Ngồi buồn.

10/04/201312:47(Xem: 6798)
Ngồi buồn.


NGỒI BUỒN

DƯƠNG NHƯ TÂM

---o0o---

Ðó cũng là tựa đề bài thơ của Nguyễn Duy, người viết bài này sau nhiều năm tìm kiếm, chắp nhặt nay mơi lượm được toàn vẹn. Tuy không phải là người chuyên đọc và phê binh hoặc giới thiệu thơ, càng không phải là người yêu thơ văn, nhưng ý nghĩa bài thơ đã thật sự gieo vào tâm khảm người đọc về một ý niệm – giá trị tuyệt vời, tạo nên sức sống cho bài thơ mà việc làm, tìm tòi của tôi – như vừa nói – xuất phát cũng từ đó. Mãi cho đến gần đây, qua làn sóng Ðài Tiếng nói Việt Nam, qua giọng ngâm của Nghệ sĩ Trần Thị Tuyết, khiến cảm niệm ai hoài, nhân tiết hội Vu Lan thêm rạo rực. Và tôi nhận thấy không thể không giãi bày sự cảm niệm riêng tư ấy.

Nhà thơ Nguyễn Duy có lẽ đi từ ca dao được mẹ ru bên cánh võng thử ấu thơ, nêu trong tâm khảm đã bật ra bao nỗi lòng bằng chính lời ru, và đã được lấy tựa đề cho bài thơ “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương”. Bài thơ được bắt đầu bằng sự sâu lắng hết sức thiêng liêng, mênh mông gợi lên cho ta một khoảng không gian rộng lớn, làm lộ rõ nét cô đơn của đứa con mồ côi vừa mất mẹ:

Bần thận hương huệ thơm đêm

Khói nhang vẽ nẻo đường lên Niết bàn

Chân nhang lắm láp tro tàn

Xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào.

Tại sao lại phải là “khói nhang” mà không là ánh nến mới có thể “vẽ nẻo đường kên Niết bàn”? Giữa khói nhang và Niết bàn trong bài thơ đủ nói lên tập quán dân tộc với chân lý Phật giáo, dù Niết bàn với ý nghĩa Phật học không là điều đơn giản. Theo tinh thần Hoa Nghiêm thì Niết bàn không xảy ra trong thế giới khách quan mà chỉ xảy ra trong thế giới nhận thức. Bằng con mắt tục đế, chúng ta dễ dàng hiểu được Niết bàn trong thơ Nguyễn Duy, có nghĩa là một vị trí – địa danh xứng đáng đối với tấm lòng hiếu thảo của người con dành cho người mẹ, nên chúng ta chấp nhận được. Và có lẽ như biết được ý nghĩa trên nên Nguyễn Duy phải nói “vẽ nẻo đường lên Niết bàn”. Nhìn thấy “chân nhang lấp láp tro tàn” là một hình tượng tất yếu về một kiếp đời thọ nghiệp; nó còn nói lên cái bóng, công ơn lao nhọc cả cuộc đời của mẹ một cách cô đọng, thay vì tác giả phải kể lể bằng nhiều hình ảnh khác như “cánh cò lặn lội...”v.v...

Mẹ ta không có yếm đào

Nón mê thay nón quan thao đội đầu

Rối ren tay bí tay bầu

Váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu bốn mùa.


Từ trước đến nay, tuy tự nhận mình là một người ít khi tiếp xúc với thơ văn, nhưng tôi vẫn chưa thấy có moọt áng văn thơ nào ca ngợi – tả tỉ mỉ về một người mẹ giàu sang, chân tay cắt móng gọn gàng, mắt mũi đầy ắp silicon đặc sệt; chỉ là những bà mẹ nghèo, tần tảo, chai sần da sạm với đôi quang gánh đè nặng bờ vai lao nhọc. Ai đã từng thấy được dây bí, dây bầu, dây mướp leo với vô số tay quăng bám chặt và rẽ ngọn trăm hướng để giữ cho thân mình đủ sức mang nặng những đứa con - những trái đậu lủng lẳng, lúc nào, cũng ghì nặng thân dây... mới cảm nhận được câu thơ của Nguyễn Duy đến nao lòng, và thầm thán phục sự ví von tài tình – tuyệt vời của nhà thơ. Không phải của đất nước ta vốn có truyền thống văn minh nông nghiệp, mà khi nói về “nhuộm bùn”, tức là làm ruộng, cuốc đất, trồng cây; đó chỉ là một sự hiểu biết, hàm sức về tình mẹ phương Ðông, muốn tự mình nuôi dạy con cái, chịu đựng tất cả lao nhọc để cho con khôn lớn; không dựa dẫm vào bảo hiểm, nhà trẻ, cấp dưỡng hoặc phó mặc cho xã hội, nhà trường. Màu nâu còn là màu của đất, mà đất thì được tắm mát bởi nhân duyên của bốn mùa nhiết đới vốn hằng gian khổ. Người học Phật còn “đi sâu” vào lòng đất hơn bằng tư tưởng tuyệt vời của Tâm địa quán; nó sinh ra tất cả và nó ôm ấp tất cả (Chúng sinh chi tâm du như đại địa, ngũ cốc – ngũ quả tùng đại địa sanh). Kể cả cái tâm của tam giới cũng chỉ là 3 tên của đất (Dĩ thử nhân duyên tam giới, duy tâm tam danh chi địa). Phải chăng do các yếu tố chân lý đó nên chư Tổ truyền thừa xứ ta xưa kia đã khéo chọn màu nâu để hàng Tăng lữ mặc, ngầm nhắc nhở về một duyên sanh, một ứng dụng tùy cơ cho đạo Phật Việt Nam.

