của Đạo Phật, được tô đậm từ hơn hai ngàn năm lịch sử. Đối với người học Phật, trong những ngày Tết, thay vì say sưa trong men rượu, vọng ngoại theo những thú vui thường tục, chúng ta biết trở về chùa lễ Phật, nghe pháp, hướng đến niềm vui tâm linh là điều đáng trân trọng. Chúng ta đang trưởng thành trong đạo pháp thì phải biết rằng, trong mình có một kho tàng quý báu. Chư Phật đã nói tất cả chúng sanh đều có bản tâm thanh tịnh thường nhiên, nhưng vì mê chấp mà lăn lóc trong ba cõi sáu đường, trầm luân sinh tử. Chỉ khi nhận được mình có viên ngọc trong chéo áo, đem ra dùng thì liền giàu có.

Mùa xuân là mùa của một sức sống mới. Cây cỏ hoa lá khoác lên mình chiếc áo màu xanh mơn mởn, căng tràn nhựa sống. Đây là sự thay đổi tất nhiên, chuyển biến xoay vần theo định luật vô thường của vũ trụ. Người học đạo chúng ta cũng vui xuân nhưng bằng một trạng thái nhẹ nhàng, tinh tế, đầy đạo lý hơn. Bởi niềm vui chân thật không nằm trong cảm thọ của giác quan, mà là sự an tịnh của tâm thức. Chúng ta giao cảm với cái tinh túy nguyên sơ nơi bản thân mình, vượt lên khoái lạc của trần tục, sáu căn tiếp xúc sáu trần mà không vướng nhiễm, tự tại giữa dòng đời vô thường. Ở mặt tục đế thì mùa xuân có đến có đi, có còn có mất, hoa nở rồi tàn, nhưng mặt chơn đế là mùa xuân vĩnh hằng bất diệt. Thế giới không sinh tử là thế giới vô phân biệt, không có buồn thương giận ghét, không có vướng bận, phan duyên. Chính trạng thái đó, dưới cội Bồ đề Đức Phật đã chứng triệt, sống được và truyền lại thông điệp đó cho chúng ta.

Hoa nở hoa tàn đều là mùa xuân. Bên cạnh cái tàn phai vô thường của thân-tâm-cảnh, vẫn có một đóa hoa tâm luôn nở mãi theo thời gian, trong sinh tử có cái vô sinh bất tử. Muôn ngàn đợt sóng sinh diệt trùng điệp trên biển nhưng đại dương bao la vẫn mặc nhiên trường tồn không biến chuyển. Vậy nên, nơi sinh mà khéo nhận ra lý vô sinh, nơi tử mà nhận ra lý bất tử, đó là bước đường trở về với con người nguyên sơ tự thuở nào chưa từng sống chết. Chúng ta đau khổ là vì chưa nhận ra cái giả tạm của bản thân và cuộc sống. Khi thấy rõ bản chất duyên sinh, hư ảo của cuộc đời, chúng ta sẽ không luyến tiếc, sống hồn nhiên tự tại giữa dòng sinh tử vô thường.

Sự sống và chết cứ diễn tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác trong cái thế giới mê vọng và đau khổ. Từ cõi vĩnh hằng vô tận, do đam mê chấp trước mà chúng ta có mặt trên cuộc đời này, nếm trải muôn vàn hệ lụy, khổ đau, buồn vui, sướng khổ, thịnh suy, đắc thất nơi thân và tâm. Từ đó, chúng ta mới thấm thía về bài học của cuộc đời biến đổi đầy nhiễu nhương.

Các nhà khoa học đã nói thế giới này là “thế giới ảo”. Điều đó càng làm sáng tỏ, minh chứng cho những lời dạy mà Đức Phật đã nói trong kinh điển cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm là đúng:

Nhứt thiết hữu vi pháp

Như mộng, huyễn, bào, ảnh

Như lộ diệc như điện

Ưng tác như thị quán.

Tất cả pháp hữu vi

Như mộng, huyễn, bọt, bóng

Như sương cũng như chớp

Thường quán chiếu như vậy.

(Kinh Kim Cang)

Chúng ta phải quán chiếu sự không thật của các pháp để chơn trí được hiển lộ, từ đó minh định được cuộc sống này là gì, ta là ai trong dòng đời bất tận, sanh diệt liên tục của thời gian.

