Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”.

14/01/202617:51(Xem: 1193)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”.
740 đứa trẻ Ba Lan-2

Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển
và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”.



Đó là năm 1942.
Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi.
Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng.
Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng.
“Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.”
Thức ăn cạn dần.
Thuốc men không còn.
Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
Maria, 12 tuổi, nắm chặt tay cậu em 6 tuổi. Em đã hứa với người mẹ hấp hối rằng sẽ bảo vệ em trai. Nhưng làm sao để bảo vệ một người khi cả thế giới đã quyết định rằng họ không đáng được sống?
Khi đó, tin tức đến được một cung điện nhỏ ở Nawanagar, Gujarat.
Người cai trị nơi ấy là Jam Sahib Digvijay Singhji. Một tiểu vương dưới sự thống trị của Đế quốc Anh. Không quân đội, không quyền lực thật sự với các cảng biển, không nghĩa vụ phải can thiệp.
Các cố vấn nói với ông:
“Có 740 đứa trẻ đang mắc kẹt trên biển sau khi người Anh từ chối cho họ cập bến.”
Digvijay Singhji bình tĩnh hỏi:
“Bao nhiêu đứa trẻ?”
“Bảy trăm bốn mươi, thưa Bệ hạ.”
Một khoảng lặng.
Rồi ông nói:
“Người Anh có thể kiểm soát các cảng của ta. Nhưng họ không kiểm soát được lương tâm của ta.
Những đứa trẻ đó sẽ cập bến tại Nawanagar.”
Họ cảnh báo:
“Nếu ngài chống lại người Anh thì…”
“Ta sẽ chịu.”
Và ông gửi thông điệp đã cứu 740 sinh mạng:
“Các con được chào đón ở đây.”
Tháng 8 năm 1942, con tàu tiến vào cảng dưới cái nắng mùa hè khắc nghiệt. Những đứa trẻ bước xuống như những cái bóng ,quá yếu để khóc, đã quen với đau khổ đến mức không còn dám hy vọng.
Vị Maharaja đứng chờ chúng trên bến cảng. Mặc áo trắng, ông quỳ xuống để ngang tầm mắt bọn trẻ và nói qua phiên dịch những lời mà chúng chưa từng được nghe kể từ ngày cha mẹ qua đời:
“Các con không còn là trẻ mồ côi nữa.
Các con là con của ta.
Ta là Bapu của các con ,là cha của các con.”
Ông không dựng một trại tị nạn tạm bợ.
Ông xây dựng một mái nhà.
Tại Balachadi, ông tạo nên một Ba Lan thu nhỏ trên đất Ấn Độ:
giáo viên người Ba Lan, món ăn gợi ký ức quê hương, bài hát tuổi thơ, lớp học, khu vườn, thậm chí một cây thông Noel dưới bầu trời nhiệt đới.
“Nỗi đau luôn cố xóa bỏ con người ta,” ông nói.
“Ngôn ngữ, văn hóa, truyền thống của các con là thiêng liêng. Chúng sẽ sống ở đây.”
Trong bốn năm, khi cả thế giới chìm trong chiến tranh, những đứa trẻ ấy sống không phải như người tị nạn ,mà như một gia đình.
Vị Maharaja đến thăm, nhớ tên từng đứa, tổ chức sinh nhật, và an ủi những bậc cha mẹ ở phương xa đã tuyệt vọng nghĩ rằng sẽ không bao giờ gặp lại con mình.
Ông chi trả bác sĩ, thức ăn, quần áo và mọi thứ cần thiết bằng chính tài sản của mình.
Khi chiến tranh kết thúc và đến lúc chia tay, rất nhiều người đã khóc. Balachadi là ngôi nhà duy nhất mà họ từng biết.
Ngày nay, những đứa trẻ ấy đã trở thành bác sĩ, giáo viên, cha mẹ, ông bà.
Tại Ba Lan, các quảng trường và trường học mang tên Jam Sahib Digvijay Singhji. Ông được trao huân chương cao quý nhất của đất nước.
Nhưng tượng đài thật sự của ông không làm bằng đá. Nó được tạo nên từ 740 cuộc đời.
Và những cuộc đời ấy vẫn kể cho con cháu mình câu chuyện về một vị vua Ấn Độ, người mà khi cả thế giới đóng sập cửa, đã nhìn vào nỗi đau và nói: “Từ nay, các con là con của ta.”