Cái cò – sung chát – đào chua

Câu ca mẹ hát gió đưa về trời

Ta đi trọn kiếp con người

Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru.

Những lời tiêu biểu trong các bài hát ru, còn là những kỷ niệm tuổi thơ, đưa vào trong miệng bắt đầu kể thứ gì đang nắm được trong tay, và còn mãi tiếc nuối, nên thay vì “cây cải về trời”, ta nghe như lời ru rất thiêng liêng phải được bay về trời, cao mãi, cao vút. Vì thế mà bàn chân ta dong ruổi với gói hành tràng mang theo đó là những lời mẹ ru; lỡ mai ta nằm xuống thì vẫn còn đó, còn hoài với đạo lý thế nhân: những lời ru.

Bao giờ cho đến mùa Thu

Trái hồng, trái bưởi đãnh đu giữa rằm.

Nhà thơ Nguyễn Duy chắc lúc tuổi thơ được thừa hưởng những kỷ niệm vui buồn dưới tàn cây trong vườn nhà, mùa nào thức ấy cho nên luôn nhìn được những quả trái trên cành mà mẹ dành chờ qua rằm cúng Phật, cúng tổ tiên hoặc đem bán đổi gạo. Riêng tôi, “những trái hồng, trái bưởi đánh đu giữa rằm” là kỷ niệm về một cách lễ nghĩa mẹ dạy “để cúng Phật – ông bà xong, mẹ cho ăn”, vì thế “đánh đu” của tôi có ngiax là thèm thuồng bởi những trái cây cúng Phật thường được mẹ chọn lựa trái to nhất, ngon nhất.

Bao giờ cho đến tháng Năm

Mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao

Ngân hà chảy ngược lên cao

Quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm

Bờ ao đom đóm chập chờn

Trong leo lẻo những vui buồn xa xôi.

Những ý thơ này chắc rằng ai ai cũng đều có được diễm phúc tận hưởng. Dưới ánh mắt và trí tưởng tượng của tuổi thơ, ta nhìn vạn vạt đều có thật một cách dễ dàng và gần gũi. Sao trên trời làm sao mà đếm được, nhưng tuổi thơ đếm được (một ông sao sáng, hai ông sáng sao...)dù đó chỉ là đường vòng tròn không kết thúc, để đưa ta vào... giấc ngủ! Ðể rồi các thế hệ nối tiếp nhau, thay nhau mà tiếp tục đếm; đếm hoài cho đến khi qua tuổi trưởng thành rồi nhường lại cho đàn con mà ta tiếp tục ngồi vào vị trí của người mẹ. Cho nên:

Mẹ ru cái lẽ ở đời

Sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn.

Dù trong nhận thức đã từng hiểu được giá trị đích thực của những chuẩn mực đạo đức cần thiết nơi mỗi con người, thế mà tôi vẫn phải giật mình khi đọc đến hai câu này! Quả thật, trong kho tàng hát ru của dân tộc, có câu nào mà không mang nặng một ý nghĩa nhân văn nào đó, kể cả những điều nhỏ nhất. Ở người mẹ Việt Nam sữa và hát có đủ đầy nuôi bao thế hệ khôn lớn, vỗ an bao nghĩa đậm tình sâu và đúc kết nên bản thiên trường ca tình mẹ bất tử. Ngày nay, có không ít em bé được lớn kên, được nuôi dưỡng từ sự ỷ lại và phó mặc; ru con bằng máy cassette mà trong đó vọng ra nào là giai điệu Pop – Rock – Disco và hiện nay là Rap, đẻ rồi các em này lơn kên khi bập bẹ đã thốt ra được nào là “Bai” – “Ok” – lớn lên chút nữa thì “Ta là Triển hộ vệ đây!”, “Ta là Ninza đây!”. Cho nên chính nhà thơ đã phải thốt lên, đầy nỗi lo lắng:

Bà ru mẹ, mẹ ru con

Liệu mai sau các con còn nhớ chăng?