Tuổi trẻ thì hồn nhiên trong sáng, tràn trề sức sống với nhiều mơ ước hoài bão, kèm theo sự háo thắng, đua vui và bồng bột. Tuổi càng về già, con người ta trầm tĩnh, tinh tế, nhẹ nhàng hơn lúc nhỏ. Trải qua bao buồn vui, thương ghét, đắc thất, vinh nhục, hạnh phúc, khổ đau, tự cọ xát, chứng nghiệm vào cuộc đời, chúng ta gom góp cho mình những kinh nghiệm về cuộc sống nhân sinh, hiểu sâu sắc hơn về giá trị tinh thần trong đời sống tâm linh. Cho nên, trong mọi hoàn cảnh, chúng ta đều phải duy trì sự tỉnh giác với một tâm sáng suốt để chuyển hóa khổ đau, sống an nhiên tự tại.

Niềm vui nơi thế gian chỉ mang tính chất giả tạm như cái khoái cảm của người uống rượu hay gãi ghẻ ngứa, không phải là niềm vui chân thật. Trong cái hào nhoáng của các pháp có một sức cuốn hút, nhưng đối với người trí sẽ nhìn thấy nơi đó có sự bất toàn: Đó là mọi vật đều vô thường, duyên sinh, giả hợp. Nhận ra được điều đó, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từ bỏ ngôi vị Đông cung vượt thành xuất gia tìm đạo cứu đời, vua Trần Nhân Tông từ bỏ Vương vị lên núi Yên Tử tu hành ngộ đạo hoằng dương chánh pháp. Rõ ràng, không có hạnh phúc chân thật trong thế gian sinh diệt. Khi nào tập đế tham-sân-si, phiền não, vô minh, vọng tưởng lặng hết trong cùng một tâm, chúng ta mới đạt được hạnh phúc chân thật. Đó là niềm vui vĩnh hằng, niềm vui của đạo lý, của ánh sáng giác ngộ.

Trong dòng thời gian sinh diệt của cuộc đời, chúng ta phải khéo nhận ra cái mênh mông phi thời gian, nơi không có mầm mống của khổ đau, phiền lụy. Sự tồn tại của con người giữa thế gian này không khác gì hạt sương mong manh buổi sớm. Khi bình minh ló dạng, mặt trời vừa lên thì hạt sương liền tan biến. Thiền sư Vạn Hạnh từng nói:

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô

Nhậm vận thịnh suy vô bố úy

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

Thân như ánh chớp có rồi không

Cỏ xuân tươi tốt thu đượm nồng

Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi

Thịnh suy như cỏ giọt sương đông.

Khi biết bản thân và các pháp giữa thế gian này là hạt sương mong manh, tâm chúng ta sẽ tự tại trước mọi cảnh giới của lục trần.Trong Bát Nhã Tâm Kinh nói: “Khi Bồ tát Quán Tự Tạihành sâu Bát Nhã Ba La Mật Đa, Ngài soi thấy năm uẩn là không liền vượt qua tất cả mọi khổ nạn”. Nếu chúng ta thấy được thân này là không, là vô ngã bằng sự quán chiếu thâm nhập, chứng triệt thì mọi đau khổ đều được hóa giải. Ngay đó, chúng ta hưởng một niềm vui bất tận.

Nơi dòng thời gian liên tục này, có thể nói xuân thời gian trải dài, xuyên suốt. Trong mọi khoảnh khắc của đời sống đều có tâm xuân bất diệt.Quá khứ, hiện tại, vị lai là một khối xuân. Mùa xuân đó thể hiện ngay tại đây và bây giờ, trong mỗi sát na của thời gian. Nghĩa là, trong tất cả mọi lúc mọi nơi, chúng ta đều sống thản nhiên, bình lặng trước ngoại cảnh. Hình tượng Đức Phật Di Lặc với nụ cười tươi tắn nói lên sự an lạc nội tại, là tâm xuân bất diệt. Hiểu như vậy, chúng ta cần nỗ lực tu hành để hòa mình trong ánh sáng giác ngộ của chư Phật, chư Bồ tát. Kính chúc tất cả chúng ta an trú vững vàng trong đại dương chánh pháp, trưởng thành trong đạo lý, ở trong đời thường mà tìm ra lẽ sống đích thực để XUÂN THỜI GIAN thường được hiển hiện trong tâm thức của mỗi người.

Thiền Viện Trúc Lâm Viên Ngộ
Phan Rang - Ninh Thuận.
Xuân Tân Mão - 2011.