Tôn Vân Anh
Nguồn từ báo Ba Lan 



740 đứa trẻ Ba Lan-3
When 740 children died at sea and every country said "no," one man—who had reason to remain silent—said "yes."
The year was 1942.
The ship drifted in the Arabian Sea, like a floating coffin.
There were 740 Polish children on board. Orphans. Survivors of Soviet labor camps, where their parents had died of the flu or starvation. They had escaped through Iran, but a more terrible punishment awaited them.
No one would accept them.
The British Empire—the most powerful power of its time—refused entry to port after port along the Indian coast.
"It's not our responsibility. Sail away."
Almost finished with food. No medicine. Time was running out.
Twelve-year-old Maria held her six-year-old brother's hand. She had promised her dying mother to protect him. But how do you protect someone when the whole world turns on them?
And then news came to the small palace in Gujarat.
The ruler was Jam Sahib Digvijay Singhji, Maharaja of Navanagar. In the royal system, he was just a minor prince. The British controlled the ports, trade, and army. He had every reason to obey and remain silent.
When his advisors told him that 740 children were stranded at sea after the British refused to take them to any port in India, he asked one question:
"How many children are there?"
"Seven hundred and forty, Your Majesty."
He paused and calmly said:
"The British may control my ports. But they do not control my conscience. These children are docked at Navanagarh."
The advisors warned him:
"If you challenge the British—"
"So I will stop. "
He sent a message to the ship: You are welcome here.
When British officials protested, the Emperor remained firm.
"If the strong refuse to save the children," he said.
I, the weak, will do what you cannot.
In August 1942, the ship struggled to enter Navanagara harbor under the blazing summer sun.
The children walked like ghosts—exhausted, blank-eyed, many too weak to walk. They had learned to hope for good. Hope had turned dangerous.
The Maharaja was waiting for them on the dock.
Dressed simply in white, he knelt down to be at their eye level. Through interpreters, he spoke words they had not heard since their parents died.
"You are no longer orphans.
You are my children now.
I am your Bapu—your father."
Maria felt her brother's handshake. After months of rejection, these words seemed surreal.
But he was serious.
He didn't build a refugee camp.
He built a home.
In Balachadi, he created something amazing—a little Poland in India. Polish teachers who understand trauma. Polish food flavored with memory. Polish songs in an Indian garden. A Christmas tree under a tropical sky.
“Suffering tries to erase you,” he said. “But your language, culture, and traditions are sacred. Let's keep them here.” "
Children who were told they had no place in the world finally found a home.
They laughed again. They played again. They returned to school. Maria watched her brother chase a peacock in the palace garden, and her body remembered again what safety meant.
The Emperor used to visit them often. He remembered names. He celebrated birthdays. He watched high school plays. He comforted children crying for parents who would never return. He paid for doctors, teachers, clothing, and food—from his own wealth.
For four years, while the world was torn by war, 740 children lived not as refugees, but as a family.
When the war ended and it was time to leave, many wept. Balachadi became the only home they had ever truly known.
These children have grown and moved around the world—becoming doctors, teachers, engineers, parents, grandparents. And they have never forgotten.
Warsaw's Good Emperor Square appeared in Poland. Schools bear his name. He was awarded Poland's highest honor.
But the original monument wasn't made of stone.
It cost 740 lives.
Today, at 80 years old, they still gather. They tell their grandchildren about an Indian king who refused to turn compassion into political calculation.
In 1942, when kingdoms closed their doors, one man—without obligation and with every reason to remain silent—looked at the suffering and said:
"They are my children now."
And so the world changed—silently, forever, and irrevocably.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/09/2010(Xem: 8181)