Chỉ có những đứa con được lớn lên mang trong mình cả xác lẫn hồn mẹ cho dù có phieu bạt góc bể chân trời vẫn không quên được nơi nào quê mẹ và vị trí đặt nôi võng khi xưa ta nằm. Ấy vaayjmaf niềm thương trọn vẹn đó vẫn như da diết, ai hoài:

Nhìn về quê mẹ xa xăm

Lòng ta chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa.

Ðể rồi nhà thơ chọn cau ca dao để kết thúc bài thơ như trả về cho đạo lý dân tộc một gia tài nguyên vẹn; lại nữa như muốn gợi ý với thế nhân rằng: dù thơ cac có hay đến thế nào đi nữa cũng không bằng chính lời ru mộc mặc khi nao, xem như sự kết thúc cũng là sự bắt đầu. Với tôi, đó còn là lời nhắn nhr với những ai đã chóng quên cội nguồn, mà thiếu vắng nó không còn là một giá trị văn hóa – nhân bản của một dân tộc”

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa

Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương.

TRUYỆN NGẮN VỀ THỜI SINH HOẠT ÁO LAM


---o0o---
Vi tính: Nguyên Trang

Trình bày : Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/05/2016(Xem: 7668)
Festival Huế lần 9 đã chiêu đãi khách quý và bà con mình một bữa tiệc văn hóa, nghệ thuật, lịch sử, âm nhạc, ẩm thực, gồm: Lễ hội chính 13 chương trình; Hoạt động hưởng ứng 28 chương trình; Âm nhạc 27 chương trình; Nghệ thuật truyền thống 9 chương trình; Múa 9 chương trình; Triển lãm, trưng bày, sắp đặt 19 chương trình; Nghệ thuật 14 chương trình. Để thực hiện một Festival hoành tráng, kỳ công, đa dạng, đậm chất Huế như vậy, ai cũng biết là không hề đơn giản. Nó thấm đẫm trí tuệ, mồ hôi, tâm huyết của chủ (Bộ máy nhà nước và bà con Thừa Thiên Huế) và khách (các đoàn quốc tế và du khách).
05/05/2016(Xem: 8898)
Cậu bé vô gia cư thường xuyên gạt tiền cơm của chủ quán, cho đến khi hành vi đó bị con trai bà chủ phát giác ra. Câu chuyện về cậu bé ngày nào, 20 năm sau đó khiến nhiều người xúc động.
29/04/2016(Xem: 6452)
Hai đứa tôi hợp lại thật là đẹp đôi, ai cũng bảo thế. Tôi hăm tám, nàng hăm hai. Tôi cao thước bảy tám, nàng thước sáu, nếu thêm giày dép phụ trợ nàng cũng chẳng thể qua được vành tai tôi. Tôi lưng thẳng, vai rộng, mặt chữ điền, mày rậm, mũi cao, nếu không như Từ Hải cũng là một đấng nam nhi không đến nỗi bị các bà, các cô nhăn mày hỉnh mũi khi phải đối mặt, đối mày. Nàng thanh tao, cân đối với đầy đủ kích thước của một hoa khôi phối hợp với một gương mặt trong sáng như một vầng trăng, vầng trăng có những nét chấm phá tuyệt vời của đôi mày thanh tú không tỉa gọt, đôi mắt to dài sáng long lanh dưới hàng mi cong đen tuyền, chiếc mũi thẳng, và đôi môi, ôi đôi môi xinh đẹp ngọt ngào luôn mọng đỏ như trái chín đầu mùa, y như mấy ông văn sĩ vẫn thường hay diễn tả các giai nhân.
24/04/2016(Xem: 6922)
Đâu là những rủi ro khi kết hôn giả để tìm đường ở lại Úc? Chính phủ có những biện pháp nào để ngăn chặn vấn nạn này? Làm gì khi kết hôn giả nhưng lại bị đối tác xâm phạm tình dục hay bạo hành?
22/04/2016(Xem: 19769)
Jimmy Phạm thừa nhận anh từng cảm thấy xấu hổ với nguồn gốc Việt của mình, và luôn khẳng định mình là người Úc khi ai đó hỏi anh đến từ đâu. Nhưng giờ đây, mặc cảm ấy biến mất, nhường chỗ cho sự phát triển mạnh mẽ của doanh nghiệp xã hội Koto, nơi đổi thay cuộc đời hơn 1000 trẻ bụi đời Việt Nam.