Người đánh máy và gửi bài: Tuệ Thiền


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/01/2014(Xem: 9695)
Cảm xúc cuối năm... Tuyết lưu luyến mùa Đông chưa rời bước, Cho cành Mai chớm nụ rước mùa Xuân, Để lòng tôi được xao xuyến , bâng khuâng, Cùng kỷ niệm những ngày Xuân quá khứ .
15/01/2014(Xem: 7182)
Không phải ngẫu nhiên mà người phương Tây có nhận xét: “Người Việt Nam coi trọng người chết hơn người sống”. Cứ nhìn vào những kỳ lễ lạt, cúng kính tất sẽ thấy được về mặt nào đó nhận xét trên không phải là không có lý do xác đáng. Tưởng nhớ đến người đã nằm xuống là nghĩ về nguồn cội,
14/01/2014(Xem: 20651)
Xuân đã về trên cánh Mai vàng Sắc Xuân tươi thắm đẹp Trần gian Trăm hoa đua nở càng lộng lẫy Nhân thế đón Xuân rộn tâm can
13/01/2014(Xem: 13277)
Hằng năm, cứ vào độ Xuân về Tết đến, tôi cố gắng viết một bài để đóng góp vào số Báo Xuân Viên Giác và Website chùa Viên Giác; Cũng là dịp để mong được gặp gỡ quý Độc giả, quý Văn Thi hữu trên Văn Đàn và xin gởi trao những lời Chúc Mừng Năm Mới thân thương nhứt.
13/01/2014(Xem: 9085)
Trong số những con ngựa nổi tiếng thời cổ đại, đầu tiên phải nhắc đến Ngựa Xích Thố thời Tam Quốc. Con ngựa này dài một trượng, cao tám thước, màu đỏ rực như lửa, tuyệt không có một sợi lông tạp, ngày đi ngàn dặm, trèo non vượt suối dễ dàng.
13/01/2014(Xem: 12896)
Hình tượng con ngựa hiện diện từ sớm trong văn hóa Đông-Tây, con ngựa là một trong những loài vật được con người thuần hóa và sử dụng trong đời sống hàng ngày và loài vật gắn liền với chiến tranh. Hình ảnh con ngựa còn là chủ đề cho các môn nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, thơ văn... Đối với văn hóa phương Tây, ngựa gắn liền với nhiều biểu tượng thần thoại và gắn liền với hình ảnh Nhân Mã trong 12 Cung Hoàng đạo.
13/01/2014(Xem: 8976)
Một cây cầu có thể đưa hết tất cả người, súc vật, hàng hóa đi qua trên đó. Đưa qua hết thảy, không kể sang hèn quí tiện. Cái chính là có đưa qua hết - tất cánh độ khứ - được hay không? Nếu không qua lọt, hoặc đi qua một cách khó khăn thì đích thị là cầu khỉ rồi. Hoặc đôi khi người qua rồi, bóng còn kẹt lại bên cầu.
13/01/2014(Xem: 12254)
Lời Ngỏ: Nhân dịp mừng Xuân Giáp Ngọ 2014, Trang Nhà Quảng Đức xin trân trọng giới thiệu kinh "Lâu đài của ngựa Kiền-trắc". Kanthaka (Kiền Trắc) là con ngựa quý ra đời tại hoàng cung của Vua Suddhodana (Tịnh Phạn) cùng một ngày với Thái tử Siddattha (Sĩ-đạt-ta). Kiền-trắc lớn lên và phục vụ nhà vua cho đến năm 29 tuỗi, nó cùng với người giữ ngựa Channa (Xa-nặc) đưa Thái tử lên đường xuất gia; sau đó ngựa đau buổn phát bệnh , từ trần và tái sanh lên cõi Trời. Câu chuyện này thuật lại cuộc gặp gỡ giữa Tôn giả Mục-kiền-liên và Thiên tử Kiền-trắc trên Thiên giới.
13/01/2014(Xem: 9166)
Phần này tóm tắt các chi tiết và bổ túc bài viết1 "Nguồn gốc Việt (Nam) của tên gọi 12 con giáp - Ngọ ngựa (phần 13)", do đó số thứ tự của bài viết này là 13A; những bài viết sau nữa về Ngọ ngựa sẽ có số thứ tự là 13B, 13C … để người đọc dễ tra cứu thêm.
13/01/2014(Xem: 9856)
Ngọ hay Ngũ 午 là chi thứ 7 trong thập nhị chi hay 12 con giáp. Biểu tượng của Ngọ là con ngựa dùng chỉ thời gian như giờ Ngọ từ 11 giờ sáng đến 1 giờ chiều (chính ngọ là đúng trưa, giữa trưa hay 12 giờ trưa), tháng 5 ... và xác định không gian như hướng Nam. Phần này không bàn về khái niệm thời không gian hay Ngũ Hành/kinh Dịch của Ngọ mà chỉ chú trọng vào các liên hệ ngữ âm của Ngọ và ngựa so với mã 馬 (tiếng Hán Việt/HV cũng chỉ con ngựa). Phần sau sẽ cho thấy mã là tiếng Hán có gốc Hán Tạng, khác hẳn với ngựa tiếng Việt - và liên hệ trực tiếp của Ngọ và ngựa cho thấy tên chi này có nguồn gốc Việt (Nam) chứ không phải Trung Quốc/TQ cũng như tên gọi của 11 con giáp còn lại ...