Dù dòng thời gian đã xoá nhòa những hình ảnh quý gíá xa xưa, dù dấu chân của các Ngài đã rêu phong phủ kín. Nhưng những dấu chân ấy đã đi vào lịch sử nhân gian, dù tiếng nói các Ngài đã hòa vào không gian tĩnh lặng. Nhưng đâu đây vẫn còn vang vọng pháp âm của các Ngài, làm chấn động tâm tư huyết mạch của bao người con Phật. Trong quyển “Những Vị Phật ở Miền Tây Nam Việt Nam” này. Chúng tôi sưu tầm, nghiên cứu và ghi chép trung thực theo lời thuật của các vị Trưởng Lão uy tín; hay các vị trí thức trung hậu; hoặc trích trong các tài liệu giá tri được mọi người tin tưởng.
28/08/2010(Xem: 81828)
Quyển 6 • Buổi Pháp Thoại Trên Đỉnh Cao Linh Thứu (Gijjhakūṭa) • Ruộng Phước • Tuệ Phân Tích Của Tôn Giả Sāriputta • MÙA AN CƯ THỨ MƯỜI CHÍN (Năm 569 trước TL)- Mỹ Nhân Giá Mấy Xu? • Chuyện Cô Sirimā • Móc Cho Con Mắt Đẹp • Ngạ Quỷ Mình Trăn • Cùng Một Nguyên Lý • “Hớt” Phước Của Người Nghèo! • Ghi chú đặc biệt về hạ thứ 19: • MÙA AN CƯ THỨ HAI MƯƠI (Năm 568 trước TL)-Phước Cho Quả Hiện Tại • Bảy Thánh Sản • Chuyện Kể Về Cõi Trời • Hóa Độ Gia Đình Thợ Săn • Nhân Duyên Quá Khứ
28/08/2010(Xem: 5915)
Tết Mậu Thân 1968, một cái Tết mà Việt Cộng tràn về quá bất ngờ, tôi không thể tin rằng đó là sự thật. Mồng Một Tết vẫn ăn Tết sắm sửa bình thường. Nhà tôi ở lầu 2 trường Đồng Khánh vì tôi làm Giám Học tại trường này, bên hông là Tòa Hành Chánh và Lao xá Thừa Thiên - nơi giam giữ nhiều tù binh Việt Cộng. Cả ngày vẫn tấp nập bà con tới lui thắm viếng, chiều lại còn có con của các nhân viên trong trường đến thăm chuyện trò hàn huyên vui như ngày hội. Tối đến cả nhà còn bàn nhau nên đi ngủ sớm để ngày mai xuống phi trường đón gia đình người anh chồng về Huế ăn Tết.
28/08/2010(Xem: 78170)
Sau khi sinh hoạt của hội chúng đã tạm thời đi vào quy củ, nền nếp; đức Phật thấy thời tiết có nắng nhẹ, trời không lạnh lắm, thuận lợi cho việc du hành nên quyết định rời Gayāsīsa, đến kinh đô Rājagaha, đường xa chừng sáu do-tuần. Thấy đoàn sa-môn quá đông, khó khăn cho việc khất thực, đức Phật gợi ý với ba anh em Kassapa cho chúng đệ tử phân thành từng nhóm,
19/08/2010(Xem: 13377)
Tại Keelung, Đài Loan có một cửa hàng với cái tên là “Ngộ Duyên Hào”. Ông chủ Lâm vốn là một người rất tử tế, xung quanh khu vực ông sống có rất nhiều những cư dân đánh cá hay kiếm sống quanh đó.
04/08/2010(Xem: 6233)
Tác-giả Thiện Xuân Malkhanova là một con người thật đặc-biệt. Còn nhớ năm 2000 khi chị Trương Anh Thụy và tôi đi sang họp Đại-hội Văn-bút Thế-giới ở Mạc-tư-khoa, chúng tôi đã để ý đến chuyện đi đường, gặp con sâu róm ở dưới đất, chị đã ân cần lấy một cái lá nâng nó lên rồi đặt nó lên một cành cây gần đó. Một con người từ-bi đến với cả cỏ cây, đất đá! Chị bảo đó là điều chị đã học được từ đạo Phật.
04/08/2010(Xem: 5236)
Không biết từ lúc nào, mà ngôi tịnh thất vô danh thấp thoáng dưới tàn cây huỳnh đàn rậm lá trên đỉnh núi Ông cheo leo mây mù đong đưa bao phủ quanh năm, đã được dân quê dưới chân núi ưu ái gọi là am Mây Ngàn thay thế cho cái tên “chòi đạo Ân” mà họ hùa nhau ám chỉ túp lều lá của sư Từ Ân ngày trước. Thuở mới đăng sơn cắm dùi khẩn đất làm chốn ẩn tu, sư lủi thủi một mình chẳng có móng đệ tử lăng xăng đón đưa phục dịch, sư tự vác cuốc, quẩy gánh... lặng lẽ lên tận đỉnh, khai phá được một khoảnh đất nhỏ làm rẫy. Sư bắt đầu trồng các loại rau đậu, khoai, bắp, cà dưa... để sớm gặt hái hoa lợi,
20/07/2010(Xem: 15557)
Đạo Phật là đạo của từ bi và trí tuệ, tất cả mọi hành động bằng thân, lời và ý đều xuất phát từ hai tiêu chuẩn đó nhằm đem lại lợi lạc cho mình và tha nhân. Đây là những đức tính rất cơ bản để phát triển về Giới-Định-Tuệ mà một người muốn thăng tiến về mặt tâm linh thì cần phải quan tâm và thực hiện một cách triệt để.
17/07/2010(Xem: 6610)
Đêm qua con nghe bài pháp “Vượt qua oan gia trái chủ”của thầy Thích Tâm Đại, cảm thấy bàng hoàng, sửng sốt, mồ hôi ướt lạnh. Hóa ra, trong quá khứ, con đã tạo vô lượng tội, gieo vô lượng oán thù, oan gia trái chủ.
25/06/2010(Xem: 6295)
Vì không biết sự vận hành nội tại nên hầu hết mọi người trên thế gian không ai nhận ra chính mình và cũng không đồng ý với chính mình. Có người nương vào thể chất như thân thể cao lớn, mạnh khỏe, sắc diện đẹp đẻ, sáng sủa thù thắng …và cho đó là ta. Có vị lấy tri thức như bằng cấp học vị là mình như tiến sĩ, bác sĩ hay kỹ sư v.v. Có vị lấy danh vọng chức tước như tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng v.v.làm ta.