18/04/2016(Xem: 8537)
Vị bác sĩ với đôi mắt thâm quầng lo lắng theo dõi tín hiệu sinh tồn của người đàn ông trên bàn mổ, đằng xa nữ y tá ngủ gục sau ca phẫu thuật ghép tim kéo dài 23 giờ. Gần 30 năm trôi qua, trái tim người thầy thuốc đã ngừng đập nhưng bệnh nhân được ông cứu sống vẫn còn sống. Không đơn thuần tái hiện nỗi vất vả của đội ngũ y tế, tác phẩm của nhiếp ảnh gia James Stansfield trên hết truyền tải mối liên kết đặc biệt giữa bác sĩ và người bệnh.
08/04/2016(Xem: 6663)
Tính từ đêm nhìn ngắm trời sao Paris qua khung cửa sổ Linh Sơn (*), hơn ba mươi năm đã qua còn nhanh hơn bóng câu qua cửa. Ánh trăng vằng vặc buổi ấy còn soi tỏ đến nay những ý nguyện phần nào được khơi dậy trong chuyến đi xa đầu tiên mà Linh Sơn là bước đầu bỡ ngỡ. Đi là mở rộng thêm được nhiều cánh cửa. Chuyến trở lại Pháp và mấy nước láng giềng lần này mới thật là chuyến rong chơi. Không chương trình và cũng chẳng vướng bận một dự tính nào cần phải hoàn tất.
07/04/2016(Xem: 6338)
Tôi có một ông bác họ, Bác Hương Thạch, thành viên Hội Đồng Hương Chính thời kỳ sau Hiệp Định Geneve năm 1954, tức là một Ủy Viên của Ủy Ban Hành Chánh Xã, lúc đó khoảng gần 60 tuổi mà tôi thì còn con nít mới 9 tuổi. Ông bác này có một chiếc nhà nhỏ bằng gỗ ván thùng cây để nuôi chim bồ-câu. Chiếc nhà gỗ nhỏ đó khoảng 50 cm x 50 cm x 40 cm có hai cửa tròn để chim bồ câu ra vào. Bác sơn chiếc nhà màu xanh da trời rất đẹp rồi đặt lên trên một cây trụ khá cao, có lẽ khoảng 5 đến 6 mét. Bác nuôi một cặp chim bồ câu gồm một trống và một mái.
03/04/2016(Xem: 5636)
Một đại văn hào người Pháp đã viết câu “Con người không bao giờ tắm hai lần trên một dòng sông“, nhưng Dòng sông Tịnh Độ của tôi không phải là “Dòng sông định mệnh“ của Quỳnh Dao, nên đã chan hòa đến lần thứ 11 tại chùa Linh Thứu rồi mà vị giải thoát vẫn ngời ngợi tỏa sáng. Vâng, khóa Huân Tu Tịnh Độ kỳ 11 từ ngày 14 đến 20 tháng 3 năm 2016 đã có khoảng 180 Phật Tử đa số từ phương xa và 20 Chư Tăng Ni đến tham dự. Đặc biệt vẫn là HT Phương Trượng chùa Viên Giác Thích Như Điển đến khai mạc và giảng Pháp, để phần hướng dẫn khóa tu cho Thầy Hạnh Giới một chuyên gia hay nói đúng hơn là một Hành Giả chỉ dẫn chúng ta con đường ngắn nhất và nhanh nhất đến gặp Đức Phật A Di Đà.
10/03/2016(Xem: 14564)
“This is SBS Radio The many voices of one Australia Broadcasting in Vietnamese Đây là SBS Radio Và sau đây là chương trình phát thanh Việt Ngữ”... Đó là nhạc hiệu mở đầu của Ban Việt Ngữ SBS Radio vào thập niên 1990 - mười lăm năm sau ngày đàn chim Việt tan tác lìa bỏ bầu trời quê hương. Mới đó mà đoàn lưu dân lê bước chân mục tử đã 40 năm rồi! Với hành trang tị nạn trên vai khi đến với SBS Radio, trong tôi vẫn còn đọng lại những thanh âm thảng thốt, kinh hoàng, van xin cầu khẩn của các thuyền nhân đồng hành khi gặp hải tặc Thái Lan, chuyến vượt biên bất thành đưa những con người sắp đến bờ tự do quay trở về quê cũ để rồi tất cả đều bị bắt vào tù, dù là trẻ con còn bồng ẳm trên tay. Đất nước tôi như thế đó, những con người còn lại trên quê hương sống vất vưởng đọa đày, những con người bỏ nước ra đi không nhìn được trời cao mà lại chìm mình dưới lòng biển lạnh